Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Cuộc Đời Của Pi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:01' 03-12-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:01' 03-12-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Cuộc đời của Pi
-Yann Martel-
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Mục Lục
Phần 1 : Toronto và Pondicherry
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Chương 32
Chương 33
Chương 34
Chương 35
Chương 36
Phần 2 : Thái Bình Dương
Chương 37
Chương 38
Chương 39
Chương 40
Chương 41
Chương 42
Chương 43
Chương 44
Chương 45
Chương 46
Chương 47
Chương 48
Chương 49
Chương 50
Chương 51
Chương 52
Chương 53
Chương 54
Chương 55
Chương 56
Chương 57
Chương 58
Chương 59
Chương 60
Chương 61
Chương 62
Chương 63
Chương 64
Chương 65
Chương 66
Chương 67
Chương 68
Chương 69
Chương 70
Chương 71
Chương 72
Chương 73
Chương 74
Chương 75
Chương 76
Chương 77
Chương 78
Chương 80
Chương 81
Chương 82
Chương 83
Chương 84
Chương 85
Chương 86
Chương 87
Chương 88
Chương 89
Chương 90
Chương 91
Chương 92
Chương 93
Chương 94
Phần 3 : Trạm xá Benôt Juarez, Tomatlan, Mexico
Chương 95
Chương 96
Chương 97
Chương 98
Chương 99
Chương 100
Phần 1 : Toronto và Pondicherry
Cuốn sách này được Yann Martel viết vào năm 1996 và được tặng giải thưởng Man Booker
2002. Ông sinh ra ở Tây Ba Nha nhưng hiện đang sống tại Motreal, Canada.
"Cuốn sách là một câu chuyện hiện thực sống động về sự sống sót giữa biển khơi. Một mặt
là chuyện thám hiểm, một minh chứng về việc hoàn cảnh cùng quẫn làm thay đổi con người
như thế nào. Mặt khác là sự suy ngẫm sâu xa về vai trò của tôn giáo trong đời sống, về bản chất
của động vật, thiên nhiên và con người. Ngôn ngữ của ông sống động và ấn tượng. Trí tưởng
tượng rộng lớn, khả năng thuyết phục gần như không giới hạn. Yann Martel sẽ trở thành một
trong những nhà văn Canada vĩ đại nhất" (The Hamilton Spectator).
Ghi Chú Của Tác Giả
Cuốn sách này ra đời khi tôi đói. Số là, mùa xuân năm 1996, cuốn thứ hai của tôi, một cuốn
tiểu thuyết ra mắt bạn đọc ở Canada. Nó chẳng đi đến đâu. Đám điểm sách lúng túng, hoặc kết
án tử hình nó bằng những lời khen nhạt nhẽo. Độc giả phớt lờ nó. Tôi giở hết các ngón nghề và
nhào lộn trong rạp xiếc truyền thông đại chúng, nhưng vẫn chẳng ăn thua gì. Cuốn sách không
nhúc nhích được tí nào. Sách xếp trên kệ trong cửa hàng như bọn trẻ đứng chờ để được chơi
bóng chày hoặc bóng đá, và cuốn sách của tôi là thằng nhóc oặt oẹo và không ai muốn lấy vào
đội của mình. Nó im lìm và nhanh chóng biến mất.
Thất bại ấy cũng không làm tôi nao núng nhiều lắm. Tôi lại bắt tay vào viết một cuốn khác,
một tiểu thuyết có khung cảnh tại Bồ Đào Nha thời 1939. Chỉ có điều, trong bụng cứ bứt rứt
không yên. Vả lại vẫn còn ít tiền.
Thế là tôi đi Bombay. Việc đó cũng không phi lí lắm nếu độc giả hiểu được ba điều: thứ nhất
bất cứ sinh linh nào nếu muốn hết bồn chồn thì cứ đến ấn Độ và làm một việc gì đó trong một
thời gian nhất định, thứ hai: ở đó có thể sống dài dài với một món tiền ít ỏi; và thứ ba là một
tiếu thuyết có khung cảnh Bồ Đào Nha thời 1939 chưa chắc đã phải dính dáng gì đên Bồ Đào
Nha thời 1939.
Trước đó tôi đã từng ở ấn Độ, miền Bắc, năm tháng trời. Tôi hoàn toàn không có chuẩn bị gì
cho chuyến đi đầu tiên ấy đến tiểu lục địa. Thực ra, tôi được chuẩn bị có một chữ thôi. Khi tôi
hàn huyên về các dự định cho chuyến đi với một người bạn biết nhiều về xứ sở ấy, anh ta
thủng thẳng nói, “ở ấn Độ người ta nói một thứ tiếng Anh quấy lắm. Họ thích những từ chẳng
hạn như là bamboozle. “Tôi nhớ đến câu nói ấy của anh ta khi máy bay bắt đầu giảm độ cao để
hạ cánh xuống Dehli, và từ bamboozle trở thành sự chuẩn bị duy nhất của tôi cho cái thể giới
điên rồ, ầm ĩ, muôn mặt nhưng vần đâu ra đấy của ấn Độ. Tôi đã có dịp dùngđến cái từ ấy, và
nói thực tình, nói cũngđắc lực. Tôi bảo một thấy ký ga xe lửa: “Chẳng nhẽ giá vé đắt đến thế kia
à. Thầy không định bamboozle tôi đấy chứ? Thầy ký mỉm cười, nói như hát, “Không đâu thưa
ngài! Không có bam-bu-zư bam-bu-ziếc gì ở đây cả. Chúng tôi nói đúng giá vé đấy ạ.”
Lần thứ hai đi ấn Độ, tôi biết điều hơn về những gì có thể xảy ra và biết mình muốn gì: tôi sẽ
yên vị ở một đồn điền trung du và viết cuốn tiểu thuyết của mình. Tôi mường tượng rõ ràng
mình đang ngồi ở bàn trong một hàng hiên rộng, giấy tờ ghi chép ngổn ngang, bên cạnh một
tách trà nghi ngút. Những triền đồi xanh mướt dày đặc sương mù trải dài dưới chân, và tiếng
kêu lảnh lót của các bầy khỉ sẽ lấp đầy màng nhĩ tôi. Khí hậu sẽ vừa vặn làm sao, chỉ cần một áo
len mỏng nhẹ vào buổi sớm mai và chiều tà, còn cả ngày có thể mặc một cái gì đó ngắn tay. Và
trong cảnh đó, bút trong tay, vì một chân lý lớn lao hơn, tôi sẽ biến Bồ Đào Nha thành một tác
phẩm hư cấu. Tiểu thuyết là như vậy, là việc biến đổi hiện thực một cách có chọn lọc, đúng
không nào? Là việc vặn vẹo hiện thực để vắt lấy cái cốt lõi của nó, đúng không nào? Vậy nên tôi
có cần gì phải đi Bổ Đào Nha đúng chưa nào?
Bà chủ đồn điền sẽ kể tôi nghe những câu chuyện về cuộc đấu tranh đánh đuổi người Anh.
Chúng tôi sẽ chọn món cho bữa trưa và bữa tối ngày hôm sau của tôi. Sau mỗi ngày viết, tôi sẽ
đi dạo trên các đồi chè thoải dài lên xuống của đồn điền.
Chẳng may cho tôi, cuốn tiểu thuyết ấy cứ ngắc nga ngắc ngứ, ho lên ho xuống, rồi chết hẳn.
Lúc đó tôi đang ở Matheran, không xa Bombay là mấy, một trang trại ở trung du, cũng có vài
chú khỉ nhưng không có vườn chè nào. Đối với các văn sĩ chưa thành danh, tình cảnh ấy thật sự
khốn khổ. Bạn có chủ đề tốt, câu chữ cũng chẳng kém gì. Các nhân vật bạn dựng lên thật sống
động đến mức muốn đi xin giấy khai sinh cho chúng. Diễn biến tình tiết của câu chuyện bạn đã
vạch ra hết cả, thật lớn lao, giản dị, và hấp dẫn. Bạn đã nghiên cứu hẳn hòi đâu ra đấy, thu thập
đủ cả các dữ liệu lịch sử, xã hội, khí hậu, ẩm thực, những thứ sẽ khiến cho câu chuyện có giá trị
đích thực. Những đoạn đối thoại cứ nối nhau thật tự nhiên, lấp lánh, căng thẳng. Những đoạn
miêu tả bùng lên đầy màu sắc, tương phản và các chi tiết sắc sảo đầy ý nghĩa. Thực sự là câu
chuyện viết ra như vậy chỉ có thể hay mà thôi. Thế mà tất cả những cái đó chẳng hợp thành
một cái gì cả. Mặc cho những hứa hẹn sáng lạn và hiển nhiên của câu chuyện, sẽ đến lúc bạn
chợt nhận ra những lời thì thầm vẫn luôn thôi thúc bạn viết nó ra bấy lâu nay lại rót vào tai bạn
một sự thật rõ ràng và khủng khiếp, rằng câu chuyện hỏng rồi. Nó thiếu một thứ, cái tia lửa có
khả năng thổi sự sống vào một câu chuyện, bất kể là các dữ liệu lịch sự hoặc ẩm thực của bạn
đúng hay là sai. Câu chuyện của bạn thế là chết hẳn về mặt tình cảm rồi, đó là mấu chốt của vấn
đề. Nhận ra sự thật này cũng giống như bị rơi vào một thảm hoạ tàn hại linh hồn, tôi phải nói
với bạn như vậy. Khi tỉnh lại, mình phải sống với cảm giác luôn luôn bị đó, đến thắt ruột thắt
gan.
Từ Matheran, tôi nhét hết các giấy tờ bản thảo của cuốn tiểu thuyết không thành ấy vào
phong bì. Tôi gửi chúng đến một địa chỉ hư cấu ở Siberia, với một địa chỉ người gửi cũng hư
cấu và quẳng cái phong bì vào thùng chọn thư, tôi ngồi phịch xuống ngay đó, chán nản hết sức.
“Sẽ ra sao đây hở Tolstoy?”, tôi tự hỏi, “Mày còn có ý tưởng hay ho nào khác cho cuộc đời của
mày không?”
Gì thì gì, vẫn còn một ít tiền và vẫn cảm thấy bứt rứt không yên, tôi đứng dậy, bước ra khỏi
nhà bưu điện và quyết định đi thám hiểm miền Nam ấn Độ.
Với những người hỏi tôi làm nghề gì, tôi đã muốn trả lời: “Tôi là đốc-tờ”. Trong tâm trí tôi
lúc ấy, bác sĩ là những người phân phát pháp thuật và phép lạ. Nhưng tôi lại tin rằng chỉ qua
khỏi chỗ quành trước mặt kia là chiếc xe buýt sẽ gặp tai nạn, và rồi giữa tiếng kêu la rên rỉ của
nạn nhân và các cặp mắt sẽ dán chặt vào tôi kêu cứu, tôi sẽ lại phải giải thích rằng danh vị đốc
tờ của tôi không phải là bác sĩ y khoa mà là tiến sĩ luật; thế rồi, khi họ xúm vào đề nghị tôi giúp
họ kiện chính phủ về vụ tai nạn, tôi sẽ lại phải phân trần rằng bằng cấp của tôi thực sự chỉ là cử
nhân triết học mà thôi; tiếp đó, họ sẽ gào thét đòi biết cái tai nạn đẫm máu ấy thực sự có ý
nghĩa gì không, và tôi sẽ phải thú nhận rằng tôi chưa hề đọc đến Kierkegaard; vân vân và vân
vân. Thế là tôi đành thui thủi với danh phận nhà văn, một sự thật tím bầm và tủi hổ.
Trên đường, chỗ này chỗ kia, cũng có người đối đáp lại cái danh phận nhà văn ấy. Họ bảo:
“Một nhà văn ư? Thật chứ? Tôi có một câu chuyện cho ông đây.” Hầu hết những câu chuyện đó
chỉ nhỉnh hơn những mẩu giai thoại chút xíu, đều hụt hơi, thiếu sức sống.
Tôi đến thị trấn Pondicherry, một khu tự trị nhỏ xíu trong Liên hiệp Anh về phía nam
Madras, ngay trên bờ biển Tamil Nadu. Về dân số và diện tích, Pondicherry là một phần đất
không có nghĩa lí gì của ấn Độ (so về diện tích thì đảo Price Edward là một lãnh thổ khổng lồ
của Canada), nhưng lịch sử đã khiến cho nó nổi bật. Bởi lẽ Pondicherry đã từng là thủ phủ của
lãnh thổ ấn Độ thuộc Pháp, cho dù lãnh thổ này chỉ là một bộ phận khiêm tốn nhất trong các
vương quốc thuộc địa ngày xưa. Người Pháp chắc hẳn đã rất muốn cạnh tranh với người Anh,
muốn lắm, nhưng cái lãnh thổ mà họ trầy trật mãi mới chiếm lĩnh được chỉ bao gồm một nhúm
các hải cảng nho nhỏ. Họ bám vào những hai cảng này trong gần ba trăm năm. Họ rời
Pondicherry năm 1954, bỏ lại đó những toà nhà trắng xinh xắn, những đường phố rộng chạy
vuông góc với nhau, những tên phố như rue de la Marinne, và Saint Louis, và danh từ kepis, chỉ
loại mũ lưỡi trai của cảnh sát.
Tôi ngồi trong quán cà phê có tên Indian Coffee House, phố Nehru. Một gian phòng rộng,
tường màu xanh lá cây, trần cao. Quạt trần chạy vù vù trên đầu để lưu thông bầu không khí ẩm
ướt. Quán kê chật hết chỗ các bàn hình vuông giống hệt nhau, mỗi bàn bốn ghế. Bạn ngồi được
chỗ nào thì ngồi, chung bàn với người nào thì chịu người ấy. Cà phê thì ngon, lại có bán cả bánh
mì nướng giòn. Rất dễ bắt chuyện. Và thế là, một ông già quắc thước mắt sáng với những lọn
tóc trắng phau đang nói chuyện với tôi. Tôi khẳng định với ông ta rằng Canada đúng là lạnh,
rằng có những vùng đúng là nói tiếng Pháp, và rằng tôi đúng là thích ấn Độ, vân vân và vân vân
- một thứ trò chuyện nhẹ nhàng thường thấy giữa những người bản xứ tò mò hiếu khách với
dân “balô” ngoại quốc. Nghe tôi nói là nhà văn, ông già tròn mắt, gật đầu. Đến lúc phải đi rồi.
Tôi giơ tay, cố vẫy ra hiệu cho người hầu bàn đem hóa đơn ra tính tiền.
Rồi ông già bảo: “Tôi có một câu chuyện sẽ khiến anh tin vào Thượng đế.”
Tôi không vẫy tay nữa. Nhưng vẫn nghi ngại. Biết đâu lại là dòng Thánh Chứng(1) đang gõ
cửa? Tôi hỏi: “Chuyện của cụ xảy ra hai nghìn năm trước ở một nơi hẻo lánh trong Vương quốc
La Mã phải không ạ?”
“Không."
“Biết đâu ông lão lại là người rao giảng đạo Hồi. “Thế có xảy ra tại Arập vào thế kỷ thứ VII
không ạ?”
“Không, không. Câu chuyện bắt đầu ngay ở Pondicherry này mới vài năm trước đây, và kết
thúc, tôi xin nói để ông hay, ở ngay chính quê hương của ông.”
“Và nó sẽ khiến cho tôi tin vào Thượng đế?”
“Đúng như vậy.”
“Thế thì cao cấp quá.”
”Không cao đến nỗi ông không với tới được.”
Người hầu bàn đã đến. Tôi do dự một giây, rồi gọi tiếp hai tách cà phê. Chúng tôi bắt đầu tự
giới thiệu làm quen nhau. Tên ông lão là Francis Adirubasamy. Tôi nói. “Nào, cụ làm ơn kể câu
chuyện đó đi.”
“Anh phải thật chú ý nghe mới được,” ông lão trả lời.
“Vâng.” Tôi lấy bút và sổ ghi chép.
“Vậy, anh đã đến thăm vườn bách thảo ở đây chưa?” Ông lão hỏi.
“Tôi vừa mới tới đó hôm qua.”
“Anh có thấy cái đường tầu hỏa giải trí ở đó không?”
“Dạ có.”
“Hiện vẫn còn một tàu chạy vào ngày Chủ nhật cho trẻ con đi chơi. Nhưng trước đây ngày
nào cũng có tàu chạy, mỗi giờ hai chuyến. Anh có để ý tên gọi của các trạm đỗ tàu không?”
“Có một trạm gọi là Roseville. Ngay cạnh chỗ vườn hồng.”
“Đúng rồi. Thế còn trạm kia.”
“Tôi không nhớ.”
“Họ bỏ cái biển tên đi rồi. Trạm đỗ kia ngày trước gọi là Zootown. Đường tầu ấy có hai trạm
đỗ: Roseville và Zootown. Ngày xưa có một vườn thú trong khu vườn bách thảo Pondicherry.”
Ông lão kể. Tôi ghi chép các yếu tố của câu chuyện. “Anh phải nói chuyện với cậu ấy,” ông
lão bảo tôi, về nhân vật chính. “Tôi biết cậu ấy. Bây giờ đã là người lớn rồi. Anh phải hỏi chuyện
cậu ấy, với tất cả các thắc mắc của anh.”
Sau đó, ở Toronto, trong số chín cột liệt kê các chủ hộ mang họ Patel trong danh bạ điện
thoại, tôi đã tìm ra người ấy, nhân vật chính của câu chuyện. Tim tôi đập thình thịch khi quay
số phone của anh ta. Giọng trả lời rất Canada, nhưng vẫn nghe được âm sắc ấn Độ, nhẹ thôi
nhưng không thể lẫn vào đâu được, như một thoáng hương nhang trong không khí. “Chuyện đã
lâu lắm rồi,” anh nói. Nhưng rồi anh vẫn đồng ý gặp. Chúng tôi đã gặp nhau nhiều lần. Anh cho
tôi xem cuốn nhật ký anh viết trong thời gian xảy ra các sự kiện của câu chuyện. Anh cho tôi
xem cả những mẩu tin, bài cắt trên báo đã có lúc khiến anh nổi tiếng, cho dù ngắn ngủi và mờ
nhạt. Anh kể câu chuyện của mình cho tôi nghe. Còn tôi thì ghi chép. Gần một năm sau, khó
khăn mãi tôi mới nhận đựơc một cuốn băng ghi âm và một bản tường trình của Bộ Giao thông
vận tải Nhật Bản. Chính khi lắng nghe cuốn băng ghi âm đó tôi thấy đồng ý với ông lão
Adirubasamy rằng quả thực đây là câu chuyện sẽ khiến cho bạn đọc phải tin vào Thượng đế.
Lẽ tự nhiên là câu chuyện của ông Patel phải được kể lại chủ yếu là theo ngôi thứ nhất - tức
là bằng chính lời kể của ông và theo con mắt nhìn nhận của ông. Còn mọi thứ sai lệch hoặc
nhầm lẫn sẽ hoàn toàn là lỗi ở tôi.
Tôi phải mang ơn nhiều người trong việc này. Rõ ràng là tôi phải cảm ơn ông Patel đầu tiên.
Lòng biết ơn của tôi đối với ông mênh mang như Thái Bình Dương và tôi hy vọng rằng việc tôi
kể lại câu chuyện của ông sẽ không làm ông thất vọng. Tôi cũng cảm ơn cụ Adirubasamy đã dắt
tôi và câu chuyện này. Còn để giúp cho tôi hoàn thành được câu chuyện, tôi phải cảm ơn ba vị
quan chức có phẩm chất chuyên nghiệp mẫu mực. Đó là các ông Kazuhiko Oda, từng làm đại sứ
quán Nhật ở Ottawa; ông Hiroshi Watanabe của công ty tầu biển Oika; và đặc biệt là ông
Tomohiro Okamoto, thuộc Bộ giao thông vận tải Nhật Bản, giờ đã nghỉ hưu. Còn về cái tia lửa
thổi được sự sống vào cuốn tiểu thuyết, tôi xin mắc nợ ông Moacyr Scliar(2). Cuối cùng, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn chân thành của tôi đến với cơ quan vĩ đại, tức là Hội đồng bảo trợ nghệ
thuật Canada, vì nếu không thể chắp nối được câu chuyện này, vốn chẳng dính dáng gì đến Bồ
Đào Nha thời 1939. Nếu chúng ta, những công dân, không hỗ trợ các nghệ sỹ, thì chúng ta sẽ
giết trí tưởng tượng của mình làm vật hiến tế cho hiện thực thô thiển để rồi chỉ biết qua ngày
đoạn tháng, không biết tin vào cái gì, với rặt nhưng giấc mơ vô giá trị.
---------------------------------------------------------Ghi chú:
(1) Thánh chứng: Tạm dịch chữ Jehova's Witness, tên một dòng đạo Thiên Chúa, chuyên
tâm phổ biến tín ngưỡng này dựa trên các câu chuyện chứng minh sự hiện hữu có chứng kiến
của Chúa Jesus. (ND)
(2) Nhà văn Brazin đương đại, sống và làm việc ờ Porto Alegre, thủ phủ tiểu bang Rio
Grande do Sul, miền nam Brazil. Đã xuất bản hơn năm mươi tác phẩm, trong đó có những tiểu
thuyết nồi tiếng như Đội quân một người, Con Nhân ngưu trong vườn nhà, Bài ca của Đấng Cứu
thế giả hiệu, Vũ hội của các loài thú vật… Xuất thân trong một dòng họ Do Thái – Nga di cư
sang Brazil từ cuối thế kỷ trước, từ những năm 1960, ông vừa hành nghề bác sĩ vừa viết tiểu
thuyết và là đại biểu xuất sắc của dòng văn học Do Thái – Brazil hiện nay. (ND)
Chương 1
Đau khổ đã biến tôi thành một kẻ u buồn.
Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín ngưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống
trở lại. Tôi vẫn duy trì cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kì lạ. Tôi học
chương trình phổ thông trung học trong một năm, rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai
ngành chính trong chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học. Luận văn
nam thứ tư về tôn giáo của tôi đề cập đến một số phương diện của lí thuyết vũ trụ tiến hoá của
Issac Luria, một tín đồ Kabbalist (1) vĩ đại hồi thế kỉ 16 ở Safed. Luận văn động vật học của tôi
là một nghiên cứu phân tích chức năng tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài cu li
bởi tính cách khiêm nhường của nó - bình thản, im lặng và hướng nội - hình như đã có tác dụng
an ủi phần nào mảnh hồn tan nát của tôi.
Có loài cu li hai móng và có loài culi ba móng , phân biệt theo chân trước của chúng, vì chân
sau của tất cả culi đều có ba móng. Tôu có một may mắn lớn là được nghiên cứu loài culi ba
móng ngay tại môi sinh tự nhiên của chúng ở rừng rậm nhiệt đới Brazil trong một kì hè. Con
vật này quả thật là một sinh linh kì bí. Thói quen thật sự duy nhất của nó là thói vô vi. Nó ngủ
hoặc nghĩ ngơi trung bình hai mươi tiếng một ngày. Độ nghiên cứu của chúng tôi đã thí
nghiệm theo dõi nếp ngủ của năm con culi ba móng bằng cách đặt lên đầu chúng, sau khi
chúng đã thiếp đi vào lúc chiều tà, những cái đĩa nhựa màu đỏ tươi đựng đầy nước. Đến sáng
hôm sau, những cái đĩa này vẫn y nguyên, đầy nước và đầy các loại côn trùng vùng vẫy trong
đó. Con culi chỉ bận rộn vào lúc mặt trời đang lặn, với nghiã thoải mái nhất của từ bận rộn. Nó
bò dọc cành cây trong tư thế lộn ngược điển hình với tốc độ khoảng bốn trăm mét một giờ.
Dưới mặt đất, nó bò từ cây này sang cây kia với tốc độ hai trăm hai mươi mét một giờ nếu có lý
do chính đáng, bốn trăm bốn muơi lần chậm hơn tốc độ duy chuyển có lí do của loài báo
cheetah. Còn nếu ko có lí do gì, mỗi giờ chúng chỉ di chuyển được khoảng bốn đến năm mét.
Con culi ba móng không biết gì mấy đến thế giới chung quanh nó. Có thang điểm từ hai đến
mười, hai là mức độ lờ mờ bất thường và mười là mức linh hoạt cực điểm, tác giả Beebe
(1926) đã đánh giá giác quan của lưỡi, da, mắt và tai của loài culi ở mức hai, còn mũi thì ỡ mức
ba. Nếu ta gặp một con culi đang ngủ trong rừng, ta chọc hoặc lay nó hai ba cái, nó sẽ tỉnh dậy,
và cặp mắt ngái ngủ của nó sẽ nhìn quanh, nhưng không thèm nhìn về phía ta. Không biết tại
sao nó lại có thói quen nhìn quanh như thế, vì thực ra con culi nhìn cái gì thì cũng như một vệt
nhoè nhoẹt mà thôi. Về nghe loài culi cũng ko đến nỗi điếc lắm, mà thực ra là không thích nghe.
Tác giả Beebe có viết rằng culi đang ngủ hoặc đang ăn mà ta có gí súng bắn ngay bên cạnh thì
nó cũng chỉ hơi nhúc nhích mà thôi. Và ta cũng ko nên đánh giá quá mức cái khả năng ngửi
được cho điểm khá hơn của culi. Người ta tin chúng có khả năng đánh hơi thấy và tránh các cây
mục, nhưng tác giả Bullock (1968) lại tường trình rằng ông "thường xuyên" thấy các con culi
ngã xuống đất vẫn bám chặt lấy đoạn cành mục mà nó đã bò lên.
Ta có thể hỏi vậy làm sao mà chúng sống được.
Chình là nhờ sự chạm chạp như vậy. Tính cách ngủ mê ngủ mệt của culi đã giữ cho chúng
không bị xa vào vòng nguy hiểm, không rơi vào tầm ngắm của hổ báo, cầy cáo, diều quạ. Lông
culi là nơi cư trú của một loại tảo có màu nâu trong mùa khô và màu xanh lá cây trong mùa
mưa, giúp cho nó lẫn lộn vào rêu lá xung quanh, trông như một tổ kiến hoặc tổ sóc, hoặc chỉ
như một phần sần sùi của một cái cây.
Con culi ba móng sống cuộc đời chay tịnh, yên bình trong sự hài hoà hoàn hảo với môi
trường . "Với một nụ cười tốt lành thường trực trên môi", tác giả Tirler (1966) đã viết như vậy.
Tôi đã tận mất thấy nụ cười ấy. Tôi ko có tính thích gán cho loài vật những tính cách và tình
cảm của con người, nhưng đã biết bao lần trong tháng hè đó tại Brazil, khi ngước nhìn những
con culi đang trong tư thế nghỉ ngơi, tôi cảm thấy như mình đứng truớc những đạo sĩ yoga ở tư
thế lộn ngược đang chìm sâu trong suy tưởng, hoặc những ẩn sĩ đang nguyện cầu khẩn thiết,
những đấng hiền triết có cuộc sống bay bổng đầy những tưởng tượng hào sảng mà trí lực dò
dẫm kiểu khoa học của tôi không thể nào vươn tới được.
Đôi khi tôi bị lẫn lộn hai ngành học của mình. Một số bạn học với tôi trong môn nghiên cứu
tôn giáo - những kẻ theo thuyết bất khả tri, không phân biệt được đâu là trên đâu là dưới, luôn
ghê tởm lý lẽ vốn là vàng ròng của những người thông sáng - khiến tôi liên tưởng đến loài culi
ba móng; còn con culi ba móng, tiêu bản đẹp đẽ của phép lạ cuộc sống, thì lại khiến tôi nghĩ tới
Thương Đế.
Không bao giờ tôi gặp rắc rối với các dồng nghiệp khoa học. Các khoa học gia là một đám
người thân thiện, vô thần, chăm chỉ, thích rượu bia vá luc không bận bịu với khoa học thì họ
chỉ quan tâm đến tình dục, cờ vua và bóng chày.
Tôi là một sinh viên oách, tôi có thể nói vậy. Tại đại học Thánh Michael, tôi đứng đầu bảng
bốn năm liền. Tôi dành được tất cả các phần thưởng cho sinh viên của khoa Động vật học. Nếu
như tôi không giành được phần thưởng nào của khoa nghiên cứu tôn giáo thì chỉ đơn giản là
khoa này chẳng có một phần thưởng nào dành cho sinh viên ( Chúng ta đều biết rằng các phần
thưởng cho việc nghiên cứu tín ngưỡng ko nằm trong tay đám phàm phu tục tử như chúng ta
:D) Cón tấm Huân chương Học Thuật cua ngài Tổng đốc, phần thưởng cao quí nhất của Đại học
Toronto cho sinh viên phần lớn chỉ dành cho các công dân Canada xuất sắc; nếu ko vì cái thằng
cu ấy, da trắng hồng, an thịt bò, cổ to như gốc cây, hơn hớn ầm ĩ rất khó chịu, thì tôi đã dành
được nó rồi.
Tôi vẫn còn thấy đau khổ vì những chuyện nhỏ nhặt. Khi người ta đã chịu nhiều đau đớn ở
đời, mỗi một nỗi đau mới sẽ vừa nặng trĩu mà cũng lại chẳng là gì....
Cuộc đời tôi cũng giống như một bức tranh mementomori (2) troong nghệ thuật Châu Âu:
lúc nào cũng có một chiếc đầu lâu nhe răng cuời bên cạnh để nhắc nhở tôi về những phù du của
ham muốn nhân sinh. Tôi giễu cợt chiếc đầu lâu. Tôi nhìn nó và bảo: " Mày chọn nhầm đối
tượng rồi. Mày có quyền ko tin vào cuộc đời, nhưng tao lại ko tin vào sự chết. Đi chỗ khác!".
Chiếc đầu lâu nhúc nhắc rồi nhích lại gần hơn nhưng tôi chẳng ngạc nhiên. Lí do sự chết cứ
bám riết lấy sự sống như vậy ko phải là vì nhu cầu sinh học - đó là sự ghen tị. Sự sống đẹp đến
nỗi sự chết đã phải lòng nó, một mối tình tư vị đầy ghen tuông quắp chặt lấy bất cứ thứ gì nó
có thể động đến. Nhưng sự sống nhẹ nhàng bỏ qua, mất mát vài thứ chẳng gì đáng kể, và nỗi u
buồn chỉ như một bóng mây bay. Thằng cu trắng hồng lại được thưởng cả học bổng Rhodes.
Tôi yêu hắn và mong cho hắn học được thật nhiều thứ tại Oxford. Nếu như Lakshmi, nữ thần
tài sản, có ngày nào đó ban phát cho tôi ân sủng của người thì Oxford sẽ đứng thứ năm trong
danh sách các thành phố tôi muốn viếng thăm trước khi quá vãng, sau Mecca, Varanasi,
Jerusalem và Paris.
Cuộc đời đi làm của tôi chẳng có gì đáng nói, chỉ trừ một nhận xét rằng cà-vạt là một cái
thòng lọng, và mặc dù lộn ngược, nó sẽ treo cổ nguời ta đến chết nếu ko thận trọng.
Tôi yêu Canada. Tôi nhớ cái nóng của ấn Độ, nhớ các món ăn, bọn thằn lằn bò trên tường
nhà, phim kịch hát trên truyền hình, lũ bò đủng đỉnh ngoài phố, lũ quạ kêu quàng quạc, nhớ
đến cả những cuộc bàn tán về các trận đấu cricket (3), nhưng tôi yêu Canada. Một xứ sở vĩ đại
tuy có hơi quá lạnh đối với người lành mạnh, nơi cư ngụ của những con người thông minh
hăng hái, nhưng đầu tóc để ko được đẹp. Dù sao Pondicherry chẳng còn có cái gì để tôi muốn
quay về.
Richard Parker vẫn ỡ bên tôi. Chưa khi nào tôi quên được nó. Có dám nói tôi nhớ nó hay ko
ư? Có đấy. Tôi có nhớ nó. Vẫn thấy nó trong các giấc mơ. Phần lớn là ác mộng nhưng là ác mông
nhuốm màu tình yêu. Lòng nguời thật lạ. Tôi vẫn ko thễ hiểu nổi tại sao nó có thể bỏ tôi đi một
cách dửng dưng như thế, không một cử chỉ chia tay nào, ko hề ngoái lại lấy một lần. Nỗi đau
như thể ai cầm rìu mà bổ vào tận tim vậy.
Các bác sĩ và hộ lý trong bệnh viện tại Mexico thật tốt với tôi hết chỗ nói. Cả các bệnh nhân
cũng vậy. Bệnh nhân ung thư và nạn nhân tai nạn xe cộ, một khi đã nghe câu chuyện của tôi, họ
chống nạng và lăn xe đến thăm tôi, họ và gia đình họ, mặc dầu ko ai nói tiếng Anh, còn tôi thì
ko biết tiếng Tây Ba Nha. Họ mỉm cười với tôi, bắt tay tôi, vỗ về lên đầu tôi, để các món quà,
thức ăn và quần áo lại trên giường tôi. Họ khiến tôi rơi vào những trận khóc trận cười ko thễ
ghìm lại được.
Chỉ trong vòng một ngày là tôi đã đứng lên được, thậm chí còn đi được một hai bưóc, mặc
dù vẫn buồn nôn, chóng mặt và mệt mỏi toàn thân. Xét nghiệm máu cho thấy tôi thiếu hồng
cầu nghiêm trọng, lượng muối thì cao mà kiềm thì thấp. Cơ thể tôi bị đọng dịch, hai chân phù
ghê gớm. Trông tôi như một anh bị ghép đôi chân voi vậy. Nước giải thì đục, vàng sẫm gần nhu
nâu. Thế mà sau đó độ 1 tuần, tôi đã có thể đi lại bình thường, và có thể đi giày nếu không buộc
giây. Da dẻ tôi lành trở lại, mặc dù có sẹo ở vai và lưng.
Lần đầu tiên tôi vặn được vòi máy nước , dòng nước phụt ra thật ầm ĩ, phí phạm và xả láng
đến nỗi tôi bị choáng, ngã ngất vào tay người hộ lý.
Lần đầu tôi đến một quán ăn ấn Độ ở Canada, tôi bốc thức ăn bằng tay. Người hầu bàn nhìn
tôi một cách nghiêm nghị và nói: " Vừa đưới tàu mới lên phải không?". Tôi tái người. Những
ngón tay tôi, một giây truớc đó còn như những búp vị giác đang thưởng thức món ăn trước khi
đưa chúng vào miệng, đột nhiên thành ra thật bẩn thỉu dưới ánh mắt của anh ta. Chúng cứng
đơ lại như những kẻ tội phạm bị bắt quả tang. Tôi không dám liếm chúng, tôi lau chúng bằng
giấy ăn như một kẻ có lỗi. Anh hầu bàn ko thể biết câu nói của anh ta đã cứa những vết thương
vào lòng tôi sâu đến thế nào. Chúng như những cái đanh nhọn đóng ngập vào ngực tôi. Tôi nhặt
con dao và cái dĩa. Tôi thực sự ko nhớ mình đã từng dùng những thứ đó bao giờ chưa. Hai bàn
tay tôi run bắn. Dịch vị tôi khô kiệt.
------------------------------------------------------------------(1)Kabala hoặc Cabala: hệ thống lý thuyết thần học bí truyền do các thầy cả Do Thái (rabbi)
phát triền và lên tới đỉnh điểm trong các thế kỉ 12,13 có ảnh hưởng phần nào đến tư tưởng của
một số triết gia Cơ Đốc giáo thời trung cổ và phục hưng. Cốt lõi của Cabala là phương pháp
diển giải kinh sách rất bí hiểm mà các tín đồ tin rằng giúp họ thâm nhập các bí mật thiêng
liêng. Người theo thần học Cabala tin rằng muôn vật đều là biến hình của Thượng Đế và Linh
hồn đã tồn tại từ cõi vô cùng. (ND)
(2)Memento mori: tiếng Latin, nghĩa là "nhắc ta nhớ đến cái chết" (ND)
(3) Cricket: Môn thể thao ngoài trời gần giống như môn bóng chày ờ Mỹ, rất phổ biến ở ấn
Độ (ND).
Chương 2
Anh sống ở Scarborough. Một người nhỏ nhắn, mảnh mai, cao không quá một thước sáu.
Tóc đen, mắt đen. Bắt đầu hoa râm hai bên thái dương. Trông không thể quá 40. Nước da màu
cafe dễ chịu. Mới vào tiết thu đã khoác áo choàng mùa đông có mũ chùm lót lông để đi ăn tối.
Gương mặt biểu cảm. Nói nhanh, hai tay hơu theo lời. Không chuyện vặt. Đã vào chuyện là kể
liền.
Chương 3
Tên tôi là tên một cái bể bơi, cũng là chuyện lạ vì cha mẹ tôi chẳng bơi lội bao giờ. Một torng
những người có công chuyện sớm nhất với ba tôi là ông Francis Adirubasamy. Ông trở thành
người bạn tốt của gia đình. Tôi gọi ông là Mamaji. Tiếng Tamil, mama nghĩa là bác, còn ji là vĩ
đại hay dùng ở ấn Độ để biểu lộ lòng yêu mến và kính trọng. Khi ông còn trẻ nghĩa là rất lâu
trước khi tôi ra đời, Mamaji là quán quân bơi lội của toàn vùng Nam ấn. Cả đời trông ông lúc
nào cũng ra một nhà quán quân. Anh Ravi của tôi có lần bảo rằng khi Mamaji, ông ấy vẫn đòi
tiếp tục thở trong nước đến nỗi bác sĩ, để cứu sống ông, đã phải túm lấy hai chân thằng bé rồi
quay tròn trên đầu mình một lúc.
"Như thế này này!" Ravi nói, tay quay tít trên đầu. "Thằng bé ho sặc hết nước ra và bắt đầu
thở không khí, nhưng máu thịt nó bị quay dồn hết lên phần trên của cơ thể, nên ngực nó mới
đầy thế và chân nó mới khẳng khiu thế".
Tôi tin Ravi. (Anh Ravi là tên trêu người lưỡi nhọn. Lần anh gọi Mamaji là " Ông Cả" ngay
vào mặt tôi, tôi đã vứt vỏ chuối vào giường anh.) Ngay ở tuổi sáu mươi, khi Mamaji đã hơi
còng và thịt ông đã hơi bị trọng lực kéo xuống dưới, ông vẫn hàng sáng bơi đủ 30 lần chiều dài
của bể bơi Aurobindo Ashram (1)
Ông cố dạy cha mẹ tôi bơi, nhưng chẳng bao giờ cha mẹ tiến bộ quá mức lội xuống nước đến
đầu gối ở bãi biển và làm các động tác khoát tròn. Nếu cha mẹ tôi đang tập bơi ếch chẳng hạn,
thì trông như họ đang đi trong rừng, vừa đi vừa lấy tay vạch cỏ trước mặt. Còn nếu cha mẹ tập
bơi sải thì trông như họ đang chạy từ trên đồii xuống và cứ phải vung tay cho khỏi ngã. Anh
Ravi thì cũng kém hăng hái chẳng thua gì thế.
Mamaji phải đợi đến khi tôi xuất hiện để có thể có được một môn đệ hăng hái. Ngày tôi đến
tuổi bơi lội, tức là lên 7, theo tuyên bố của Mamaji và khiến mẹ tôi phát phiền, ông đem tôi
xuống bãi biển, khoát tay về phía chân trời và nói: "Đây là món quà của ta cho con."
"Rồi ông ấy suýt để con chết đuối". Mẹ tôi bảo vậy.
Tôi vẫn trung thành với thủy sư phụ của mình. Dưới con mắt canh chừng của ông, tôi nằm
trên bãi biển, quẫy chân, quạt tay trên cát, đầu quay bên này bên kia để thở theo mỗi động tác.
Chắc hẳn trông tôi như một thằng nhóc đang làm mình làm mẩy một cách chậm chạp rất lạ.
Dưới nước, ông giữ cho tôi nổi và tôi hết sức bơi. Khó hơn nhiều so với tập trên cạn. Nhưng
Mamaji kiên trì và đầy khích lệ.
Khi ông thấy tôi tiến bộ rồi, chúng tôi bắt đầu chấm dứt những cuộc chạy nhảy nô rỡn với
những làn sóng xanh biếc sủi bọt của bờ biển và bắt đầu việc luyện tập qui củ (và phải trả tiền)
trong cái phẳng phiu nghiêm túc của hồ bơi cư xá.
Mỗi tuần ba lần, vào Thứ Hai, Thứ Tư và Thứ Sáu, trong suốt những năm thơ ấu, tôi đãđi với
ông đến bể bơi vào sáng sớm và thực hiện một thứ nghi lễ chính xác và đều đặn như một cỗ
máy đồng hồ của bài luyện tập bơi sải. TÔi còn nhớ như in hình ảnh sinh động của ông già
đáng kính đang bắt đầu khoả thân bên cạnh tôi, cơ thể ông lô ra dần, và cuối cùng chỉ hơi quay
đi để giữ thể diện với bộ quần bơi của vận động viên chính cống nhập khẩu đẹp tuyệt. Ông
đứng thẳng người trong tư thế sẵn sàng. Hình ảnh ấy thật giản dị và hùng tráng. Học bơi, rồi
tập bơi, thật cực nhọc nhưng có niềm khoái lạc sâu xa khi cảm thấy mỗi động tác của ta ngày
càng nhẹ nhàng và đưa ta lướt tới nhanh chóng hơn, nhanh hơn nữa, cho tới lúc như mê đi, và
khối nước nặng như chì trở thành một chất lỏng nhẹ bổng.
Từ ấy tôi lẻn trở lai biển một mình, một khoái lạc tội lỗi, đáp lại sự mời mọc của những ngọn
sóng hùng vĩ...
-Yann Martel-
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Mục Lục
Phần 1 : Toronto và Pondicherry
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Chương 32
Chương 33
Chương 34
Chương 35
Chương 36
Phần 2 : Thái Bình Dương
Chương 37
Chương 38
Chương 39
Chương 40
Chương 41
Chương 42
Chương 43
Chương 44
Chương 45
Chương 46
Chương 47
Chương 48
Chương 49
Chương 50
Chương 51
Chương 52
Chương 53
Chương 54
Chương 55
Chương 56
Chương 57
Chương 58
Chương 59
Chương 60
Chương 61
Chương 62
Chương 63
Chương 64
Chương 65
Chương 66
Chương 67
Chương 68
Chương 69
Chương 70
Chương 71
Chương 72
Chương 73
Chương 74
Chương 75
Chương 76
Chương 77
Chương 78
Chương 80
Chương 81
Chương 82
Chương 83
Chương 84
Chương 85
Chương 86
Chương 87
Chương 88
Chương 89
Chương 90
Chương 91
Chương 92
Chương 93
Chương 94
Phần 3 : Trạm xá Benôt Juarez, Tomatlan, Mexico
Chương 95
Chương 96
Chương 97
Chương 98
Chương 99
Chương 100
Phần 1 : Toronto và Pondicherry
Cuốn sách này được Yann Martel viết vào năm 1996 và được tặng giải thưởng Man Booker
2002. Ông sinh ra ở Tây Ba Nha nhưng hiện đang sống tại Motreal, Canada.
"Cuốn sách là một câu chuyện hiện thực sống động về sự sống sót giữa biển khơi. Một mặt
là chuyện thám hiểm, một minh chứng về việc hoàn cảnh cùng quẫn làm thay đổi con người
như thế nào. Mặt khác là sự suy ngẫm sâu xa về vai trò của tôn giáo trong đời sống, về bản chất
của động vật, thiên nhiên và con người. Ngôn ngữ của ông sống động và ấn tượng. Trí tưởng
tượng rộng lớn, khả năng thuyết phục gần như không giới hạn. Yann Martel sẽ trở thành một
trong những nhà văn Canada vĩ đại nhất" (The Hamilton Spectator).
Ghi Chú Của Tác Giả
Cuốn sách này ra đời khi tôi đói. Số là, mùa xuân năm 1996, cuốn thứ hai của tôi, một cuốn
tiểu thuyết ra mắt bạn đọc ở Canada. Nó chẳng đi đến đâu. Đám điểm sách lúng túng, hoặc kết
án tử hình nó bằng những lời khen nhạt nhẽo. Độc giả phớt lờ nó. Tôi giở hết các ngón nghề và
nhào lộn trong rạp xiếc truyền thông đại chúng, nhưng vẫn chẳng ăn thua gì. Cuốn sách không
nhúc nhích được tí nào. Sách xếp trên kệ trong cửa hàng như bọn trẻ đứng chờ để được chơi
bóng chày hoặc bóng đá, và cuốn sách của tôi là thằng nhóc oặt oẹo và không ai muốn lấy vào
đội của mình. Nó im lìm và nhanh chóng biến mất.
Thất bại ấy cũng không làm tôi nao núng nhiều lắm. Tôi lại bắt tay vào viết một cuốn khác,
một tiểu thuyết có khung cảnh tại Bồ Đào Nha thời 1939. Chỉ có điều, trong bụng cứ bứt rứt
không yên. Vả lại vẫn còn ít tiền.
Thế là tôi đi Bombay. Việc đó cũng không phi lí lắm nếu độc giả hiểu được ba điều: thứ nhất
bất cứ sinh linh nào nếu muốn hết bồn chồn thì cứ đến ấn Độ và làm một việc gì đó trong một
thời gian nhất định, thứ hai: ở đó có thể sống dài dài với một món tiền ít ỏi; và thứ ba là một
tiếu thuyết có khung cảnh Bồ Đào Nha thời 1939 chưa chắc đã phải dính dáng gì đên Bồ Đào
Nha thời 1939.
Trước đó tôi đã từng ở ấn Độ, miền Bắc, năm tháng trời. Tôi hoàn toàn không có chuẩn bị gì
cho chuyến đi đầu tiên ấy đến tiểu lục địa. Thực ra, tôi được chuẩn bị có một chữ thôi. Khi tôi
hàn huyên về các dự định cho chuyến đi với một người bạn biết nhiều về xứ sở ấy, anh ta
thủng thẳng nói, “ở ấn Độ người ta nói một thứ tiếng Anh quấy lắm. Họ thích những từ chẳng
hạn như là bamboozle. “Tôi nhớ đến câu nói ấy của anh ta khi máy bay bắt đầu giảm độ cao để
hạ cánh xuống Dehli, và từ bamboozle trở thành sự chuẩn bị duy nhất của tôi cho cái thể giới
điên rồ, ầm ĩ, muôn mặt nhưng vần đâu ra đấy của ấn Độ. Tôi đã có dịp dùngđến cái từ ấy, và
nói thực tình, nói cũngđắc lực. Tôi bảo một thấy ký ga xe lửa: “Chẳng nhẽ giá vé đắt đến thế kia
à. Thầy không định bamboozle tôi đấy chứ? Thầy ký mỉm cười, nói như hát, “Không đâu thưa
ngài! Không có bam-bu-zư bam-bu-ziếc gì ở đây cả. Chúng tôi nói đúng giá vé đấy ạ.”
Lần thứ hai đi ấn Độ, tôi biết điều hơn về những gì có thể xảy ra và biết mình muốn gì: tôi sẽ
yên vị ở một đồn điền trung du và viết cuốn tiểu thuyết của mình. Tôi mường tượng rõ ràng
mình đang ngồi ở bàn trong một hàng hiên rộng, giấy tờ ghi chép ngổn ngang, bên cạnh một
tách trà nghi ngút. Những triền đồi xanh mướt dày đặc sương mù trải dài dưới chân, và tiếng
kêu lảnh lót của các bầy khỉ sẽ lấp đầy màng nhĩ tôi. Khí hậu sẽ vừa vặn làm sao, chỉ cần một áo
len mỏng nhẹ vào buổi sớm mai và chiều tà, còn cả ngày có thể mặc một cái gì đó ngắn tay. Và
trong cảnh đó, bút trong tay, vì một chân lý lớn lao hơn, tôi sẽ biến Bồ Đào Nha thành một tác
phẩm hư cấu. Tiểu thuyết là như vậy, là việc biến đổi hiện thực một cách có chọn lọc, đúng
không nào? Là việc vặn vẹo hiện thực để vắt lấy cái cốt lõi của nó, đúng không nào? Vậy nên tôi
có cần gì phải đi Bổ Đào Nha đúng chưa nào?
Bà chủ đồn điền sẽ kể tôi nghe những câu chuyện về cuộc đấu tranh đánh đuổi người Anh.
Chúng tôi sẽ chọn món cho bữa trưa và bữa tối ngày hôm sau của tôi. Sau mỗi ngày viết, tôi sẽ
đi dạo trên các đồi chè thoải dài lên xuống của đồn điền.
Chẳng may cho tôi, cuốn tiểu thuyết ấy cứ ngắc nga ngắc ngứ, ho lên ho xuống, rồi chết hẳn.
Lúc đó tôi đang ở Matheran, không xa Bombay là mấy, một trang trại ở trung du, cũng có vài
chú khỉ nhưng không có vườn chè nào. Đối với các văn sĩ chưa thành danh, tình cảnh ấy thật sự
khốn khổ. Bạn có chủ đề tốt, câu chữ cũng chẳng kém gì. Các nhân vật bạn dựng lên thật sống
động đến mức muốn đi xin giấy khai sinh cho chúng. Diễn biến tình tiết của câu chuyện bạn đã
vạch ra hết cả, thật lớn lao, giản dị, và hấp dẫn. Bạn đã nghiên cứu hẳn hòi đâu ra đấy, thu thập
đủ cả các dữ liệu lịch sử, xã hội, khí hậu, ẩm thực, những thứ sẽ khiến cho câu chuyện có giá trị
đích thực. Những đoạn đối thoại cứ nối nhau thật tự nhiên, lấp lánh, căng thẳng. Những đoạn
miêu tả bùng lên đầy màu sắc, tương phản và các chi tiết sắc sảo đầy ý nghĩa. Thực sự là câu
chuyện viết ra như vậy chỉ có thể hay mà thôi. Thế mà tất cả những cái đó chẳng hợp thành
một cái gì cả. Mặc cho những hứa hẹn sáng lạn và hiển nhiên của câu chuyện, sẽ đến lúc bạn
chợt nhận ra những lời thì thầm vẫn luôn thôi thúc bạn viết nó ra bấy lâu nay lại rót vào tai bạn
một sự thật rõ ràng và khủng khiếp, rằng câu chuyện hỏng rồi. Nó thiếu một thứ, cái tia lửa có
khả năng thổi sự sống vào một câu chuyện, bất kể là các dữ liệu lịch sự hoặc ẩm thực của bạn
đúng hay là sai. Câu chuyện của bạn thế là chết hẳn về mặt tình cảm rồi, đó là mấu chốt của vấn
đề. Nhận ra sự thật này cũng giống như bị rơi vào một thảm hoạ tàn hại linh hồn, tôi phải nói
với bạn như vậy. Khi tỉnh lại, mình phải sống với cảm giác luôn luôn bị đó, đến thắt ruột thắt
gan.
Từ Matheran, tôi nhét hết các giấy tờ bản thảo của cuốn tiểu thuyết không thành ấy vào
phong bì. Tôi gửi chúng đến một địa chỉ hư cấu ở Siberia, với một địa chỉ người gửi cũng hư
cấu và quẳng cái phong bì vào thùng chọn thư, tôi ngồi phịch xuống ngay đó, chán nản hết sức.
“Sẽ ra sao đây hở Tolstoy?”, tôi tự hỏi, “Mày còn có ý tưởng hay ho nào khác cho cuộc đời của
mày không?”
Gì thì gì, vẫn còn một ít tiền và vẫn cảm thấy bứt rứt không yên, tôi đứng dậy, bước ra khỏi
nhà bưu điện và quyết định đi thám hiểm miền Nam ấn Độ.
Với những người hỏi tôi làm nghề gì, tôi đã muốn trả lời: “Tôi là đốc-tờ”. Trong tâm trí tôi
lúc ấy, bác sĩ là những người phân phát pháp thuật và phép lạ. Nhưng tôi lại tin rằng chỉ qua
khỏi chỗ quành trước mặt kia là chiếc xe buýt sẽ gặp tai nạn, và rồi giữa tiếng kêu la rên rỉ của
nạn nhân và các cặp mắt sẽ dán chặt vào tôi kêu cứu, tôi sẽ lại phải giải thích rằng danh vị đốc
tờ của tôi không phải là bác sĩ y khoa mà là tiến sĩ luật; thế rồi, khi họ xúm vào đề nghị tôi giúp
họ kiện chính phủ về vụ tai nạn, tôi sẽ lại phải phân trần rằng bằng cấp của tôi thực sự chỉ là cử
nhân triết học mà thôi; tiếp đó, họ sẽ gào thét đòi biết cái tai nạn đẫm máu ấy thực sự có ý
nghĩa gì không, và tôi sẽ phải thú nhận rằng tôi chưa hề đọc đến Kierkegaard; vân vân và vân
vân. Thế là tôi đành thui thủi với danh phận nhà văn, một sự thật tím bầm và tủi hổ.
Trên đường, chỗ này chỗ kia, cũng có người đối đáp lại cái danh phận nhà văn ấy. Họ bảo:
“Một nhà văn ư? Thật chứ? Tôi có một câu chuyện cho ông đây.” Hầu hết những câu chuyện đó
chỉ nhỉnh hơn những mẩu giai thoại chút xíu, đều hụt hơi, thiếu sức sống.
Tôi đến thị trấn Pondicherry, một khu tự trị nhỏ xíu trong Liên hiệp Anh về phía nam
Madras, ngay trên bờ biển Tamil Nadu. Về dân số và diện tích, Pondicherry là một phần đất
không có nghĩa lí gì của ấn Độ (so về diện tích thì đảo Price Edward là một lãnh thổ khổng lồ
của Canada), nhưng lịch sử đã khiến cho nó nổi bật. Bởi lẽ Pondicherry đã từng là thủ phủ của
lãnh thổ ấn Độ thuộc Pháp, cho dù lãnh thổ này chỉ là một bộ phận khiêm tốn nhất trong các
vương quốc thuộc địa ngày xưa. Người Pháp chắc hẳn đã rất muốn cạnh tranh với người Anh,
muốn lắm, nhưng cái lãnh thổ mà họ trầy trật mãi mới chiếm lĩnh được chỉ bao gồm một nhúm
các hải cảng nho nhỏ. Họ bám vào những hai cảng này trong gần ba trăm năm. Họ rời
Pondicherry năm 1954, bỏ lại đó những toà nhà trắng xinh xắn, những đường phố rộng chạy
vuông góc với nhau, những tên phố như rue de la Marinne, và Saint Louis, và danh từ kepis, chỉ
loại mũ lưỡi trai của cảnh sát.
Tôi ngồi trong quán cà phê có tên Indian Coffee House, phố Nehru. Một gian phòng rộng,
tường màu xanh lá cây, trần cao. Quạt trần chạy vù vù trên đầu để lưu thông bầu không khí ẩm
ướt. Quán kê chật hết chỗ các bàn hình vuông giống hệt nhau, mỗi bàn bốn ghế. Bạn ngồi được
chỗ nào thì ngồi, chung bàn với người nào thì chịu người ấy. Cà phê thì ngon, lại có bán cả bánh
mì nướng giòn. Rất dễ bắt chuyện. Và thế là, một ông già quắc thước mắt sáng với những lọn
tóc trắng phau đang nói chuyện với tôi. Tôi khẳng định với ông ta rằng Canada đúng là lạnh,
rằng có những vùng đúng là nói tiếng Pháp, và rằng tôi đúng là thích ấn Độ, vân vân và vân vân
- một thứ trò chuyện nhẹ nhàng thường thấy giữa những người bản xứ tò mò hiếu khách với
dân “balô” ngoại quốc. Nghe tôi nói là nhà văn, ông già tròn mắt, gật đầu. Đến lúc phải đi rồi.
Tôi giơ tay, cố vẫy ra hiệu cho người hầu bàn đem hóa đơn ra tính tiền.
Rồi ông già bảo: “Tôi có một câu chuyện sẽ khiến anh tin vào Thượng đế.”
Tôi không vẫy tay nữa. Nhưng vẫn nghi ngại. Biết đâu lại là dòng Thánh Chứng(1) đang gõ
cửa? Tôi hỏi: “Chuyện của cụ xảy ra hai nghìn năm trước ở một nơi hẻo lánh trong Vương quốc
La Mã phải không ạ?”
“Không."
“Biết đâu ông lão lại là người rao giảng đạo Hồi. “Thế có xảy ra tại Arập vào thế kỷ thứ VII
không ạ?”
“Không, không. Câu chuyện bắt đầu ngay ở Pondicherry này mới vài năm trước đây, và kết
thúc, tôi xin nói để ông hay, ở ngay chính quê hương của ông.”
“Và nó sẽ khiến cho tôi tin vào Thượng đế?”
“Đúng như vậy.”
“Thế thì cao cấp quá.”
”Không cao đến nỗi ông không với tới được.”
Người hầu bàn đã đến. Tôi do dự một giây, rồi gọi tiếp hai tách cà phê. Chúng tôi bắt đầu tự
giới thiệu làm quen nhau. Tên ông lão là Francis Adirubasamy. Tôi nói. “Nào, cụ làm ơn kể câu
chuyện đó đi.”
“Anh phải thật chú ý nghe mới được,” ông lão trả lời.
“Vâng.” Tôi lấy bút và sổ ghi chép.
“Vậy, anh đã đến thăm vườn bách thảo ở đây chưa?” Ông lão hỏi.
“Tôi vừa mới tới đó hôm qua.”
“Anh có thấy cái đường tầu hỏa giải trí ở đó không?”
“Dạ có.”
“Hiện vẫn còn một tàu chạy vào ngày Chủ nhật cho trẻ con đi chơi. Nhưng trước đây ngày
nào cũng có tàu chạy, mỗi giờ hai chuyến. Anh có để ý tên gọi của các trạm đỗ tàu không?”
“Có một trạm gọi là Roseville. Ngay cạnh chỗ vườn hồng.”
“Đúng rồi. Thế còn trạm kia.”
“Tôi không nhớ.”
“Họ bỏ cái biển tên đi rồi. Trạm đỗ kia ngày trước gọi là Zootown. Đường tầu ấy có hai trạm
đỗ: Roseville và Zootown. Ngày xưa có một vườn thú trong khu vườn bách thảo Pondicherry.”
Ông lão kể. Tôi ghi chép các yếu tố của câu chuyện. “Anh phải nói chuyện với cậu ấy,” ông
lão bảo tôi, về nhân vật chính. “Tôi biết cậu ấy. Bây giờ đã là người lớn rồi. Anh phải hỏi chuyện
cậu ấy, với tất cả các thắc mắc của anh.”
Sau đó, ở Toronto, trong số chín cột liệt kê các chủ hộ mang họ Patel trong danh bạ điện
thoại, tôi đã tìm ra người ấy, nhân vật chính của câu chuyện. Tim tôi đập thình thịch khi quay
số phone của anh ta. Giọng trả lời rất Canada, nhưng vẫn nghe được âm sắc ấn Độ, nhẹ thôi
nhưng không thể lẫn vào đâu được, như một thoáng hương nhang trong không khí. “Chuyện đã
lâu lắm rồi,” anh nói. Nhưng rồi anh vẫn đồng ý gặp. Chúng tôi đã gặp nhau nhiều lần. Anh cho
tôi xem cuốn nhật ký anh viết trong thời gian xảy ra các sự kiện của câu chuyện. Anh cho tôi
xem cả những mẩu tin, bài cắt trên báo đã có lúc khiến anh nổi tiếng, cho dù ngắn ngủi và mờ
nhạt. Anh kể câu chuyện của mình cho tôi nghe. Còn tôi thì ghi chép. Gần một năm sau, khó
khăn mãi tôi mới nhận đựơc một cuốn băng ghi âm và một bản tường trình của Bộ Giao thông
vận tải Nhật Bản. Chính khi lắng nghe cuốn băng ghi âm đó tôi thấy đồng ý với ông lão
Adirubasamy rằng quả thực đây là câu chuyện sẽ khiến cho bạn đọc phải tin vào Thượng đế.
Lẽ tự nhiên là câu chuyện của ông Patel phải được kể lại chủ yếu là theo ngôi thứ nhất - tức
là bằng chính lời kể của ông và theo con mắt nhìn nhận của ông. Còn mọi thứ sai lệch hoặc
nhầm lẫn sẽ hoàn toàn là lỗi ở tôi.
Tôi phải mang ơn nhiều người trong việc này. Rõ ràng là tôi phải cảm ơn ông Patel đầu tiên.
Lòng biết ơn của tôi đối với ông mênh mang như Thái Bình Dương và tôi hy vọng rằng việc tôi
kể lại câu chuyện của ông sẽ không làm ông thất vọng. Tôi cũng cảm ơn cụ Adirubasamy đã dắt
tôi và câu chuyện này. Còn để giúp cho tôi hoàn thành được câu chuyện, tôi phải cảm ơn ba vị
quan chức có phẩm chất chuyên nghiệp mẫu mực. Đó là các ông Kazuhiko Oda, từng làm đại sứ
quán Nhật ở Ottawa; ông Hiroshi Watanabe của công ty tầu biển Oika; và đặc biệt là ông
Tomohiro Okamoto, thuộc Bộ giao thông vận tải Nhật Bản, giờ đã nghỉ hưu. Còn về cái tia lửa
thổi được sự sống vào cuốn tiểu thuyết, tôi xin mắc nợ ông Moacyr Scliar(2). Cuối cùng, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn chân thành của tôi đến với cơ quan vĩ đại, tức là Hội đồng bảo trợ nghệ
thuật Canada, vì nếu không thể chắp nối được câu chuyện này, vốn chẳng dính dáng gì đến Bồ
Đào Nha thời 1939. Nếu chúng ta, những công dân, không hỗ trợ các nghệ sỹ, thì chúng ta sẽ
giết trí tưởng tượng của mình làm vật hiến tế cho hiện thực thô thiển để rồi chỉ biết qua ngày
đoạn tháng, không biết tin vào cái gì, với rặt nhưng giấc mơ vô giá trị.
---------------------------------------------------------Ghi chú:
(1) Thánh chứng: Tạm dịch chữ Jehova's Witness, tên một dòng đạo Thiên Chúa, chuyên
tâm phổ biến tín ngưỡng này dựa trên các câu chuyện chứng minh sự hiện hữu có chứng kiến
của Chúa Jesus. (ND)
(2) Nhà văn Brazin đương đại, sống và làm việc ờ Porto Alegre, thủ phủ tiểu bang Rio
Grande do Sul, miền nam Brazil. Đã xuất bản hơn năm mươi tác phẩm, trong đó có những tiểu
thuyết nồi tiếng như Đội quân một người, Con Nhân ngưu trong vườn nhà, Bài ca của Đấng Cứu
thế giả hiệu, Vũ hội của các loài thú vật… Xuất thân trong một dòng họ Do Thái – Nga di cư
sang Brazil từ cuối thế kỷ trước, từ những năm 1960, ông vừa hành nghề bác sĩ vừa viết tiểu
thuyết và là đại biểu xuất sắc của dòng văn học Do Thái – Brazil hiện nay. (ND)
Chương 1
Đau khổ đã biến tôi thành một kẻ u buồn.
Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín ngưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống
trở lại. Tôi vẫn duy trì cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kì lạ. Tôi học
chương trình phổ thông trung học trong một năm, rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai
ngành chính trong chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học. Luận văn
nam thứ tư về tôn giáo của tôi đề cập đến một số phương diện của lí thuyết vũ trụ tiến hoá của
Issac Luria, một tín đồ Kabbalist (1) vĩ đại hồi thế kỉ 16 ở Safed. Luận văn động vật học của tôi
là một nghiên cứu phân tích chức năng tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài cu li
bởi tính cách khiêm nhường của nó - bình thản, im lặng và hướng nội - hình như đã có tác dụng
an ủi phần nào mảnh hồn tan nát của tôi.
Có loài cu li hai móng và có loài culi ba móng , phân biệt theo chân trước của chúng, vì chân
sau của tất cả culi đều có ba móng. Tôu có một may mắn lớn là được nghiên cứu loài culi ba
móng ngay tại môi sinh tự nhiên của chúng ở rừng rậm nhiệt đới Brazil trong một kì hè. Con
vật này quả thật là một sinh linh kì bí. Thói quen thật sự duy nhất của nó là thói vô vi. Nó ngủ
hoặc nghĩ ngơi trung bình hai mươi tiếng một ngày. Độ nghiên cứu của chúng tôi đã thí
nghiệm theo dõi nếp ngủ của năm con culi ba móng bằng cách đặt lên đầu chúng, sau khi
chúng đã thiếp đi vào lúc chiều tà, những cái đĩa nhựa màu đỏ tươi đựng đầy nước. Đến sáng
hôm sau, những cái đĩa này vẫn y nguyên, đầy nước và đầy các loại côn trùng vùng vẫy trong
đó. Con culi chỉ bận rộn vào lúc mặt trời đang lặn, với nghiã thoải mái nhất của từ bận rộn. Nó
bò dọc cành cây trong tư thế lộn ngược điển hình với tốc độ khoảng bốn trăm mét một giờ.
Dưới mặt đất, nó bò từ cây này sang cây kia với tốc độ hai trăm hai mươi mét một giờ nếu có lý
do chính đáng, bốn trăm bốn muơi lần chậm hơn tốc độ duy chuyển có lí do của loài báo
cheetah. Còn nếu ko có lí do gì, mỗi giờ chúng chỉ di chuyển được khoảng bốn đến năm mét.
Con culi ba móng không biết gì mấy đến thế giới chung quanh nó. Có thang điểm từ hai đến
mười, hai là mức độ lờ mờ bất thường và mười là mức linh hoạt cực điểm, tác giả Beebe
(1926) đã đánh giá giác quan của lưỡi, da, mắt và tai của loài culi ở mức hai, còn mũi thì ỡ mức
ba. Nếu ta gặp một con culi đang ngủ trong rừng, ta chọc hoặc lay nó hai ba cái, nó sẽ tỉnh dậy,
và cặp mắt ngái ngủ của nó sẽ nhìn quanh, nhưng không thèm nhìn về phía ta. Không biết tại
sao nó lại có thói quen nhìn quanh như thế, vì thực ra con culi nhìn cái gì thì cũng như một vệt
nhoè nhoẹt mà thôi. Về nghe loài culi cũng ko đến nỗi điếc lắm, mà thực ra là không thích nghe.
Tác giả Beebe có viết rằng culi đang ngủ hoặc đang ăn mà ta có gí súng bắn ngay bên cạnh thì
nó cũng chỉ hơi nhúc nhích mà thôi. Và ta cũng ko nên đánh giá quá mức cái khả năng ngửi
được cho điểm khá hơn của culi. Người ta tin chúng có khả năng đánh hơi thấy và tránh các cây
mục, nhưng tác giả Bullock (1968) lại tường trình rằng ông "thường xuyên" thấy các con culi
ngã xuống đất vẫn bám chặt lấy đoạn cành mục mà nó đã bò lên.
Ta có thể hỏi vậy làm sao mà chúng sống được.
Chình là nhờ sự chạm chạp như vậy. Tính cách ngủ mê ngủ mệt của culi đã giữ cho chúng
không bị xa vào vòng nguy hiểm, không rơi vào tầm ngắm của hổ báo, cầy cáo, diều quạ. Lông
culi là nơi cư trú của một loại tảo có màu nâu trong mùa khô và màu xanh lá cây trong mùa
mưa, giúp cho nó lẫn lộn vào rêu lá xung quanh, trông như một tổ kiến hoặc tổ sóc, hoặc chỉ
như một phần sần sùi của một cái cây.
Con culi ba móng sống cuộc đời chay tịnh, yên bình trong sự hài hoà hoàn hảo với môi
trường . "Với một nụ cười tốt lành thường trực trên môi", tác giả Tirler (1966) đã viết như vậy.
Tôi đã tận mất thấy nụ cười ấy. Tôi ko có tính thích gán cho loài vật những tính cách và tình
cảm của con người, nhưng đã biết bao lần trong tháng hè đó tại Brazil, khi ngước nhìn những
con culi đang trong tư thế nghỉ ngơi, tôi cảm thấy như mình đứng truớc những đạo sĩ yoga ở tư
thế lộn ngược đang chìm sâu trong suy tưởng, hoặc những ẩn sĩ đang nguyện cầu khẩn thiết,
những đấng hiền triết có cuộc sống bay bổng đầy những tưởng tượng hào sảng mà trí lực dò
dẫm kiểu khoa học của tôi không thể nào vươn tới được.
Đôi khi tôi bị lẫn lộn hai ngành học của mình. Một số bạn học với tôi trong môn nghiên cứu
tôn giáo - những kẻ theo thuyết bất khả tri, không phân biệt được đâu là trên đâu là dưới, luôn
ghê tởm lý lẽ vốn là vàng ròng của những người thông sáng - khiến tôi liên tưởng đến loài culi
ba móng; còn con culi ba móng, tiêu bản đẹp đẽ của phép lạ cuộc sống, thì lại khiến tôi nghĩ tới
Thương Đế.
Không bao giờ tôi gặp rắc rối với các dồng nghiệp khoa học. Các khoa học gia là một đám
người thân thiện, vô thần, chăm chỉ, thích rượu bia vá luc không bận bịu với khoa học thì họ
chỉ quan tâm đến tình dục, cờ vua và bóng chày.
Tôi là một sinh viên oách, tôi có thể nói vậy. Tại đại học Thánh Michael, tôi đứng đầu bảng
bốn năm liền. Tôi dành được tất cả các phần thưởng cho sinh viên của khoa Động vật học. Nếu
như tôi không giành được phần thưởng nào của khoa nghiên cứu tôn giáo thì chỉ đơn giản là
khoa này chẳng có một phần thưởng nào dành cho sinh viên ( Chúng ta đều biết rằng các phần
thưởng cho việc nghiên cứu tín ngưỡng ko nằm trong tay đám phàm phu tục tử như chúng ta
:D) Cón tấm Huân chương Học Thuật cua ngài Tổng đốc, phần thưởng cao quí nhất của Đại học
Toronto cho sinh viên phần lớn chỉ dành cho các công dân Canada xuất sắc; nếu ko vì cái thằng
cu ấy, da trắng hồng, an thịt bò, cổ to như gốc cây, hơn hớn ầm ĩ rất khó chịu, thì tôi đã dành
được nó rồi.
Tôi vẫn còn thấy đau khổ vì những chuyện nhỏ nhặt. Khi người ta đã chịu nhiều đau đớn ở
đời, mỗi một nỗi đau mới sẽ vừa nặng trĩu mà cũng lại chẳng là gì....
Cuộc đời tôi cũng giống như một bức tranh mementomori (2) troong nghệ thuật Châu Âu:
lúc nào cũng có một chiếc đầu lâu nhe răng cuời bên cạnh để nhắc nhở tôi về những phù du của
ham muốn nhân sinh. Tôi giễu cợt chiếc đầu lâu. Tôi nhìn nó và bảo: " Mày chọn nhầm đối
tượng rồi. Mày có quyền ko tin vào cuộc đời, nhưng tao lại ko tin vào sự chết. Đi chỗ khác!".
Chiếc đầu lâu nhúc nhắc rồi nhích lại gần hơn nhưng tôi chẳng ngạc nhiên. Lí do sự chết cứ
bám riết lấy sự sống như vậy ko phải là vì nhu cầu sinh học - đó là sự ghen tị. Sự sống đẹp đến
nỗi sự chết đã phải lòng nó, một mối tình tư vị đầy ghen tuông quắp chặt lấy bất cứ thứ gì nó
có thể động đến. Nhưng sự sống nhẹ nhàng bỏ qua, mất mát vài thứ chẳng gì đáng kể, và nỗi u
buồn chỉ như một bóng mây bay. Thằng cu trắng hồng lại được thưởng cả học bổng Rhodes.
Tôi yêu hắn và mong cho hắn học được thật nhiều thứ tại Oxford. Nếu như Lakshmi, nữ thần
tài sản, có ngày nào đó ban phát cho tôi ân sủng của người thì Oxford sẽ đứng thứ năm trong
danh sách các thành phố tôi muốn viếng thăm trước khi quá vãng, sau Mecca, Varanasi,
Jerusalem và Paris.
Cuộc đời đi làm của tôi chẳng có gì đáng nói, chỉ trừ một nhận xét rằng cà-vạt là một cái
thòng lọng, và mặc dù lộn ngược, nó sẽ treo cổ nguời ta đến chết nếu ko thận trọng.
Tôi yêu Canada. Tôi nhớ cái nóng của ấn Độ, nhớ các món ăn, bọn thằn lằn bò trên tường
nhà, phim kịch hát trên truyền hình, lũ bò đủng đỉnh ngoài phố, lũ quạ kêu quàng quạc, nhớ
đến cả những cuộc bàn tán về các trận đấu cricket (3), nhưng tôi yêu Canada. Một xứ sở vĩ đại
tuy có hơi quá lạnh đối với người lành mạnh, nơi cư ngụ của những con người thông minh
hăng hái, nhưng đầu tóc để ko được đẹp. Dù sao Pondicherry chẳng còn có cái gì để tôi muốn
quay về.
Richard Parker vẫn ỡ bên tôi. Chưa khi nào tôi quên được nó. Có dám nói tôi nhớ nó hay ko
ư? Có đấy. Tôi có nhớ nó. Vẫn thấy nó trong các giấc mơ. Phần lớn là ác mộng nhưng là ác mông
nhuốm màu tình yêu. Lòng nguời thật lạ. Tôi vẫn ko thễ hiểu nổi tại sao nó có thể bỏ tôi đi một
cách dửng dưng như thế, không một cử chỉ chia tay nào, ko hề ngoái lại lấy một lần. Nỗi đau
như thể ai cầm rìu mà bổ vào tận tim vậy.
Các bác sĩ và hộ lý trong bệnh viện tại Mexico thật tốt với tôi hết chỗ nói. Cả các bệnh nhân
cũng vậy. Bệnh nhân ung thư và nạn nhân tai nạn xe cộ, một khi đã nghe câu chuyện của tôi, họ
chống nạng và lăn xe đến thăm tôi, họ và gia đình họ, mặc dầu ko ai nói tiếng Anh, còn tôi thì
ko biết tiếng Tây Ba Nha. Họ mỉm cười với tôi, bắt tay tôi, vỗ về lên đầu tôi, để các món quà,
thức ăn và quần áo lại trên giường tôi. Họ khiến tôi rơi vào những trận khóc trận cười ko thễ
ghìm lại được.
Chỉ trong vòng một ngày là tôi đã đứng lên được, thậm chí còn đi được một hai bưóc, mặc
dù vẫn buồn nôn, chóng mặt và mệt mỏi toàn thân. Xét nghiệm máu cho thấy tôi thiếu hồng
cầu nghiêm trọng, lượng muối thì cao mà kiềm thì thấp. Cơ thể tôi bị đọng dịch, hai chân phù
ghê gớm. Trông tôi như một anh bị ghép đôi chân voi vậy. Nước giải thì đục, vàng sẫm gần nhu
nâu. Thế mà sau đó độ 1 tuần, tôi đã có thể đi lại bình thường, và có thể đi giày nếu không buộc
giây. Da dẻ tôi lành trở lại, mặc dù có sẹo ở vai và lưng.
Lần đầu tiên tôi vặn được vòi máy nước , dòng nước phụt ra thật ầm ĩ, phí phạm và xả láng
đến nỗi tôi bị choáng, ngã ngất vào tay người hộ lý.
Lần đầu tôi đến một quán ăn ấn Độ ở Canada, tôi bốc thức ăn bằng tay. Người hầu bàn nhìn
tôi một cách nghiêm nghị và nói: " Vừa đưới tàu mới lên phải không?". Tôi tái người. Những
ngón tay tôi, một giây truớc đó còn như những búp vị giác đang thưởng thức món ăn trước khi
đưa chúng vào miệng, đột nhiên thành ra thật bẩn thỉu dưới ánh mắt của anh ta. Chúng cứng
đơ lại như những kẻ tội phạm bị bắt quả tang. Tôi không dám liếm chúng, tôi lau chúng bằng
giấy ăn như một kẻ có lỗi. Anh hầu bàn ko thể biết câu nói của anh ta đã cứa những vết thương
vào lòng tôi sâu đến thế nào. Chúng như những cái đanh nhọn đóng ngập vào ngực tôi. Tôi nhặt
con dao và cái dĩa. Tôi thực sự ko nhớ mình đã từng dùng những thứ đó bao giờ chưa. Hai bàn
tay tôi run bắn. Dịch vị tôi khô kiệt.
------------------------------------------------------------------(1)Kabala hoặc Cabala: hệ thống lý thuyết thần học bí truyền do các thầy cả Do Thái (rabbi)
phát triền và lên tới đỉnh điểm trong các thế kỉ 12,13 có ảnh hưởng phần nào đến tư tưởng của
một số triết gia Cơ Đốc giáo thời trung cổ và phục hưng. Cốt lõi của Cabala là phương pháp
diển giải kinh sách rất bí hiểm mà các tín đồ tin rằng giúp họ thâm nhập các bí mật thiêng
liêng. Người theo thần học Cabala tin rằng muôn vật đều là biến hình của Thượng Đế và Linh
hồn đã tồn tại từ cõi vô cùng. (ND)
(2)Memento mori: tiếng Latin, nghĩa là "nhắc ta nhớ đến cái chết" (ND)
(3) Cricket: Môn thể thao ngoài trời gần giống như môn bóng chày ờ Mỹ, rất phổ biến ở ấn
Độ (ND).
Chương 2
Anh sống ở Scarborough. Một người nhỏ nhắn, mảnh mai, cao không quá một thước sáu.
Tóc đen, mắt đen. Bắt đầu hoa râm hai bên thái dương. Trông không thể quá 40. Nước da màu
cafe dễ chịu. Mới vào tiết thu đã khoác áo choàng mùa đông có mũ chùm lót lông để đi ăn tối.
Gương mặt biểu cảm. Nói nhanh, hai tay hơu theo lời. Không chuyện vặt. Đã vào chuyện là kể
liền.
Chương 3
Tên tôi là tên một cái bể bơi, cũng là chuyện lạ vì cha mẹ tôi chẳng bơi lội bao giờ. Một torng
những người có công chuyện sớm nhất với ba tôi là ông Francis Adirubasamy. Ông trở thành
người bạn tốt của gia đình. Tôi gọi ông là Mamaji. Tiếng Tamil, mama nghĩa là bác, còn ji là vĩ
đại hay dùng ở ấn Độ để biểu lộ lòng yêu mến và kính trọng. Khi ông còn trẻ nghĩa là rất lâu
trước khi tôi ra đời, Mamaji là quán quân bơi lội của toàn vùng Nam ấn. Cả đời trông ông lúc
nào cũng ra một nhà quán quân. Anh Ravi của tôi có lần bảo rằng khi Mamaji, ông ấy vẫn đòi
tiếp tục thở trong nước đến nỗi bác sĩ, để cứu sống ông, đã phải túm lấy hai chân thằng bé rồi
quay tròn trên đầu mình một lúc.
"Như thế này này!" Ravi nói, tay quay tít trên đầu. "Thằng bé ho sặc hết nước ra và bắt đầu
thở không khí, nhưng máu thịt nó bị quay dồn hết lên phần trên của cơ thể, nên ngực nó mới
đầy thế và chân nó mới khẳng khiu thế".
Tôi tin Ravi. (Anh Ravi là tên trêu người lưỡi nhọn. Lần anh gọi Mamaji là " Ông Cả" ngay
vào mặt tôi, tôi đã vứt vỏ chuối vào giường anh.) Ngay ở tuổi sáu mươi, khi Mamaji đã hơi
còng và thịt ông đã hơi bị trọng lực kéo xuống dưới, ông vẫn hàng sáng bơi đủ 30 lần chiều dài
của bể bơi Aurobindo Ashram (1)
Ông cố dạy cha mẹ tôi bơi, nhưng chẳng bao giờ cha mẹ tiến bộ quá mức lội xuống nước đến
đầu gối ở bãi biển và làm các động tác khoát tròn. Nếu cha mẹ tôi đang tập bơi ếch chẳng hạn,
thì trông như họ đang đi trong rừng, vừa đi vừa lấy tay vạch cỏ trước mặt. Còn nếu cha mẹ tập
bơi sải thì trông như họ đang chạy từ trên đồii xuống và cứ phải vung tay cho khỏi ngã. Anh
Ravi thì cũng kém hăng hái chẳng thua gì thế.
Mamaji phải đợi đến khi tôi xuất hiện để có thể có được một môn đệ hăng hái. Ngày tôi đến
tuổi bơi lội, tức là lên 7, theo tuyên bố của Mamaji và khiến mẹ tôi phát phiền, ông đem tôi
xuống bãi biển, khoát tay về phía chân trời và nói: "Đây là món quà của ta cho con."
"Rồi ông ấy suýt để con chết đuối". Mẹ tôi bảo vậy.
Tôi vẫn trung thành với thủy sư phụ của mình. Dưới con mắt canh chừng của ông, tôi nằm
trên bãi biển, quẫy chân, quạt tay trên cát, đầu quay bên này bên kia để thở theo mỗi động tác.
Chắc hẳn trông tôi như một thằng nhóc đang làm mình làm mẩy một cách chậm chạp rất lạ.
Dưới nước, ông giữ cho tôi nổi và tôi hết sức bơi. Khó hơn nhiều so với tập trên cạn. Nhưng
Mamaji kiên trì và đầy khích lệ.
Khi ông thấy tôi tiến bộ rồi, chúng tôi bắt đầu chấm dứt những cuộc chạy nhảy nô rỡn với
những làn sóng xanh biếc sủi bọt của bờ biển và bắt đầu việc luyện tập qui củ (và phải trả tiền)
trong cái phẳng phiu nghiêm túc của hồ bơi cư xá.
Mỗi tuần ba lần, vào Thứ Hai, Thứ Tư và Thứ Sáu, trong suốt những năm thơ ấu, tôi đãđi với
ông đến bể bơi vào sáng sớm và thực hiện một thứ nghi lễ chính xác và đều đặn như một cỗ
máy đồng hồ của bài luyện tập bơi sải. TÔi còn nhớ như in hình ảnh sinh động của ông già
đáng kính đang bắt đầu khoả thân bên cạnh tôi, cơ thể ông lô ra dần, và cuối cùng chỉ hơi quay
đi để giữ thể diện với bộ quần bơi của vận động viên chính cống nhập khẩu đẹp tuyệt. Ông
đứng thẳng người trong tư thế sẵn sàng. Hình ảnh ấy thật giản dị và hùng tráng. Học bơi, rồi
tập bơi, thật cực nhọc nhưng có niềm khoái lạc sâu xa khi cảm thấy mỗi động tác của ta ngày
càng nhẹ nhàng và đưa ta lướt tới nhanh chóng hơn, nhanh hơn nữa, cho tới lúc như mê đi, và
khối nước nặng như chì trở thành một chất lỏng nhẹ bổng.
Từ ấy tôi lẻn trở lai biển một mình, một khoái lạc tội lỗi, đáp lại sự mời mọc của những ngọn
sóng hùng vĩ...
 





