Bài giảng online: Tôi đi học

Tài nguyên thư viện

Ôn thi ôn lớp 10 THPT

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát: Bài ca thư viện

    Ảnh ngẫu nhiên

    C1.jpg B3.jpg C1.jpg QC.jpg He_tieu_hoa_o_nguoi_1.png So_do_mach_dien_cam_bien_nhiet_do_1.jpg Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat_2.png

    Sách điện tử sách Bác Hồ

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NINH SƠN - NINH BÌNH💕💕

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Đất nước đứng lên

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
    Ngày gửi: 23h:06' 03-12-2024
    Dung lượng: 571.4 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    PHẦN THỨ NHẤT
    I
    II
    III
    PHẦN THỨ HAI
    I
    II
    III
    IV
    PHẦN THỨ BA
    I
    II
    III
    IV

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Đất nước đứng lên
    Nguyên Ngọc

    Nhà xuất bản Kim Đồng 2006

    PHẦN THỨ NHẤT

    I
    - Ơ mai[1] Du ơi, suốt lúa nhiều có đau tay không? Ngó lên trời kia kìa, cái nắng nó cũng bay với
    lũ con chim phí đẹp chưa?
    Lũ con chim phí đang ăn lúa trên bẫy, không ai đuổi cả, tự nhiên không hiểu nghe cái gì, cả lũ ngẩng
    mấy cái đầu nhỏ xíu lên nhìn ngang nhìn ngửa ngơ ngác, rồi bay vụt lên một loạt, nắng trên cánh đỏ đỏ
    nâu nâu.
    Mai Du nghe mai Liêu gọi, tay vẫn suốt lúa, ngẩng lên nhìn chim:
    - Ơ mai Liêu ơi, suốt lúa chưa nhiều, không đau tay đâu. Phải suốt cho mau chớ. Suốt lâu mai mốt
    thằng Pháp tới rẫy nó lấy hết hột lúa, không có mà ăn, bụng đói đi vào rừng đào cái củ mài, khổ lắm
    đấy!
    Hai chị em vừa suốt lúa vừa hát:
    Lúa ta đã chín vàng
    Chim ơi chim hãy bay đi!
    Này con chim phí, chim kơ-tía
    Chờ khi ta cúng giàng xong rồi
    Chim hãy về đây ăn hạt lúa rơi
    Lúa đó là của lũ chim
    Còn lúa này là của ta
    Vợ chồng ta mai chiều mang gùi ra rẫy
    Khổ nhọc làm nên hạt lúa này…
    Gùi lúa của hai người mang sau lưng mỗi lúc một đầy. Liêu quay lại nhìn Du hai ba lần, ngập
    ngừng, rồi đi sát lại gần Du, hỏi:
    - Du ơi, khi mai đi ra rẫy, Du có ghé múc nước ở suối Thi-om không?
    - Có múc ba trái bầu, bốn trái bầu đó, để trong nhà rẫy đó. Liêu có uống vào lấy mà uống.
    Liêu lắc đầu, đưa một ngón tay vén tóc phủ xuống trán:
    - Không uống, không khát nước đâu… Nè, Du đi ra nước suối Thi-om, thế Du có thấy anh Núp lưng
    đeo gùi, tay cầm cái rựa, đi xuống phía suối Đất-hoa không?
    - Có thấy. Anh Núp đi Đê-pô mua muối cho mẹ đấy.
    Liêu không suốt nữa, cứ vân vê bông lúa miết, sau mới nói nhỏ:
    - Không phải đâu, Du à. Anh Núp đi An-khê đó.
    Đôi lông mày Liêu nhíu lên:
    - Làng Kông-hoa mình không theo Pháp, nó kêu đi xâu, không đi, nó kêu đi thuế, không đi. Nó đánh,
    mình bỏ chạy trong núi, thế mình đi An-khê gặp nó, nó có bỏ tù không hở Du?
    Du cũng không biết:
    - Nó biết chắc nó bỏ tù đó… nhưng mà anh Núp không đi An-khê đâu, mẹ anh Núp nói với tôi anh
    đi Đê-pô mà.
    - Anh Núp nói với mẹ không thiệt cái miệng đâu. Cái bụng anh muốn đi An-khê, cái chân anh đi

    An-khê, mà cái miệng anh nói với mẹ là anh đi Đê-pô thôi… Du ạ, anh Núp nói với tôi là anh đi Ankhê mà…
    - Đi An-khê làm gì hè?
    - Anh Núp muốn đi coi thằng Pháp thử.
    - Coi thằng Pháp à, coi sao được nó, nó bỏ tù làm sao?…
    Liêu hỏi Du để đỡ lo lắng. Nhưng hỏi rồi lại càng lo lắng hơn.
    Buổi sáng nay, Liêu mang gùi ra rẫy, đến nước suối Thi-om thì gặp anh Núp. Anh Núp đứng trên
    hòn đá, nước chảy dưới chân. Nước chảy gặp hòn đá, nó tức quá, sôi bọt lên trắng xoá. Anh Núp lấy
    tay làm cái chén, đang uống nước suối. Anh đưa cho chị Liêu một cái “chum”[2] rất đẹp.
    - Cho em đấy.
    Liêu cầm cái chum, hai má đỏ, buộc thử ngang bụng, cúi xuống giấu hai con mắt đen láy, nói:
    - Khi hôm Liêu nghe anh thổi kèn đing-nam, hay quá… Bây giờ, anh đi đâu?
    - Anh đi An-khê.
    Liêu mở tròn hai con mắt lớn:
    - Đi An-khê làm chi? Anh không sợ thằng Pháp à? Tháng trước lũ làng Ba-lang không chịu đi xâu,
    nó tới bỏ bom chết ba mươi người. Ngày bữa kia, nó bắn làng Đê-tùng trong nhà rông chết mười bảy
    người. Nó ghét người Ba-na mình lắm, anh đi coi nó làm chi?
    Núp lấy ngón chân tẩy một cái rêu trên hòn đá:
    - Nó làm chết người Ba-na mình nhiều quá, Liêu ạ. Anh đi coi thử đánh có được không… Thôi, ông
    trời lên cao rồi, anh đi cho kịp.
    Liêu không hiểu gì cả, đứng nhìn theo, thấy cái tóc của Núp gió thổi bay bay, rồi mất vào trong lá
    cây màu xanh. Liêu tháo cái chum ra, nhúng xuống nước cho dẻo sợi giang, quấn tròn lại, giấu thật kỹ
    vào đáy gùi, rồi leo lên đường, đi ra rẫy.
    Đi ngang qua rẫy của anh Núp. Liêu dừng lại ngó vô. Lúa của Núp chín rồi, bà mẹ anh đang suốt,
    cái lưng cong xuống. Cái rẫy của anh Núp tốt quá, to quá, to nhất làng Kông-hoa. Bề dài nhiều sải tay
    lắm, đếm lộn nhiều lần, đếm không hết. Bề ngang cũng nhiều sải tay lắm, đếm cũng không hết. Trước
    kia ở đây có nhiều cây to, ba bốn người nối tay nhau ôm không hết cái bụng cây, có nhiều hòn đá to,
    bằng con heo cũng có, bằng con trâu cũng có. Anh Núp không có cha từ năm lên hai tuổi, chỉ còn mẹ
    già, em nhỏ, thế mà giỏi quá. Một mình chặt miết cũng ngả được cây to, đẩy được hòn đá, cho lửa ăn
    cái rừng, tỉa lúa, tỉa bắp xuống, làm ăn no đủ nhất làng. Lũ già làng như bok[3] Pa, bok Sung thương
    anh Núp, tối ngồi ở nhà rông, gõ ống điếu xuống cối gạo, khen:
    - Núp con người tốt, biết làm ăn, thanh niên trong làng làm rẫy không ai bằng Núp. Lũ làng có ai
    đau, Núp trước tiên đi vô rừng hái cái lá tốt về cho uống mau lành; lũ làng có ai chết, Núp trước tiên
    đi vô núi tìm cái cây to về làm hòm. Con người có cái tay giỏi, đan cái gùi cũng được, đan cái rổ cũng
    được. Già làng nói biết nghe lời, tốt lắm!…
    Liêu nghĩ mãi quên cả suốt lúa. Du quay lại, thấy Liêu đứng lặng một chỗ, tay cầm cái bông lúa,
    mắt ngó chăm chăm. Buổi mai này, lục trong gùi của Liêu thấy cái chum giấu kỹ trong đó, biết là chum
    của anh Núp cho, tự nhiên Du cũng hơi buồn, ngực hồi hộp, từ mai giờ ít muốn nói chuyện. Nhưng bây
    giờ thấy Liêu lo, trong bụng Du chỉ thấy thương Liêu hơn. Du rón rén đi tới sau lưng Liêu, hù một cái.
    Liêu giật mình, suýt đổ cả gùi lúa. Hai chị em ôm nhau cười giòn tan. Du chỉ vào mặt Liêu.
    - A, bắt được rồi, bắt được rồi, con mắt mày ngó cái bông lúa mà cái bụng mày nghĩ tới anh Núp,
    phải không?
    Liêu nắm chặt lấy hai tay Du, hai má đỏ lên, tóc đổ xuống trán, lắc đầu chối:
    - Không phải đâu! Không phải đâu!
    *

    * *
    Núp lội qua suối Thi-om, đi một đoạn đường rừng, tới con suối lớn Đất-hoa. Bên này suối Đất-hoa
    là làng Kông-hoa của Núp, bên kia suối Đất-hoa là làng Ba-lang. Hai làng ở gần nhau, ngày cúng lúa
    mới, ăn cơm mới, thường qua lại đánh chiêng với nhau nên quen. Hôm nay lũ người Ba-lang đi bắt cá
    ở suối Đất-hoa nhiều.
    Ba-lang trước nay cũng không chịu đi xâu, nộp thuế cho Pháp, Pháp đem máy bay đi tìm. Lũ người
    nhỏ không biết, chạy ra coi. Nó thả bom xuống. Bom nổ ra lửa. Lửa ăn cả rừng, cả người. Mẹ bồng
    con, tay con còn chỉ cái máy bay, cả mẹ cả con thành cục than. Ông già chết không còn râu, không còn
    tóc, nằm queo trên hòn đá. Ba mươi người không biết sống nữa rồi. Lũ[4] người còn lại rúc trong hốc
    đá không dám đi ra rẫy, ăn trái cây như con thú trong rừng. Pháp cho người theo nó tới nói:
    - Về đầu Pháp đi, Pháp còn trái bom có thứ lửa ăn được cả hòn đá nữa, mai mốt Pháp còn đi thả tất
    cả núi rừng.
    Ba-lang phải về đi xâu, đi thuế. Còn một số người chưa chịu về, trốn ở hai bên bờ suối Đất-hoa,
    nghe máy bay kêu thì xuống nước trốn lửa. Không có gì ăn, chỉ còn da, không còn thịt.
    Từ đời ông đời cha, người Ba-na đã khổ như thế này rồi. Đi xâu đi thuế cho Pháp hai tháng, ba
    tháng, bỏ rẫy, chết người, nhớ núi, nhớ suối. Không chịu nổi, phải chạy vô núi trốn. Trốn trong núi một
    tháng, hai tháng. Pháp đi tìm ra, lại phải về đi xâu, đi thuế. Miết miết như thế, không biết khi nào hết…
    Qua suối Đất-hoa, Núp gặp một ông già cõng một đứa con nít. Ông già không có áo, không có khố
    mặc, áo khố Pháp đốt cháy hết rồi, chỉ có một miếng vỏ cây đập dẹp đeo trước bụng. Núp nắm tay
    thằng bé, hỏi:
    - Tên nó là gì?
    - Tên nó là Xá đấy.
    - Cha mẹ đâu?
    - Cha mẹ đi xâu cho Pháp chết mất rồi.
    Em ruột Núp cũng tên là Xá. Em Xá và mẹ rồi cũng như thế này. Núp cắn môi, bỏ đi, quên chào
    ông già.
    *
    * *
    Núp đi suốt ngày mới tới Đê-pô. Hỏi Đê-pô không có muối, nhờ người Đê-pô dẫn đi An-khê, Đêpô là làng ở gần An-khê, từ đời ông bà đã có đánh Pháp, sau đánh không nổi, phải về ở đây. Người
    làng Đê-pô nhận Núp là bà con, dẫn đi An-khê, Pháp sẽ không hỏi gì…
    Đi càng tới gần An-khê, rừng càng thưa dần. Từ nhỏ quen đi trong rừng rậm, bây giờ ngó lên thấy
    ông trời đất rộng, núi bốn phía thấp xuống, tự nhiên Núp nghe lành lạnh. Núp đi chậm lại, nghĩ:
    - Mẹ biết mình đi An-khê, chắc mẹ muốn khóc lắm. Pháp bắt mình, chắc mẹ chết quá.
    Có khi đang đi, Núp đứng lại, quay ngó phía sau lưng, phía hòn núi Chư-lây. Người Đê-pô dẫn
    đường hỏi:
    - Sao đó, không đi nữa à?
    - Không phải đâu… đi chớ, con kiến cắn cái chân gãi một chút…
    Phải đi chớ, thế nào cũng phải đi! Cứ nhớ tới đêm qua nói chuyện ở nhà rông, thì Núp lại nhất định
    phải đi, đi cho tới An-khê.
    Đêm hôm qua, Núp gùi củi ở rẫy về trễ, ăn cơm xong lên nhà rông[5], thanh niên đã họp đông đủ.
    Ghíp đánh đờn tơ-rưng. Mai Du hát bài hát nói cái đất nước Ba-na tốt đẹp:
    Ta luyến ta thương
    Đất nước ông bà

    Cái nơi làm rẫy,
    Cái bến nước ăn
    Cái làng cũ, cái nhà xưa
    Nơi bãi cỏ xanh xanh
    Có con trâu con bò gặm cỏ.
    Ta luyến ta thương
    Dòng suối nước trong
    Và rừng ta đi về lấy cây suốt cá
    Rừng ta đẹp chim bay về làm tổ
    Nước ta trong bờ suối nở hoa rừng…
    Bok Sung gõ ống điếu xuống nhà sàn cho lửa ăn thêm nhiều củi nữa, ngọn nó cháy to lên, rồi như
    thường lệ mọi đêm, bok bắt đầu kể chuyện cho lũ thanh niên nghe. Đêm nay bok Sung kể chuyện gươm
    ông Tú.
    Chuyện này xảy ra đã lâu lắm rồi. Ngày nay, ông Tú đã chết, nhưng sông, núi ông Tú vẫn còn. Bok
    Sung đưa một ngón tay ra hiệu cho mọi người im lặng, lắng tai nghe. Trong đêm núi rừng thanh vắng,
    xen lẫn tiếng lửa tí tách, nghe rõ ràng có tiếng nước suối chảy rì rào. Bok Sung chậm rãi nói:
    - Có nghe rõ không?… Đó là tiếng nước suối Thi-om. Nước suối Thi-om chảy về nước suối Đấthoa. Nước suối Đất-hoa chảy về nước con sông Ba. Nước con sông Ba chảy qua làng ông Tú, rồi còn
    chảy xa nữa chảy miết xuống đến chỗ rẫy của người Kinh, rồi chảy ra một con sông rất lớn, không có
    bờ, người Kinh gọi là biển…
    Lũ thanh niên ngồi nghe bok Sung kể chuyện, tưởng như thấy rõ ràng ông Tú trước mắt rồi. Ông Tú
    người to lớn, râu lưa thưa, con mắt ướt mà ngó thẳng, trên khố giắt một cái gươm dài. Đất nước mình,
    Ba-na, Ê-đê, Kinh, M'nông, Xơ-đăng… không ai có cái gươm như gươm ông Tú. Cái gươm đó không
    phải là gươm thường, đó là một cái gươm giàng[6]. Có cái gươm đó, không ai dám tới lấy đất nước
    mình, bắt người mình đi xâu, nộp thuế. Tự do đi làm rẫy, tự do đi bắt cá dưới suối, đi săn con thú trên
    rừng, ăn no, mặc đẹp, đánh chiêng, thổi kèn, bao nhiêu tre lồ ô trong núi đốn về làm đờn tơ-rưng, mùa
    lúa mới đánh đờn vui chơi cho hết một ông trăng… Cũng có một lần Pháp tới kêu người Ba-na đi xâu.
    Ông Tú đem gươm ra đánh, Pháp thua chạy hết cả… Nhưng có một bữa, trời mưa to gió lớn, sấm sét.
    Nước sông Ba to lên, chút nữa ngập hết rẫy làng. Ông Tú đem gươm ra múa, đánh mưa gió, cứu dân.
    Mưa gió phải chịu thua. Nhưng ông Tú múa mạnh quá, rớt mất cái lưỡi xuống sông Ba, chỉ còn cái cán
    cầm trong tay. Nước sông Ba chảy, trôi lưỡi gươm về dưới xuôi, người Kinh lấy được. Người Kinh
    giữ cái lưỡi, người Thượng giữ cái cán, hai người ở xa nhau, Pháp tới không có cái gì đánh nên phải
    thua. Pháp lấy được đất nước mình, bắt mình phải đi xâu, nộp thuế…
    Lũ thanh niên ngồi nhìn chăm chăm vào đôi mắt sâu và đen của bok Sung: chính đôi mắt ấy của bok
    đã nhìn thấy ông Tú đấy! Bok Sung thong thả vo một viên thuốc, nhét vào ống điếu, bẻ một cái nẹp ở
    sàn nhà, bắt lửa châm thuốc hút phà khói dày đặc. Cả cặp mắt sâu, cả hai gò má cao và nhăn, cả chòm
    râu dài và bạc của bok chìm mất trong khói. Bok Sung đợi cho khói tan dần, lũ thanh niên hết bàn tán
    xôn xao mới nói tiếp:
    - Bok Thiêng là ông nội tôi, bok Klăng là cha tôi dặn con cháu: muốn đánh Pháp phải đi tìm người
    Kinh, chắp lại cái gươm thì mới đánh thắng…
    Bok Sung kể hết chuyện, đêm đã khuya. Con chim chao-ao bay ngoài trời kêu “Chao ao! Chao ao!”
    Con cọp “bép” trên núi Chư-lây. Lũ già làng về đi ngủ cả. Chỉ còn thanh niên ở lại nhà rông, hơn mười
    người, ngồi lặng quanh bếp lửa. Nước suối Thi-om cứ chảy rì rào, rì rào trong đêm tối. Nước suối đó
    đi miết một đêm nay, sáng mai thì tới con sông Ba, trưa mai chắc tới ngang làng ông Tú… Ông Tú chết
    đã bao nhiêu năm nay rồi? Tại sao người Ba-na không ai biết đi tìm người Kinh để chắp lại cái
    gươm? Cái lưỡi gươm đó bây giờ lạc đi đâu rồi? Những lần đi làm xâu ở An-khê, người Kông-hoa
    như Núp, như Ghíp, như bok Pa… đều đã gặp người Kinh. Người Kinh cũng phải đi xâu, đi thuế cho
    Pháp, cũng khổ thế, có ai biết lưỡi gươm họ để đâu? Không có gươm ông Tú, đất nước khổ đến khi

    nào mới thôi? Cách đây mười năm, 1925, có người M'nông tên là Ma-Trang-Lơn[7] nổi lên đánh
    Pháp ở Lấc. Nhưng rồi sau cũng phải thua, cũng phải đi xâu, đi thuế. Chắc bok Ma-Trang-Lơn cũng
    không tìm được gươm ông Tú…
    Lửa cũng suy nghĩ, nó thấp ngọn xuống. Cả nhà rông im lặng.
    Gia nói trước tiên:
    - Lúa trên rẫy chín hết rồi, chắc thằng Pháp sắp đi lùng.
    Câu nói đột ngột làm cho mọi người lo lắng. Xíp ngồi trong bóng tối, đập một con muỗi, nói như
    nói một mình:
    - Làng Ba-lang như cái cửa, làng Kông-hoa như cái nhà. Tháng trước Pháp thả bom Ba-lang, Balang thua nó rồi. Chắc tháng này nó đánh đến Kông-hoa mình.
    Ghíp, người thanh niên thổi kèn hay nhất trong làng, cũng ngồi trong bóng tối, trùm chăn kín đến cổ,
    không thấy mặt, chỉ thấy đầu tóc quăn. Ghíp thở dài:
    - Sắp mất cái nhà, cái rẫy rồi, sắp đi vô rừng đào củ mài ăn rồi, khổ quá. Lúa ngoài rẫy đó không
    biết có ăn được không. Giàng bắt thằng Pháp đi, ác lắm!
    Một người đứng dậy, giọng nói ồ ồ:
    - Năm nay không chạy nữa, phải đánh nó đi, đánh nó chết mình mới có lúa ăn. Ông bà trước đánh
    Pháp, sao bây giờ mình không đánh. Chạy miết không sống nổi đâu. Chết hết người Ba-na còn gì.
    Người vừa nói câu đó là một thanh niên vạm vỡ, quấn chăn, ngậm ống điếu, đứng che cả bếp lửa.
    Lửa cháy bập bùng soi bóng anh lúc to lúc nhỏ lên tường nhà rông. Anh thanh niên có cặp mắt ướt, râu
    lún phún từ mang tai đến cằm.
    Ghíp thở dài, trả lời anh:
    - Đê[8] Núp ơi, đánh Pháp không được đâu. Phải chạy nữa thôi. Ông bà ngày trước cũng đánh
    không nổi, thua rồi đó.
    Núp rút cả cái ống điếu ra khỏi miệng, quay lại hỏi:
    - Tại sao đánh không được?
    Gặp đôi mắt sáng của Núp nhìn chọc thẳng vào bóng tối, Ghíp đã ngồi chỗ tối rồi, còn tụt lui vào
    bóng tối sâu hơn nữa. Ngồi xa lửa nghe hơi lạnh dưới sàn nhà thổi lên, thấm vào trong chăn, Ghíp càng
    rụt cổ lại, không trả lời.
    Nhong, anh thanh niên lớn tuổi nhất, xếp lại mấy cây củi, chậm rãi nói:
    - Pháp có xe, có máy bay, có súng nhỏ, súng lớn, ông bà đánh không được vì bắn nó không chảy
    máu đâu.
    Không khí nhà rông trở nên ồn ào. Kẻ nói Pháp cũng là người, bắn nó cũng phải chảy máu. Người
    nói nó như hòn đá, như cái cây, nó là Giàng. Trên trời nó đi cũng được, dưới nước nó đi cũng được,
    đánh trúng nó, nó không có máu. Ngày trước bok Klăng đánh, nó đem máy bay tới bay trên làng, bok
    Klăng lấy ná bắn trúng máy bay, cũng không thấy chảy máu, không thấy chết.
    Cãi nhau mãi tới lúc con chim chèo bẻo kêu. Ghíp vẫn thở dài, lắc đầu. Lũ thanh niên đều nghe theo
    Ghíp và Nhong. Chỉ còn một mình Núp chưa tin. Bàn tay to và đen nắm trùm cả đầu ống điếu còn
    nóng, Núp nhìn lửa, nói như nói với chính mình:
    - Để coi thử đã…
    *
    * *
    Đêm đó, chị Liêu nằm nghe nhiều tiếng đờn kơ-si réo rắt như tiếng gió thổi qua rừng sim. Nhưng
    Liêu cố chong tai lắng nghe không thấy có tiếng đờn của Núp. Liêu quen tiếng đờn đó lắm. Nghe tiếng
    đờn đó, tự nhiên trong bụng muốn trở dậy đi ra tỉa lúa cho mau xanh, muốn đi lên núi tìm con nai, tay
    muốn siêng dệt cái vải, đan cái rổ, cái gùi, và muốn thương nhau…

    Núp không ngủ được. Sáng hôm sau, anh dậy sớm mang gùi, cầm rựa nói với mẹ:
    - Ghè[9] muối nhà mình hết rồi. Con đi Đê-pô mua muối. Pháp có đi lùng cũng có muối ăn với rau,
    khỏi đói.
    Mẹ dặn Núp:
    - Pháp không thương người mình đâu, con ạ. Con đi phải để cái lỗ tai nghe tiếng chân nó, nó muốn
    giết người Ba-na mình lắm.
    Núp thương mẹ quá, anh muốn nói thật:
    - Mẹ ơi, con đi An-khê đây.
    Nhưng nghĩ: mẹ biết mình đi An-khê chắc mẹ khóc lắm. Mẹ khóc, chân mình đi không được. Nên
    lại thôi.
    Đi qua rẫy, thấy lúa tốt, tức trong bụng quá:
    - Giàng bắt thằng Pháp đi, mày làm khổ mẹ tao. Tao đi coi mày cho kỹ, mai mốt phải đánh mày
    chảy máu mới được!

    II
    Xíp nói đúng. Pháp đánh Ba-lang như mở được cửa rồi. Pháp bắt người Ba-lang dẫn đi đánh Kônghoa. Người Ba-lang trước không chịu đi, sau phải chịu đi.
    Pháp đánh Kông-hoa vừa khi mới suốt lúa xong, nhà rẫy nào cũng đầy lúa tới mái. Buổi sáng đi
    rẫy, bỗng nghe tiếng súng nổ. Thôi! Khổ rồi! Pháp đánh tới rồi! Súng nổ xa, rồi súng nổ gần. Súng nổ
    nhỏ, rồi súng nổ to. Không kịp dọn cái nhà, không kịp bắt con heo, con trâu, không kịp lấy cái áo, cái
    khố. Mỗi bếp[10] chỉ kịp mang một cái gùi gạo, một cái nồi, chạy lên núi Chư-lây. Mẹ Núp cõng em
    Núp trên lưng, lưng mẹ đã còng, thêm cái lưng em lên trên, lại còng hơn nữa. Mẹ sợ quá, không biết
    cầm cái gì, chỉ cầm cái bình đựng vôi ăn trầu. Mẹ kêu:
    - Ơ Núp ơi, con cõng gùi gạo này đi. Gấp gấp, gấp gấp! Lần này chắc cháy cái nhà, chết con heo,
    mất hột lúa rồi! Giàng ơi!
    Núp ở nhà rông vừa về, tay cầm cái ná, lưng đeo bó tên. Núp mang gùi gạo, bước xuống thang đi
    tìm Xíp:
    - Xíp mang giùm cái này vô trong núi cho mẹ tôi ăn.
    Xíp hỏi:
    - Sao Núp không mang?
    - Tôi mắc ở lại đánh Pháp đã.
    Xíp kêu:
    - Ố, anh Núp, không được đâu!
    Nhưng Núp đã kề lưng, sang gùi gạo cho Xíp, Xíp nhìn cặp mắt Núp màu hung sẫm. Xíp biết nói gì
    Núp cũng không nghe nữa đâu. Xíp mang gùi gạo chạy theo lũ làng.
    Mẹ Núp ra tới đầu làng, quay lại không thấy Núp đâu, vừa kêu vừa khóc:
    - Ớ Núp ơi, Núp ơi!
    Núp chạy đến:
    - Mẹ đi đi, con gởi gùi gạo cho Xíp mang vô núi trước rồi. Con không đi đâu, con ở lại đánh Pháp
    thử đã. Mẹ đi trước, đánh Pháp chảy máu rồi, con đi theo sau.
    Bà mẹ già suốt từ ngày Núp đi An-khê về đến nay đêm nào cũng khóc. Mẹ nói:
    - Núp ơi, sao con không thương mẹ, sao con nói với mẹ không thiệt. Con đi An-khê làm chi. Ai
    người theo Pháp đi An-khê Pháp cho đi, ai người không theo Pháp đi An-khê Pháp bỏ tù. Con có theo
    Pháp đâu mà con đi An-khê.
    Núp nhăn mặt:
    - Mẹ ơi, con không theo Pháp đâu. Con đi coi Pháp cho biết, bữa sau đánh Pháp! Con coi nó kỹ rồi,
    cái súng nó, cái xe nó, cái tàu bay nó giỏi thật, nhưng con người nó cũng giống con người mình thôi,
    không phải ông trời. Mai mốt con bắn thử xem có chảy máu không.
    Mẹ Núp kinh ngạc:
    - Ố, ố, một mình con đánh nó không được đâu!
    - Được, mẹ ạ. Con đánh thử trước, lũ làng bắt chước sau…
    Bây giờ Pháp tới rồi đó. Núp muốn đánh thử rồi. Bà mẹ nhìn Núp. Núp đã lớn, đã cao hơn mẹ một
    cái đầu rồi. Mẹ biết cái miệng người già nói không được cái bụng thanh niên đâu. Mẹ biết cái trán
    Núp bây giờ lớn lên đã nhô ra giống y hệt cái trán cha hồi trước, ương ngạnh lắm. Mẹ chùi nước mắt
    đi theo lũ làng, vừa đi vừa dặn với lại:

    - Đánh phải coi con đường trước, phải coi con đường sau!
    *
    * *
    Núp ngồi trong nhà rông chờ. Mặt trời vàng ngọn cây xoài trước làng, rồi vàng dần đến thân, đến
    gốc cây. Súng nổ ít. Hay Pháp đi đường khác rồi? Núp đi ra suối Thi-om coi thử. Đang đi, dừng lại,
    nghe có mùi khét. Con cọp? Nghe hòn đá nhỏ kêu lắc cắc. Lạnh trong lưng. Không phải con cọp.
    Thằng Pháp rồi! Mùi thằng Pháp cũng khét như mùi con cọp, khi đi An-khê Núp biết một lần rồi. Núp
    lùi lại một bước. Tự nhiên Núp muốn chạy. Ngó quanh ngó quất, không có cái bụi, không có cây to.
    Bốn phía toàn tranh. Phải có cái cây, cái bụi, hòn đá của mình nó giúp mình mới đánh được. Núp vụt
    chạy một mạch về làng. Ra sau cây xoài, ngồi xuống, lên ná, sẵn sàng. Pháp tới một đứa, hai đứa, ba
    bốn đứa, một chục đứa. Núp ngó kỹ. Chúng nó không thấy Núp. Con mắt nó ngó nhà, ngó cửa, ngó cây,
    ngó rừng, lấc láo, cái gì cũng lạ, nó sợ… Núp định bắn. Nhưng tự nhiên, tay Núp hạ ná xuống. Sực
    nhớ lời Ghíp: nó có chảy máu không? Bắn nó không chết, mình làm sao chạy được?
    Chúng nó đi vào nhà rông hết rồi. Một chặp lâu, nghe loảng choảng, loảng choảng trong nhà rông.
    Nó đập ghè rượu. Nó đập cái gì nữa, đổ lung tung, rầm rầm. Núp muốn chạy ngay vào nhà rông.
    Nhưng, một thằng Pháp đã thò đầu ra cửa nhà rông, nhìn qua nhìn lại. Nó bước ra. Nó đi lại cây xoài,
    thẳng tới chỗ Núp. Gần rồi. Núp nhìn nó chăm chăm. Hai bên mang tai nóng lên từ khi nào. Thằng
    Pháp không thấy gì. Nó đi nghênh ngang, ngực nó có lông, một túm đen, dày. Mắt nó màu xanh lét. Tóc
    hung. Nó như một con thú. Núp sực nhớ khi đi bắn con cọp, thằng Pháp giống y con cọp. Con cọp tới
    gần rồi. Một bước nữa thì nó thấy Núp. Cái mũi súng của nó hỉnh lên, đánh hơi. Núp chỉ còn thấy cái
    bụng nó.
    Pựt!
    Núp bắn rồi!
    Mũi tên trúng phập vào giữa bụng thằng Pháp. Nó đứng sững lại. Khẩu súng rớt. Nó ngã ngửa ra.
    Nó kêu, giống y con trâu bị đâm. Bọn Pháp trong nhà chạy ra đông quá, đếm không hết. Núp muốn
    chạy rồi. Nhưng con mắt còn muốn coi. Có máu không? Núp dòm một cái: thằng Pháp nằm ngửa, mũi
    tên cắm giữa bụng. Bụng nó trắng như một con ếch. Không có máu. Sao he? Sao không có máu?
    Một thằng khác tới, cầm mũi tên rút ra. A! Từ cái bụng trắng, một dòng máu đỏ chảy ra, rồi nhiều
    máu, nhiều máu nữa chảy ra, rất mạnh, chảy tràn hết cái bụng, chảy thấm xuống đất làng Kông-hoa.
    Núp vụt chạy, Pháp hô:
    - Văn xê! Văn xê![11]
    Moóc-chi-ê đuổi theo. Nổ bên trái, đùng! Nổ bên phải, đùng! Nổ sau lưng. Đạn muốn chạy theo
    Núp, kêu chít chít. Nhưng Núp chạy vô trong rừng rồi. Núp chạy luồn qua luồn lại trong rừng. Đạn
    không biết luồn, chỉ chạy thẳng, bị cây chắn lại hết. Đạn nổ trên cành cây, lá đổ rào rào trên lưng Núp.
    … Nhưng, súng im dần, rồi không nổ nữa. Trời tối xuống rồi. Con chim đi ngủ, thằng Pháp còn ở
    trong làng. Núp đi vô núi, tìm lũ làng. Đi miết không gặp. Đi phía tay phải, không có. Đi phía tay trái,
    cũng không có. Có khi nghe “sột”… tưởng lũ làng, nhưng lại nghe “béo… éo!” biết con cọp. Có khi
    mệt quá, gục đầu vào gốc cây, để cho lá cỏ lạnh nó xoa vào mặt, ngủ thiếp đi. Nhưng lại giật mình, tỉnh
    dậy. Không được. Ngủ ở đây, con cọp ăn mất. Con cọp ăn không ai nói cho Ghíp, Nhong, cho lũ làng
    biết thằng Pháp cũng chảy máu, cũng chết, không phải ông trời. Đi suốt một đêm trong rừng. Khi mừng
    thằng Pháp cũng chảy máu, khi tức nó lấy hết lúa rồi, khi thương mẹ chắc khóc nhiều lắm, khi nghĩ mai
    Liêu không biết chạy đi đâu rồi… Đến sáng còn đi, hết sương còn đi. Đi tới chỗ nước suối không biết
    tên. Bỗng thấy cái lá trên ngọn suối lắc qua lắc lại. Có người! Có bốn, năm đứa con nít. Thôi, đúng lũ
    làng rồi! Lũ làng thấy Núp, bỏ chạy. Núp bắc tay lên miệng kêu:
    - Không chạy nữa, không chạy nữa! Núp đây mà, không phải Pháp đâu!
    Bốn năm người chạy ra:
    - Ô! Anh Núp, anh Núp thiệt! Lũ làng ơi, thiệt anh Núp về rồi đây nè!
    - Bà mí[12] ơi! Bà mí ơi! Thôi, không khóc nữa! Anh Núp về rồi, đây nè!

    - Ô, anh Núp ơi, nghe súng nổ nhiều sợ không còn anh Núp nữa, khóc Núp sưng con mắt rồi đấy!
    Lũ làng xúm lại vây quanh.
    Núp cười nhìn mọi người, nhìn mẹ:
    - Mẹ ạ, lũ làng ạ, tôi bắn chảy máu một thằng Pháp rồi. Pháp không phải ông trời. Pháp đánh cũng
    được.
    Lũ thanh niên nhao nhao lại hỏi. Chỉ có Ghíp đứng sau thở dài:
    - Miệng anh Núp nói có thiệt không?
    Lũ thanh niên quay lại nhìn Ghíp. Bok Pa già, cái đầu sói, bok lấy hai tay đẩy thanh niên ra hai bên,
    đi đến gần Núp, để tay lên vai nói:
    - Anh Núp xưa nay không biết nói sai. Bây giờ im lặng để anh Núp nói nghe.
    Ghíp lẩn ra sau một cây to, đứng một mình. Ghíp nghe ồn ào rất lâu, rồi sau cùng bok Pa nói:
    - Núp làm như thế trúng cái bụng tôi lắm. Nhưng bây giờ Pháp chết người, Pháp thù Kông-hoa hung
    rồi, phải đi, đi xa nữa lũ làng ạ.
    Núp nói:
    - Tôi không muốn đi, tôi muốn cứ về ở Kông-hoa, Pháp tới, tôi, lũ thanh niên đánh nữa.
    Ghíp mở tròn con mắt trắng dờn. Không, Ghíp cũng không muốn đi. Ghíp muốn trở về làng Kônghoa, ở đó có thứ tre lồ ô mỏng vỏ làm đờn tơ-rưng rất tốt, ở đó Ghíp hay thổi kèn đing-nam bên bờ
    suối Thi-om, Ghíp muốn như anh Núp…
    *
    * *
    Cả làng kéo nhau đi năm ngày trong núi. Ban ngày đi, ban đêm Núp rủ lũ thanh niên lên ngồi trên
    hòn đá, coi chừng con cọp, con voi cho bà già, ông già, con nít, phụ nữ ngủ. Bok Pa đêm nào cũng tới
    chỗ Núp. Bây giờ Núp phải nghe lời bok rồi. Trở về Kông-hoa không được, mình còn yếu, Pháp trả
    thù thì chết cả làng. Núp hỏi:
    - Phải đi xa, đi đâu bây giờ hở bok?
    - Núp ạ. Ba-lang, Kông-ma, Đê-ta, Nga-gió, Hà-ro… bây giờ chịu về đi xâu cho Pháp hết rồi.
    Quanh hòn núi Chư-lây này, chỉ còn Kông-ka, Hà-nừng, Kông-lê xưa nay Pháp chưa tới. Kông-hoa
    mình phải lên làm làng ở gần đó, dựa vào ba làng đó mới sống được.
    Bok Pa mới chết vợ, còn một đứa con nhỏ, phải cõng trên lưng. Bok nói:
    - Núp à, bây giờ bụng tôi đúng như bụng Núp, tới chỗ mới tôi cũng làm ná, Pháp tới nữa thì phải
    bắn. Nhưng con tôi nhỏ quá, chắc tôi bắn không được. Núp muốn tôi làm gì. Núp nói tôi biết, tôi đi
    làm ngay.
    - Bây giờ phải nói cho lũ thanh niên chịu làm ná. Bok già chắc nói lỗ tai người nào cũng muốn nghe
    theo.
    Bok Pa cõng con đi nói ngay.
    Núp đứng một mình, suy nghĩ liên miên. Nhất định phải đánh Pháp, đánh được… Con suối chảy rì
    rào dưới chân Núp, chỗ tối đen, chỗ loang loáng sáng. Trong bụng Núp bây giờ cũng như thế. Núp
    đứng nhìn suối suốt đêm không ngủ…
    Làng mới làm lên bên bờ một con suối, cách làng Kông-ka nửa ngày đường, ở yên ổn được một
    năm.

    III
    Núp đứng dưới nhà sàn, trong bóng tối, tiếng con nít khóc nghe vừa buồn, vừa đau trong ruột, vừa
    bực tức. Núp nhớ tới đứa con bok Pa. Nó tên là Tun. Không có sữa mẹ, bok Pa phải nhai bắp non
    mớm cho nó. Bok để nó nằm ngửa giữa sàn nhà, cúi xuống, nước bắp non chảy dài trên má thằng bé,
    chảy xuống sàn. Hai cánh tay bok Pa giang ra, chống xuống sàn, giống như hai cánh con gà trống che
    cho gà con mất mẹ, to quá mà lại che không kín. Thằng bé không lớn được. Nó giống cha, nó chỉ có
    hai con mắt lớn, sáng, màu nâu.
    - Bok Pa ơi, bây giờ bok ở chỗ nào rồi. Thằng Tun chắc tối nay nó khóc lắm. Bok dỗ, nó kêu mẹ
    miết, nó không chịu nín. Khổ quá! Thù thằng Pháp quá!…
    Bok Pa bị Pháp bắt buổi sáng này rồi. Nó bắt cả Tun nữa.
    Tháng trước nó tới làng Kông-lê. Kông-lê chạy hai lần rồi cũng phải về đầu nó, chịu đi xâu. Sáng
    nay, nó tới rẫy làng Kông-hoa.
    Núp đi Kông-ka đổi muối chưa về. Thanh niên cũng có bắn ná. Nhưng Pháp bắn súng nhiều, thanh
    niên phải chạy cả. Nó bắt bok Pa, Tun, mai On, Gung, Gia, dẫn về đồn. Sẩm tối nó cho một người
    Kông-lê lên nói với Kông-hoa:
    - Pháp bỏ tù năm người Kông-hoa rồi. Dân làng Kông-hoa chịu về đầu hàng hết, Pháp tha năm
    người. Không chịu, Pháp giết năm người.
    Bây giờ Núp đứng đây, ông già Sung, Xíp, Ghíp, Du… đứng chung quanh. Ông già Sung nói:
    - Núp ơi, tôi không muốn bok Pa chết, tôi không muốn Tun chết… thôi, phải về đầu Pháp, đầu
    phép[13] thôi, Núp ạ.
    Núp cầm cái ná, muốn bóp dẹp cái ná:
    - Tôi không biết về đầu nó đâu!
    - Thế Núp có muốn bok Pa, Tun, On, Gung, Gia chết không?
    Núp cũng không trả lời được. Anh cắn cái răng, con mắt cay như có ớt. Cái ngực tức quá. Tại sao?
    Tại sao he? Tại sao cứ thua Pháp miết thế này? Làng Kông-lê cũng thua rồi. Mai mốt làng Kông-ka,
    Hà-nừng thua nữa, Kông-hoa chạy đi đâu? Còn đất nước đâu người Ba-na ở?… Người Kinh có gươm
    ông Tú không? Sao không thấy người Kinh đánh Pháp?…
    Núp đứng đó tới nửa đêm. Sao rua đứng trên đầu, Núp mới chịu bằng lòng với bok Sung. Thôi, để
    bok Sung dẫn một nửa dân làng mười bếp về đầu ghép với Pháp cứu bok Pa và bốn người. Còn mười
    bếp phải chạy, theo Núp, tới gần Kông-ka hơn nữa, làm làng mới, cắm thử chông. Trong số mười bếp
    chạy theo Núp, có bếp của Liêu, của Du, của Xíp, của Ghíp…
    *
    * *
    Ở gần Kông-ka một năm, Pháp lại đi đánh Kông-ka, Hà-nừng. Kông-ka, Hà-nừng phải kéo về đi
    xâu ở đồn Pơ-le-bông.
    Bây giờ Pháp đi đánh Kông-hoa nữa. Kông-hoa như hòn đá giữa suối, bốn phía toàn là nước, như
    con mang chạy lạc vào làng, bốn phía toàn là người. Núp muốn chạy nữa. Xíp nói:
    - Hết đường rồi. Chạy đi đâu, rừng núi ở đâu Pháp cũng lấy hết rồi. Ở đâu cũng không có người
    chống Pháp với mình nữa.
    Mười bếp Kông-hoa, mười bếp cuối cùng trong toàn vùng, bây giờ cũng phải chịu về đi xâu, đi
    thuế cho Pháp.
    Họ đi thành một hàng dài trong núi. Người địu con, người cõng cháu, người ôm cái mền, người dắt
    con heo. Buồn thúi cả ruột, không muốn nói chuyện nữa. Họ đi về sống tập trung với Pháp.

    Qua khỏi suối Thi-om, cả đoàn dừng lại nghỉ. Núp đi sau cùng. Anh đứng trên một hòn đá giữa
    suối, để cho nước suối lanh tanh leo lên chân, lên gần tới đầu gối. Lũ con nít cũng bắt chước, chạy ra
    nhúng hai chân xuống nước và cười. Nó không biết gì cả, nó chưa biết buồn. Mai mốt ở với Pháp, nó
    khổ nhiều lắm. Núp nhìn lũ con nít, thương quá mà không biết nói sao.
    Trong núi vang ra có tiếng đàn tơ-rưng. Nghe như tiếng gió thổi qua rẫy lúa chín, gặp mấy cây le
    non, kêu lên vu vu! Nghe như tiếng người con gái thổi lửa nấu cơm trong nhà rẫy và kêu lũ thanh niên
    đi suốt lúa về vào ăn.
    Đi sống tập trung với Pháp, tai không được nghe tiếng đờn tơ-rưng nữa rồi. Pháp không cho đốt rẫy
    to, làm nhà lớn, đi ra suối bắt cá, đi lên rừng bẻ rau. Pháp bắt đi xâu làm đường cho Pháp đi đánh lũ
    người Ba-na, Ê-đê, Kinh, Gia-rai khác nữa, bỏ cái rẫy không ai làm cỏ, cỏ ăn hết lúa. Đến mùa, người
    mình ăn cỏ, thằng Pháp ăn lúa. Đói, Pháp không cho đi tìm củ mài. Đi lấy được mật con ong, đứa nhỏ
    không được ăn, Pháp lấy ăn hết…
    Núp đứng nhìn bốn mươi người Kông-hoa ngồi bên suối. Mẹ Núp cũng ngồi trong đó. Tóc mẹ bạc
    rồi. Núp nóng trong cổ quá, uống nước hai, ba lần cũng chưa hết. Ông trời lên cao chói xuống nước
    loà con mắt. Núp kêu lớn:
    - Thôi, đi thôi, lũ làng ơi!… Trước khi đi tôi nói cái này: ai có cái ché tốt, ghè tốt, nồi, coong tốt
    bây giờ đem giấu hết trong rừng đi. Đừng đem về làng Pháp nữa, Pháp ưng lắm, Pháp cướp hết… Cứ
    để trong này, mai mốt khi nào mình chạy làng chống Pháp nữa, mình trở lại đây lấy.
    Xíp hỏi:
    - Khi nào mình chạy nữa?
    Núp nói:
    - Cũng chưa biết khi nào. Nhưng thế nào cũng phải chạy. Ở với nó, mình không sống nổi đâu…

    PHẦN THỨ HAI

    I
    Cách mạng như một cơn gió lớn, thổi tới tấp, tràn lan khắp cả miền Tây Nguyên bao la. Qua bao
    nhiêu ngọn núi, qua bao nhiêu con sông, hàng chục dân tộc đang không có con đường đi, đứng dậy một
    loạt, tưng bừng chào đón cách mạng như chào đón mặt trời.
    Làng Kông-hoa biết tin cách mạng một buổi sáng tốt trời. Lúa vừa chín. Theo phong tục Ba-na,
    thanh niên, phụ nữ đi đốn tre, chẻ lạt, nối thành sợi dây dài, cột từ rẫy về tới làng để cho lúa biết
    đường đi về nhà. Hai vợ chồng Núp mới mùa đầu đi làm rẫy chung với nhau, đang cột dây lạt, thì nghe
    có tiếng chân người chạy sau lưng. Quay lại thấy Khưu, người làng Ba-lang.
    - Chắc có Nhật đi bắt xâu rồi, phải không? Chạy làng nữa rồi, bỏ lúa rồi…
    Từ tháng ba, thằng Nhật tới đánh thằng Pháp ở An-khê. Lúc đầu, người Ba-na tưởng Nhật tốt thật.
    Kông-hoa bỏ làng Pháp, chạy về chỗ cũ. Pháp chạy trốn tới làng Kông-hoa. Núp xuống An-khê kêu
    Nhật lên đánh Pháp. Pháp chạy Núp lấy đư...
     
    Gửi ý kiến