Bài giảng online: Tôi đi học

Tài nguyên thư viện

Ôn thi ôn lớp 10 THPT

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát: Bài ca thư viện

    Ảnh ngẫu nhiên

    C1.jpg B3.jpg C1.jpg QC.jpg He_tieu_hoa_o_nguoi_1.png So_do_mach_dien_cam_bien_nhiet_do_1.jpg Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat_2.png

    Sách điện tử sách Bác Hồ

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NINH SƠN - NINH BÌNH💕💕

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Định tường xưa và nay

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
    Ngày gửi: 23h:09' 03-12-2024
    Dung lượng: 1.9 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Tên sách : ĐỊNH-TƯỜNG XƯA VÀ NAY
    Tác giả : HUỲNH-MINH
    Nhà xuất-bản : CÁNH BẰNG – SAIGON
    Năm xuất bản : 1969
    -----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
    Đánh máy : thuannguyen1088, pucapink, haracubicu, blacktulip161,
    lovelysnake289, satsukiphan, Nhan Le, vqsvietnam
    Kiểm tra chính tả : TrầnThị Thanh Nga, Ngô Kiều Trang, Phùng Văn Sơn,
    Hoàng Thị Xoan, Mihar Thảo, Nguyễn Thị Nhi, Trần Lê Hương, Nguyễn
    Thu Hiền, Thư Võ
    Biên tập ebook : Thư Võ
    Ngày hoàn thành : 8/12/2017

    https://thuviensach.vn

    Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
    QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
    Cảm ơn tác giả HUỲNH-MINH và nhà xuất bản CÁNH BẰNG đã chia
    sẻ với độc giả những kiến thức quý báu.

    https://thuviensach.vn

    MỤC LỤC
    LỜI NÓI ĐẦU
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    BẢN ĐỒ TỈNH ĐỊNH-TƯỜNG
    PHẦN THỨ NHỨT : SỬ-LƯỢC TRẢI QUA CÁC THỜI ĐẠI – ĐỊA
    LÝ TỔNG QUÁT
    SỬ-LƯỢC
    ĐỊNH-TƯỜNG HÀNH CHÁNH DƯỚI CHẾ ĐỘ TÂN TRÀO
    ĐỊA LÝ
    PHẦN THỨ NHÌ : DANH NHÂN – ANH HÙNG NHO SĨ KHÁNG
    PHÁP
    ĐỖ-THANH-NHÂN
    TẢ QUÂN LÊ-VĂN-DUYỆT
    HỒ-VĂN-LÂN
    LƯƠNG NĂNG BÁ NGUYỄN VĂN HIẾU
    CHƯỞNG CƠ ĐẶNG VĂN LƯỢNG
    ANH HÙNG TRƯƠNG VĂN HOẢNG
    CHƯỞNG CƠ LÊ-VĂN-THỤY
    LÊ-VĂN-QUÂN
    LÃNH-BINH NGUYỄN-VĂN-CẨN
    ÂU-DƯƠNG-LÂN
    PHAN HIỂN ĐẠO
    NGUYỄN VĂN LẠC (Học Lạc)
    CỬ NHÂN NGUYỄN-VĂN-THẠNH
    MAI-VĂN-NGỌC

    https://thuviensach.vn

    TẠM KẾT-THÚC
    PHẦN THỨ BA : DI-TÍCH LỊCH-SỬ – ĐỀN THỜ – LĂNG MỘ
    DANH-NHÂN
    DI-TÍCH LỊCH-SỬ
    ĐỀN THỜ
    CÁC NGÔI CỔ MỘ
    DANH-LAM CỔ SOÁI
    PHẦN THỨ TƯ : SỰ TÍCH – LỊCH SỬ – HUYỀN SỬ –GIAI THOẠI
    SỰ TÍCH
    LỊCH-SỬ
    HUYỀN-THOẠI
    GIAI THOẠI
    PHẦN THỨ NĂM : VĂN HÓA NGHỆ-THUẬT – THI THƠ TÂN
    CỰU
    THỔ-NGHI SẢN-VẬT ĐỊNH-TƯỜNG VÀ CÁC BỘ MÔN VĂN HỌC
    NGHỆ THUẬT
    VỀ BỘ MÔN SÂN KHẤU KỊCH NGHỆ
    THƠ TÂN CỰU ĐỊNH-TƯỜNG
    NHÂN-TÀI XỨ MỸ
    LỜI NHÀ BIÊN-KHẢO
    PHẦN THỨ SÁU : ĐỊNH-TƯỜNG NGÀY NAY
    ĐƯỜNG VÀO XỨ MỸ
    VĂN-HÓA GIÁO-DỤC
    KINH-TẾ
    Y-TẾ

    https://thuviensach.vn

    XÃ-HỘI
    TÍN-NGƯỠNG – ĐẠO-GIÁO
    ĐỊNH-TƯỜNG QUA VÀI THỔ-SẢN ĐẶC BIỆT
    NÔNG-SẢN LÀ MỘT NGUỒN LỢI DỒI DÀO CỦA NGƯỜI DÂN
    QUÊ
    BẢNG LIỆT KÊ
    DANH-SÁCH CÁC QUÍ VỊ TỈNH-TRƯỞNG ĐỊNH-TƯỜNG
    ĐỊNH TƯỜNG VỚI HUÊ VIÊN LẠC HỒNG
    PHẦN PHỤ LỤC : DANH-NHÂN LÃNH-BINH HUỲNH-KHẮCHƠN
    TRƯỚC KHI VÀO ĐỀ
    LÃNH BINH HUỲNH-KHẮC-HƠN
    KẾT-LUẬN
    CẢM-TẠ
    ĐÔI LỜI TÂM HUYẾT
    ĐÔI LỜI TÂM-SỰ
    TIẾNG LÒNG

    https://thuviensach.vn

    HUỲNH-MINH
    Sưu-tầm – Khảo-cứu
    các tỉnh miền Nam nước Việt
    Bảo tồn di tích lịch sử nước nhà

    ĐỊNH-TƯỜNG
    Xưa và Nay
    Tác-giả xuất-bản

    https://thuviensach.vn

    Non nước Định-Tường

    Mỹ Tho cảnh vật nên thơ
    Dệt tình luyến ai bên bờ Long Giang.
    Khoa Huân tô đậm son vàng
    Trong Nam Quốc sử rỡ ràng Rồng Tiên
    Danh còn vang dội sơn xuyên
    Ngũ Linh Thiên Hộ oai rền muôn thu
    Cồn Phụng rạng tiếng nhà tu
    Nghìn phương mây gió phiêu du đồng về
    Gió chiều thổi nhẹ lê thê
    Ai người trĩu nặng tình quê Định-Tường
    Mau về giải kiếp song phương

    https://thuviensach.vn

    LỜI NÓI ĐẦU
    Trên đường sưu tầm xuyên qua các tỉnh miền Nam tiền giang và hậu
    giang đã xuất bản như Kiến-Hòa xưa và nay, Bạc-Liêu, Cần-Thơ, VĩnhLong, Gò-Công nay trở lại tìm hiểu đất đai và nhân vật tỉnh Định-Tường
    qua nhiều khía cạnh, lịch sử, địa lý, danh nhân, di tích, huyền-thoại, sinh
    hoạt v.v...
    Định-Tường từ xa xưa vẫn là một tỉnh lớn trong sáu tỉnh của miền
    Nam. Tuy có kém quan trọng về mặt hành chánh, vì rất nhiều cơ-quan đầu
    não thiết lập tại Vĩnh-Long, nhưng Định-Tường lại rất trọng yếu về mặt
    quân sự. Những địa danh vang lừng về quân sự như Rạch Gầm, NguyễnHuệ đại phá quân Xiêm, Đồng tháp Mười gắn liền với những tên tuổi lớn
    Thủ Khoa Huân, Thiên hộ Dương, Lãnh binh Cẩn, có những trang sử oai
    hùng làm tăng phần quan trọng của Định-Tường chẳng nhỏ.
    Lại nữa, bao nhiêu nhân-vật ưu-tú của miền Nam, sau khi sáu tỉnh
    Nam-Kỳ thuộc Pháp, lui về sống đời ẩn dật để bảo tồn tiết tháo của bậc sĩphu, rải-rác ở các nơi Thuộc-nhiêu, Vĩnh-Kim, Cai-lậy, càng làm đẹp cho
    phong-khí Định-Tường. Đến ngày nay, nhắc lại những Phan-Hiển-Đạo,
    Phạm-Viết-Chánh, Học Lạc, Cử-Đa, Mai-văn-Ngọc, yêu mến các sĩ phu ấy
    bao nhiêu, ắt lòng càng trìu mến quê hương xứ Mỹ bấy nhiêu.
    Nhân tài Định-Tường về sau và gần đây cũng đều lỗi lạc. Về mọi
    ngành, đều có người xứng đáng làm tiêu biểu. Như cổ nhạc có nhạc sĩ Trần
    văn Triều tức bảy Triều xuất sắc, văn học thì có Nguyễn-văn-Bá, Cao-hảiĐể, Lương-khắc-Ninh v.v... Riêng về giới phụ nữ, thuở trước có SươngNguyệt-Ánh, về sau có Trần-ngọc-Diện đều là những người có tài uy-tín
    đạo đức cao, đóng góp tâm huyết để điểm tô trang sử Định-Tường đậm nét
    huy-hoàng.

    https://thuviensach.vn

    Nhìn quá trình lịch sử của tỉnh Định-Tường, lắm điều vẻ vang khiến
    được các thế-hệ sau tin tưởng ở khí thiêng non nước đã chung đúc vào
    mảnh đất « địa linh nhơn kiệt » ấy.
    Dù không nhiều danh lam thắng cảnh, nhưng những vườn dừa tươi tốt,
    vườn cây trái xum-xuê, nước sông Cửu-Long êm-đềm, tất cả giúp ĐịnhTường có bộ mặt khả ái nên thơ và quyến rủ du khách. Rồi đây với những
    chương-trình kiến thiết quy mô, trong tương lai tỉnh Định-Tường càng
    nhiều hứa hẹn.
    Chúng tôi không dám tự phụ sưu tầm đầy đủ, không bỏ sót một khía
    cạnh nào. Nhưng với tất cả cố gắng của chúng tôi, cuốn sách này ít nữa
    cũng giúp cho quý vị có một quan niệm tổng quát về tỉnh Định-Tường trong
    dĩ vãng và hiện tại.
    HUỲNH-MINH

    https://thuviensach.vn

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    Gồm các sách báo Pháp, Việt
    SÁCH PHÁP :
    – Monographie de la province Định-Tường
    – Paulin Vial, Les premières années de la Cochinchine (Tomes I-II)
    – P-Cultru, Histoire de la Cochinchine Française des Origines à 1883
    – Bulletin administratif de la Cochinchine
    SÁCH BÁO VIỆT :
    – Lục-tỉnh Nam Việt
    – Địa-phương chí Định-Tường
    – Gia-Định Thống-Chí (Trịnh-Hoài-Đức)
    – Đại-Nam nhứt-thống chí (Tu-trai Nguyễn-Tạo)
    – Đại-Nam thực lục chánh biên
    – Liệt truyện
    – Tạp-chí Tri-Tân
    – Việt-Nam văn-học sử (Dương-Quảng Hàm)
    – Nam-kỳ phong-tục diễn-ca (Nguyễn-Liên-Phong)
    – Lịch-trình hành-chánh Nam-phần (Đào-văn-Hội)
    – Anh-hùng kháng Pháp miền Nam (Đào-văn-Hội)
    Và xuyên qua những truyền thuyết của các bô-lão, thân-hào nhân-sĩ địaphương kể lại.

    https://thuviensach.vn

    BẢN ĐỒ TỈNH ĐỊNH-TƯỜNG

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    PHẦN THỨ NHỨT : SỬ-LƯỢC TRẢI QUA
    CÁC THỜI ĐẠI – ĐỊA LÝ TỔNG QUÁT

    https://thuviensach.vn

    SỬ-LƯỢC
    Lịch-sử tỉnh Định-Tường dĩ nhiên khởi thủy đồng thời với Nam-phần
    Việt-Nam, lúc trước có tên là Nam-Kỳ Lục-tỉnh.
    Do công trình khảo cứu của nhiều học giả thì từ thế kỷ thứ nhứt đến
    thế kỷ thứ sáu Cơ Đốc kỷ nguyên, miền Nam Việt-Nam và Cao-Miên ngày
    nay do dân-tộc Phù-Nam chiếm trị.
    Sau đó nước Phù-Nam sụp đổ, trong một khoảng thời-gian suốt ngàn
    năm, trên dãy đất hoang vu mà ban sơ người Việt-Nam ta gọi là ThủyChân-Lạp, người Tàu kêu là Cổ Chiêm Thành, sau này người phương Tây
    gọi là Basse Cochinchine, rồi Cochinchine, do các nhà hàng hải Bồ-đàoNha thấy miền duyên hải miền Nam nước Việt giống như miền duyên hải
    xứ Cochin nước Ấn-độ, nên gọi là « Cochin de Chine » tức Cochin gần
    nước Tàu (Chine) để cho khỏi lầm với Cochin bên Ấn-độ trên dãy đất rộng
    mênh mông nầy, sống rải rác nhiều dân-tộc, người Miên, Chàm, Mã-Lai, và
    người Tàu, phần đông chuyên về trồng tỉa hoặc bán buôn mà không có một
    chánh-quyền cai-trị nào vững chắc.

    NHÂN DÂN TRUNG PHẦN DI CƯ VÀO NAM
    Đầu thế kỷ thứ 17, nhân dân miền Nam Trung-phần vùng Quảng-Nam,
    Qui-Nhơn, Phú-Yên thường hay mất mùa phải đói khổ luôn, vả lại lúc ấy
    Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh đánh nhau cho nên số đông dân chúng gánh
    gồng, dìu dắt nhau tản cư, tìm nơi an toàn, phì nhiêu mà sanh sống.
    Đoàn di dân tiến về phía Nam nước Chiêm-Thành, có lẽ bây giờ là CùMi, La-gi, đổ bộ lên đất liền, lập nghiệp sanh cư, nơi đấy thuở ấy gọi là Mô
    xoài (hay Mô xúy) là vùng đất giữa Biên-Hòa và Phước-Tuy (Bà-Rịa) ngày
    nay.

    https://thuviensach.vn

    Đoàn khác lại theo dòng thủy triều mà tấp vào một nơi khác trên phần
    đất gò nông có nhiều điểu thú đa số là loài công, do đó truyền miệng nhau
    gọi là Gò-Công (Khổng-tước-nguyên).
    Đoàn người trôi dạt khác lại do theo cửa Cần-Giờ ngược dòng Nhà Bè
    trở lên một đồng bằng, có lẽ nơi đây họ gặp nhiều bầy nai thản nhiên ăn cỏ
    giữa cảnh thiên nhiên, cho nên đặt tên vùng đất mới là Đồng-Nai (Lộc dã)
    tức là Biên Hòa ngày nay.
    Lại có toán di dân tản lạc lên tới bình nguyên Prey-Kor mà khai khẩn
    ấy là Sài-Côn mà bây giờ là Saigon.

    BANG GIAO GIỮA VIỆT VÀ MIÊN
    Như trên chúng tôi đã nói, trên mảnh đất hoang dã mênh-mông có tên
    Thủy Chân-Lạp, di dân Việt-Nam bắt đầu khai thác, trồng tỉa, nơi đây đã có
    rải rác người Cao-Miên mà đa số lười biếng bỏ phế những nguồn lợi thiên
    nhiên.
    Một lẽ thông thường là người Cao-Miên đa số không chịu nhọc nhằn
    để sinh sống, tất nhiên tâm lý cướp giựt đã nảy nở trong quần chúng nghèo
    nàn và biếng nhác. Lúc bấy giờ dân Việt-Nam phải bị nhũng nhiễu và mất
    mạng rất nhiều, trước những bàn tay của thần dân Miên vương. Lẽ dĩ nhiên
    Việt quân phải ra tay để bảo vệ tài sản và sanh mạng của những đồng bào
    tha hương ấy.
    Sự bang giao chánh thức giữa các chúa Nguyễn với Miên vương khởi
    đầu vào năm 1623.
    Nguyễn Sãi vương là quốc trượng của vua Chân-Lạp Préas Chenchetta
    II lập thuế thương chánh và thương đầu ở xứ Prei Nokor, tức là Saigon.
    Năm 1658, để binh vực dân Việt-Nam làm ăn ở Thủy Chân-Lạp bị
    ngược đãi, chúa Hiền vương sai Hổ tướng Doanh Phú Yên là Nguyễn-phúc-

    https://thuviensach.vn

    Yến đánh bắt vua Miên là Nặc ông Chân, giam ở Quảng-Bình một độ rồi
    cho về nước, nhưng phải triều cống và bảo-vệ người Việt-Nam sang làm ăn
    trong vùng Đồng-Nai.
    Kế đó, từ năm 1658 đến 1759, ngót trăm năm, bao nhiêu lần trong
    hoàng tộc Cao-Miên, hoặc giữa anh em, hoặc giữa chú cháu xảy ra những
    vụ tranh chấp để dành ngôi vua thì họ cầu cứu cùng chúa Nguyễn, và sau
    khi đặng mãn nguyện rồi họ cắt những vùng đất trên Thủy Chân Lạp mà tạ
    ơn chúa Nguyễn mà thật sự họ cũng không thiệt thòi gì.
    Trong phạm vi nhỏ hẹp thiên khảo cứu về địa phương chí tỉnh ĐịnhTường, chúng tôi không thể kể rành mạch từng vị một vua Miên « cầu cứu
    » cùng chúa Nguyễn và nay cống tỉnh này, mai dâng tỉnh nọ.
    Chúng tôi chỉ thuật qua cuộc di cư quan trọng của nhân-dân miền
    Trung tự động vào Nam đầu thế kỷ 17 như trên đã nói, rồi sau đó là cuộc di
    dân của bọn người Tàu vào Đông Phố và Định-Tường vào năm 1679, sau
    cùng là cuối thế kỷ 17, Thống soái Nguyễn-hữu-Cảnh chiêu mộ những dân
    nghèo từ Quảng-Bình vào Nam.

    CUỘC DI DÂN CỦA NGƯỜI TÀU VÀO NAM
    Năm Kỷ Mùi 1679, Tổng binh thành Long-Môn (Quảng tây) nhà Minh
    tên là Dương-ngạn-Địch, Phó tướng là Huỳnh-Tấn và Tổng binh Châu Cao,
    Châu Lôi và Châu Liêm (Quảng tây) là Trần-thượng-Xuyên, phó tướng là
    Trần-an-Bình, cử binh phản nhà Thanh để mưu khôi phục cơ nghiệp nhà
    Minh.
    Thất bại, hai vị Tổng binh đem tướng sĩ xuống thuyền chạy sang hải
    phận nước Nam, thần phục chúa Nguyễn Hiền Vương.
    Chúa Hiền vương có ý nghi lòng thành thật của đoàn người này, bởi vì,
    trước đây dưới đời Trần, quân nhà Nguyên đã chẳng có lần muốn mượn
    đường Việt Nam xuống đánh Chiêm-Thành, để gây cuộc can qua với Việt-

    https://thuviensach.vn

    Nam nhưng cũng không thể xua đuổi họ được bởi lẽ họ đã cố ý xin thần
    phục mình.
    Nhân đó, Hiền-vương nghĩ cách đưa họ vào đất Thủy Chân Lạp một là
    để dùng họ làm những nhân công khai thác các vùng đất hoang, hai là để
    tránh xa bọn người chúa không trọn tin.
    Thế là nhứt cử lưỡng tiện vậy.
    Rồi ngài liền phong quan chức cho bọn Dương Trần và viết thơ giới
    thiệu bọn người Trung-Hoa này với Phó vương Nặc ông Non ở Saigon (Prei
    Kôi) yêu cầu tiếp nạp trọng hậu mấy người ấy. Thế là bọn quân sĩ trungnghĩa của nhà Minh lại phải lên đường. Đến vũng Gành Rái, đoàn người
    lưu vong chia ra làm hai ngã :
    – Bọn Trần thương Xuyên vào cửa Cần-Giờ, ngược dòng Đồng-Nai đổ
    bộ lên đất Ban lây (Biên-Hòa) và Đông-phố (Gia-Định) lập ấp doanh cư ;
    – Bọn Dương ngạn Địch và Huỳnh-Tấn theo dòng sông Cửu-Long lên
    cắm trại ở một vùng mà ngày nay gọi là Mỹ-Tho.
    Bây giờ Ban-lây (Biên-Hòa) là trung tâm điểm của nông-nghiệp và
    Thương-nghiệp, vì thế có nhiều nhà buôn bán Âu-châu Trung-Hoa, Mã-Lai,
    Nhựt-Bổn, thường lui tới mua bán, đổi chác hàng vật.
    Còn vùng đất Mỹ-Tho lại là nơi tiếp nạp những khách hải hồ vô trật tự.
    Năm 1688, Phó tướng Long môn là Huỳnh-Tấn giết chủ tướng Dương
    ngạn Địch mà cướp lấy binh quyền, tự xưng là Phấn-Dũng hổ oai đại tướng
    quân, lập đồn đấp lũy ở phía bắc Mỹ-Tho, cướp bóc khuấy nhiễu cả vùng
    Tiền-giang và uy hiếp cả Nam-Vinh (Nam-vang – Phom-Penh). Trước tình
    thế loạn lạc trong đất Chân-Lạp do bọn người Tàu gây ra, cố nhiên vua
    Chân-Lạp là Nặc-Thu sinh hờn chúa Nguyễn mà bỏ lệ triều cống.
    Đường khác, Nặc-Thu nhờ viện binh Xiêm tiến đánh phó vương Ông
    Non (thân Việt) ở Sài Côn, nhưng phải bại binh lui về Long Úc (Oudong).

    https://thuviensach.vn

    Chúa Nguyễn Vương Nguyễn-Phúc-Trăn gởi một đạo viện quân đến
    thanh trừng bọn loạn Tàu và luôn tiện phạt Nặc-Thu.
    Viên tướng chỉ-huy quân Việt gạt bọn Tàu làm cho họ lầm tưởng Việt
    quân tiến đánh Nặc-Thu, rồi tương kế tựu kế giết chết Huỳnh-Tấn, tiêu giệt
    bọn đồng lõa.
    Tiếp theo, Việt quân gởi thông điệp gọi tướng Trần thượng Xuyên ở
    Mô Xoài (đem binh đến liên hiệp đánh Nặc-Thu).
    Khi liên quân Việt-Nam đột nhập Nam-Vinh (Pnom Penh) Nặc Thu
    không dám cự xin thần phục và chịu dâng lễ triều cống như cũ.

    CHÚA NGUYỄN ĐẶT NỀN HÀNH CHÁNH TRÊN NAM
    PHẦN
    Năm Mậu Dần (1698) chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Chu, nhân năm
    1697 đã thâu được cả đất Chiêm-Thành vào bản đồ rồi, bây giờ bèn sai
    Nguyễn hữu Cảnh làm thống soái đem binh vào kinh lược đất Chân-Lạp.
    Tổ tiên ta bắt đầu chiếm trị Nam-Kỳ kể từ đấy.
    Nguyễn hữu Cảnh chia đất Đông phố ra làm dinh làm huyện :
    – Ở Đồng Nam đặt ra huyện Phước-Long (nay là Biên-Hòa), lập Trấn
    biên dinh.
    – Ở Sài-gòn, đặt ra huyện Tân bình (nay là Gia-Định, lập Phiên trấn
    dinh ; sai quan cai trị, mỗi dinh đặt một quan lưu thú, coi về việc hành
    chánh, một quan cai bộ (thủ quỹ) để giữ ngân khố và một ký lục (thẩm
    phán) hay về việc hình án.
    Người đặt đồn canh giữ, mở mang đất đai ra đến ngàn dặm, được hơn
    bốn vạn nóc gia, lại chiêu mộ những dân nghèo từ Quảng bình vào, đặt
    thành xã thôn, khẩn ruộng đất, lập ra sổ dinh điền, lại hợp bao nhiêu người

    https://thuviensach.vn

    Tàu ngụ tại Trấn-biên đặt làm một xã Thanh hà, và người Tàu ngụ tại Phiên
    trấn, đặt làm một xã Minh hương.
    Người Trung-Hoa ở hai xã này cũng như người Việt được hưởng một
    chế-độ cai trị như nhau.
    Năm 1731, người Lào tên Sa Tốt đem binh Chân-Lạp vào cướp phá
    Gia-Định, chúa Ninh Vương Nguyễn-phúc-Chu tức giận liền chiếm đất
    Định-Tường và Long-hồ, tức Vĩnh-Long (lập châu Định viễn và Trà Vinh
    (Vĩnh bình ngày nay).
    Cũng năm nầy, tỉnh lỵ Định-Tường từ Cái Bè được dời đến chỗ cũ bên
    kia bờ rạch Bảo định và vẫn chiếm địa điểm trên ấy mãi đến khi người Pháp
    đến.
    Năm 1753, chúa Võ Vương lập đạo Trường Đồn gồm đất Mỹ-Tho và
    Cao lãnh rộng đến biên giới Cao-Miên.
    Và sau đây là kết quả khai cương thác địa của dân tộc ta trên phần đất
    Thủy Chân Lạp.
    NĂM 1698 : Chúa Ninh-vương Nguyễn-phúc-Chu lập : Trấn biên dinh
    (Biên hòa) và Phiên trấn dinh (Gia-Định).
    NĂM 1714 : và mấy năm sau, nhận Hà-Tiên trấn do Mạc-Cửu và Mạc
    Thiên Tích khai thác và qui phụ vào Nam triều : Hà-Tiên (Phú-Quốc),
    Long-Xuyên (Cà-Mau), Kiên-Giang (Rạch-Giá), Trấn-Giang (Phong-Dinh),
    Trấn-di (Bạc-Liêu, Bãi-Xàu)
    NĂM 1732 : Chúa Ninh-Vương Nguyễn Phúc Chu chiếm : ĐịnhTường và Long-hồ (Vĩnh-long)
    NĂM 1744 : Chúa Võ Vương Nguyễn-phúc-Hượt lập : Trấn biên dinh,
    Phiên trấn dinh, Long hồ dinh và Hà tiên trấn
    NĂM 1753 : lập đạo Trường-Đồn, tức là Mỹ-Tho và Cao-Lãnh

    https://thuviensach.vn

    NĂM 1755 : nhận Tầm bôn và Lôi-lạp, tức vùng Soi-rạp (Tân-an bây
    giờ)
    NĂM 1757 : nhận Trà Vang tức Trà-Vinh (Vĩnh-Bình), Ba Thắc
    (Bassac, Sóc-trăng), Tầm phong long (vùng phía Bắc Bassac)
    Sau cùng, năm 1759, chúa Võ Vương lập 5 đạo : Đông khẩu đạo
    (Sadec), Tân châu đạo (cù lao giêng), Châu đốc đạo, Kiên giang đạo và,
    Long xuyên đạo (tức An-xuyên ngày nay)

    ĐỊNH-TƯỜNG ĐẪM MÁU DƯỚI THỜI TÂY-SƠN VÀ
    NGUYỄN-ÁNH
    Định-Tường là một tỉnh còn lưu lại nhiều thành tích lịch sử quan-trọng,
    sau khi được thâu vào bản đồ Việt-Nam. Chính Định-Tường đã nhiều phen
    chứng kiến những trận oai hùng giữa Chúa Nguyễn Ánh và Nguyễn TâySơn.
    Bị đánh đuổi vào Nam, Nguyễn-Ánh lê gót trên đường tẩu quốc khắp
    lục tỉnh Nam-kỳ và luôn dùng Định-Tường làm bàn đạp để tấn công Saigon
    do binh Tây-Sơn chiếm giữ.
    Lần đầu tiên, tháng 11 năm Bính Thân 1776, Nguyễn Ánh đến BaGiồng, tức một vùng đất rộng từ Rạch Gầm (Mỹ-tho) tới Giồng Cái én –
    Tân-an) để chiêu dụ quân Đông sơn mà Đỗ-thành-Nhân là chủ tướng.
    – Sau khi hai phen chiếm Saigon rồi lại thất thủ, tháng ba năm Nhâm
    dần (1782) Nguyễn-Ánh chạy xuống Ba-Giồng lần nữa vì thất một trận thủy
    chiến ở sông Ngã ba      , gần cửa Cần-Giờ.
    Tháng tư, ngài đến giồng Cai Lữ (vùng Rạch Gầm) thâu thập tàn quân
    độ 300, đánh chém được đô-đốc Tây-Sơn là Nguyễn Học thừa thắng đến
    Trấn định dinh (Tân-hiệp Mỹ tho).

    https://thuviensach.vn

    Vào khoảng tháng 2 năm Quí-Mão (1783) bị Nguyễn-Huệ và Nguyễn
    Lữ đánh tan chiến thuyền tại sông Saigon, Nguyễn-Ánh chạy xuống BaGiồng, tùng thần chỉ còn 5, 6 người, binh lính không đầy một trăm.
    – Bị bại nhiều trận liên tiếp, đến năm Giáp Thìn 1784, Nguyễn Ánh
    qua Xiêm lần thứ nhứt, viện được hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu
    Sương dẫn 20.000 quân và 300 chiến thuyền theo giúp.
    Tháng 11, Nguyễn-Ánh lấy lại được đồn Ba-Rài và Trà-Tân, vùng CaiLậy (Mỹ-Tho). Nghe Nguyễn Ánh ở Xiêm về, Nguyễn-Huệ từ Qui-Nhơn
    dẫn quân vào. Hai bên gặp nhau ở Rạch Gầm, Huệ đánh bại binh Xiêm
    chẳng còn manh giáp, đến đỗi Chiêu-Sương, Chiêu-Tăng phải bỏ cả binh
    thuyền đạp đường bộ chạy về Vọng Các, còn Nguyễn Ánh chạy qua CầnThơ, rồi năm 1785 lại sang Xiêm lần thứ hai.

    ĐỊNH-TƯỜNG DƯỚI THỜI GIA-LONG
    Năm 1788, sau khi khắc phục thành Gia-Định, chúa Nguyễn Phúc-Ánh
    sửa sang đất Nam-Kỳ kêu là Gia-Định, chia địa phận làm 4 Dinh : Phiên
    trấn dinh (Gia-định), Trấn biên dinh (Biên-Hòa), Trấn Vĩnh dinh (Vĩnh
    Long) và Trấn Định dinh (Định-Tường).
    Nhờ nhiều tướng tài phò tá và binh Pháp hộ trợ. Nguyễn Ánh đánh bại
    Tây-Sơn, thống nhứt Nam Trung Bắc và xưng đế hiệu là Gia-Long năm
    1802, định đô ở Phú Xuân (Huế) mới có danh hiệu Nam-Bắc.
    Phàm những tỉnh thuộc về Thừa Thiên thì gọi là Kinh Kỳ.
    Những tỉnh ở hướng Bắc thì gọi là Bắc Kỳ, còn những tỉnh ở về phía
    Nam thì gọi là Nam kỳ hay là Gia-Định trấn, thuộc hạt có : 4 trấn, 4 phủ và
    15 huyện.
    Và phụ thêm một trấn Hà-Tiên : 2 Đạo, 2 huyện.

    https://thuviensach.vn

    Vĩnh tường trấn (Định-Tường) là 1 trong 5 trấn gồm : 1 phủ Kiến An
    và 3 huyện : Kiến Đăng, Kiến Hưng, Kiến Hòa.
    Gia-Định trấn đặt chức Tổng Trấn và Phó Tổng Trấn để cai trị mọi
    việc, gồm coi cả 5 trấn.
    Ở các trấn thì đặt quan lưu trấn hay là quan trấn thủ, quan Cai bạ và
    quan ký lục để cai trị trong trấn.
    Trấn lại chia làm phủ, huyện như ta đã thấy trên, đặt dưới quyền Tri
    phủ và Tri huyện.

    DƯỚI TRIỀU MINH-MẠNG
    Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), vua bãi bỏ chức Tổng-Trấn thành GiaĐịnh và đổi trấn làm tỉnh, chia Nam-Kỳ làm sáu tỉnh, cộng 18 phủ, 43
    huyện, tức là : Gia-Định (Phan-Yên), Biên-Hòa (Đồng-Nai), Định-Tường
    (Mỹ-Tho), Vĩnh Long (Long-hồ), An-Giang (Châu-Đốc) và Hà Tiên.
    Trong mỗi Tỉnh, vua Minh-Mạng đặt những chức Tổng đốc Tuần-phủ,
    Bổ chánh sứ, Án sát sứ và Lãnh binh để đảm nhiệm việc chánh-trị, hành
    chánh và quân sự.

    DƯỚI TRIỀU TỰ-ĐỨC
    Đến năm 1851, dưới triều Tự-Đức, Nguyễn-Tri-Phương được bổ nhậm
    làm chánh sứ với chức Kinh lược 6 tỉnh Nam kỳ, Phan-thanh-Giản, làm Phó
    kinh lược. Cả hai nguyên sinh tại Nam Kỳ, đều tài năng xuất chúng, trổi
    hơn các kẻ đồng thời Tỉnh Định-Tường, thuở đó đặt dưới quyền cai trị của
    Tuần phủ Trà đình Túc, trực thuộc Tổng-Đốc ở Vĩnh-Long.
    Lúc binh đội Pháp vào đánh lấy Sài-gòn (1859) thì xứ Nam kỳ phân ra
    ba quận, mỗi quận do quan Tổng đốc cai trị.
    1. Quận Định biên gồm : tỉnh Gia-Định, tỉnh Biên-Hòa.

    https://thuviensach.vn

    2. Quận Long-Tường : tỉnh Vĩnh-Long, Định-Tường.
    3. Quận An hà : tỉnh An-Giang, Hà-Tiên.
    Riêng tỉnh Định-Tường gồm 2 phủ, 4 huyện : Phủ Kiên An, 2 huyện :
    Kiến Hưng, Kiến Hòa. Phủ Kiến Tường, 2 huyện : Kiến Phong, Kiến Đăng.

    QUÂN PHÁP XÂM CHIẾM NAM-KỲ – ĐỊNH-TƯỜNG
    THẤT-THỦ (ngày 12-4-1861)
    Năm 1859, vịn vào sự cấm đạo Gia-tô xảy ra từ đời Minh Mạng, ngày
    càng trở nên khắc nghiệt đi đến chỗ giết giáo sĩ, người Pháp và Y-pha-Nho
    đem binh thuyền sang đánh nước ta, chiến cuộc giữa Việt-Nam và Pháp bắt
    đầu từ đó và chấm dứt bằng sự thảm bại của ta đưa đến cuộc thống trị của
    người Pháp, kéo dài suốt 86 năm trời từ 1859 đến 1945.
    Sau khi đánh chiếm Đà-nẵng vào tháng 7 năm Mậu Ngọ (1858) quân
    Pháp dưới quyền chỉ-huy của Rigault de Genouilly đánh lấy thành GiaĐịnh (Saigon) nhằm tháng giêng năm Kỷ-Mùi (18-2-1859).
    Hai năm sau, từ Saigon, quân Pháp tiến đánh thành Mỹ-Tho (ĐịnhTường) vào cuối tháng hai năm Tân dậu (1861).
    Trận đánh nầy được xem là một trận chiến quan hệ nhất để mở đường
    cho quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ sau đó.
    Thuở ấy, tỉnh Định-Tường do Tuần phủ Nguyễn-đình-Tân cai trị, trực
    thuộc Tổng-đốc Trương-văn-Uyển ở Vĩnh-Long.
    Quân Pháp chia làm hai đội tiến binh theo hai ngã :
    – Một do đường sông, do Trung-tá Hải-quân Bourdais chỉ huy, với lựclượng gồm hai pháo hạm La Mitraille và l'Alarme, 5 tiểu pháo hạm số 18,
    20 và 31, 200 thủy-thủ, 20 quân Y-pha Nho và 1 súng tạc đạn.
    – Một theo đường biển do Phó đô đốc Page chỉ huy, cánh quân này có
    3 chiến hạm Fusées, Lily và Sham Rode.

    https://thuviensach.vn

    Có hai ngọn rạch nằm theo sông Vũng Gu (Vàm cỏ Tây : Vaico
    Occidental) thông với sông tiền Giang.
    1)– Rạch Arroyo de la Poste người Việt gọi là Bảo định hà sâu, đổ
    mau, trừ ra chỗ giáp nước. Lúc bấy giờ, rạch này có nhiều khúc hàn bít lại,
    một con đường lộ bị nhiều ngọn nước nhỏ bứt ngang, chạy dọc theo bên
    phía Tây rạch ấy và đang khỏi bờ khúc cách xa không đồng, còn các cầu đã
    bị phá sập hết.
    2)– Rạch Arroyo Commercial (Rạch Thương mãi) từ sông Vàm cỏ mà
    qua Tiền-giang thì mấy khúc của Rạch ấy lại gọi là Rạch Chanh, Kinh Bà
    bèo, rạch Cua và Rạch Ba Hài.
    Rạch này bị cỏ cây với bùn sình lấp cạn chỉ có ghe nhỏ đi được mà thôi
    và chỗ đó đổ ra là phía trên Mỹ-Tho.
    Đường nước này xem dường như là con rạch Arroyo Chinois nối dài,
    đi thấu qua trong xứ.
    Cánh quân của Trung Tá Bourdais phải mất gần một tháng để dò theo
    ngã sông Vàm cỏ tây (Vaico occidental) tiến tới được vào Bảo-định-hà,
    nhưng trước khi theo ngã này để tiến đánh Mỹ tho thì quân Pháp đã mất
    nhiều ngày giờ tiến quân vô hiệu quả bằng ngã Rạch Thương mãi (Arroyo
    Commercial).
    – Ngày 1-3-1861, quân Pháp bắt đầu lần theo Bảo-định hà đánh chiếm
    đồn thứ nhứt của ta.
    Ngày 2 và 3, quân Pháp phải lo nhổ mấy cây cừ do Việt quân cắm dưới
    lòng rạch làm chướng ngại vật cản đường tàn quân Pháp. Thêm một đồn
    của quân ta thất thủ.
    Ngày 4-4, viện binh Pháp từ Saigon được gởi đến, gồm một chiến hạm
    Echo với 200 bộ binh, 2 trung đội thủy quân Lục Chiến, 100 lính thủy, 50

    https://thuviensach.vn

    công binh, 2 đại bác, 2 súng tạc đạn, 20.000 viên đạn và một ban cứu
    thương.
    – Sau khi vượt qua 6 chướng ngại vật, ngày 5-4 quân Pháp vừa đến
    chướng ngại vật thứ 7 bị quân ta mai phục hai bên bờ rạch bắn xả xuống,
    quân Pháp thấy bất lợi, liền án binh chờ thêm tiếp viện.
    – Ngày 6-4 một đoàn viện binh thứ nhì được gởi tiếp đến gần một
    trung đội thủy thủ, một pháo thuyền có trí một khẩu súng tạc đạn nòng 15
    ly, những pháo hiệu, hai khẩu súng cối 16 ly bắn được 200 phát và nhiều
    pháo hạm để phá chướng ngại vật.
    Viện binh đến chướng ngại vật thứ 8, đoàn này được trung đội thủy thủ
    thứ 10 tăng cường, tức là 50 quân Tây ban Nha và nhiều súng tạc đạn (được
    tháo ra và mướn phu Hoa kiều khiêng).
    Quân Pháp đổ bộ và tiến dọc theo tả ngạn Bảo định hà, dưới quyền chỉ
    huy của Trung-tá Công binh Allizé de Matignicourt, pháo hạm chạy sau.
    Quân ta chận đánh, nhưng bị quân Pháp phản công mạnh nên tan rã,
    quân Pháp chiếm thêm một đồn quân.
    – Ngày 10-4, quân Pháp tiến gần đến Mỹ tho và khi đánh chiếm đồn
    quân thứ năm của ta, một pháo hạm bị trúng đạn, trung tá Bourdais bị tử
    thương.
    – Ngày 11-4, quân Pháp chiếm lấy đồn thứ 6, tức là đồn chót của ta bỏ
    trống, gần làng Trung lương, cách Mỹ-tho ba cây số.
    Tối 11-4, thêm viện binh đến, gồm có ngựa, 2 khẩu đại bác 12 ly và
    một đoàn xe chở quân nhu.
    – Ngày 12-4 sau khi cầu kỳ, đường sá được sửa chữa, quân Pháp tiến
    đánh thẳng vào Mỹ-Tho. Lúc cánh quân này còn cách Mỹ tho 1.500 thước,
    thì cùng lúc đó, cánh quân do Phó đô đốc Page theo đường biển đã tới, vào

    https://thuviensach.vn

    ngày 10-4 tại vàm sông Tiền giang, vượt qua một chướng ngại vật thứ nhứt
    trong đêm nay, mặc dầu bị quân ta ở tiền đồn bắn ráo riết.
    Ngày 11-4, đoàn quân thứ hai này vượt qua một cản thứ nhì do 2 đồn
    binh yểm trợ. Ngày thứ 2, sau khi xạ kích mãnh-liệt đồn binh ta, họ bỏ neo
    đối diện với thành Mỹ tho vào hồi một giờ rưỡi trưa.
    Thành trì quân ta đã bỏ trống 3 giờ trước, thủy thủ dưới quyền của
    Trung-tá hải quân Desnauve chiếm thành Mỹ-tho và thượng cờ Pháp lên.
    Ngày 13-4, cánh quân thứ nhất theo Rạch Bảo định, khi tiến sát thành
    Mỹ-tho đã thấy phất phơ cờ tam sắc và đoàn quân viễn-chinh Pháp chánh
    thức vào thành Mỹ-tho ngày 12-4-1861.
    Thành này có trí súng đại bác lớn, kho lúa gạo và tiền kẻm bị đốt, quân
    Pháp gặp đặng vài chiếc thuyền lớn tốt đóng bằng cây giá tị, để dùng về
    quân sự.
    Cuộc chiếm đóng Mỹ-tho gây một hậu quả trực tiếp và tất nhiên là sự
    chiếm cứ toàn thể lãnh thổ Định-Tường, lúc đó do Toàn phủ Nguyễn đình
    1

    Tân cai trị.
    Quân Pháp dời tỉnh lỵ sang địa điểm hiện thời, địa điểm cũ trở thành
    chợ Cũ ngày nay.
    Quân Pháp đặt nhiều đồn binh khắp nơi, nhứt là Cái Bè, Chợ gạo. Đó
    là những trung tâm hành chánh gọi là Tòa Tham biện, luôn luôn có một tiểu
    đội yểm trợ.

    ANH HÙNG HÀO KIỆT ĐỊNH-TƯỜNG DỰNG CỜ KHÁNG
    PHÁP NHIỀU NƠI
    Mặc dầu lúc bấy giờ quân đội V.N. đã bại trận ở Saigon (đồn Chí Hòa
    thất thủ) thành Mỹ-tho bị chiếm, song cuộc chống Pháp của dân ta vẫn tiếp
    diễn, do những ông Phủ Cậu, Thiên hộ Dương, Trương công Định, cầm đầu

    https://thuviensach.vn

    và được triều đình Huế âm thầm khích lệ. Vì thế cuộc thương thuyết giữa
    Nguyễn-bá-Nghị, khâm sai đại thần, với Thiếu tướng Pháp Bonard không
    có kết quả.
    Pháp quân bắt đầu triệt thoái, những đồn binh nhỏ như Gia-thành, Cà
    hôn, kế đó là Gò-Công, Chợ-Gạo.
    Tháng 11 năm Tân-dậu (1861) quân Pháp tiến đánh Biên-Hòa rồi
    chiếm đồn Bà-Rịa.
    Tháng 3 năm Nhâm Tuất, quân Pháp sang đánh Vĩnh-Long, lúc đó do
    Tổng-đốc Trương-văn-Uyển cai trị. Vĩnh Long thất thủ, triều đình Huế ở
    vào thế chiến bại nên ngày 5-6-1862 phái đoàn Phan-thanh-Giản và Lâmduy-Hiệp ký kết với Bonard một Hòa ước, gọi là Hòa ước năm Nhâm Tuất,
    nhượng cho Pháp ba tỉnh miền đông : Biên-hòa, Gia-định, Định-Tường và
    đảo Côn-Nôn.
    Mất ba tỉnh miền Đông, lòng dân càng công phẫn những cuộc kháng
    Pháp càng gia tăng. Riêng về tỉnh Định-Tường có những cuộc kháng chiến
    quan trọng của hai nhà nghĩa sĩ :
    – Thủ khoa Huân tức Nguyễn hữu Huân (1863-1874) và
    2

    – Thiên hộ Dương, tức Nguyễn duy Dương (1865-1866) mà chúng tôi
    sẽ nói sau với nhiều chi tiết.
    Ngoài ra, còn có nhiều cuộc kháng chiến lẻ tẻ, chúng tôi chép sau đây :

    I.–PHỦ CẬU
    Phủ Cậu (không biết rõ chắc là tên gì) hoạt-động mạnh trong vùng CaiLậy, lập tổng hành dinh tại vùng Thuộc nhiêu và Nhị Quí, và từ đó phái
    quân đánh phá các đồn binh Pháp, nhứt là đồn Cai Lậy bị công hãm thường
    hơn hết.

    https://thuviensach.vn

    Viên tham biện Pháp hồi bấy giờ là Đại tá hải quân phải thân hành đôn
    đốc quân Pháp hành quân chống lại quân của Phủ cậu.
    Đến ngày 6-1-1862 Phủ cậu chuẩn bị đánh đồn Cái Bè, nhưng lại bị
    quân Pháp dưới quyền chỉ huy của Đại úy hải quân Rieunier bao vây giữa
    Cái Bè và Cai Lậy và chẳng may ông Phủ Cậu bị bắt và bị xử giảo ngày
    hôm sau (7-1-1862).
    Cái chết của Phủ Cậu càng thúc đẩy sức kháng Pháp của người Việt
    Nam và các cuộc tấn công ngày càng gia tăng.
    Ngày 10-1, nhiều toán nghĩa quân từ Gò Công đến công phá các đồn
    binh Pháp, chận đường tiếp tế lương thực quân nhu, thiêu hủy trung tâm
    Rạch Cà hôn (xã Xuân đông, quận Chợ Gạo).
    – Ngày 22-1, công hãm đồn Rạch Gầm, đánh phá cùng một lượt 4 đồn
    Cái Bè, Cai Lậy, Thuộc Nhiêu, Rạch Gầm trong 28-1-1862.
    Trong việc tảo thanh nghĩa quân kháng chiến, lập được nhiều công
    trạng nhứt đối với Pháp là Trần-bá-Lộc, nguyên là đội nhứt, được thăng Tri
    huyện năm 1865 và về sau thăng Đốc phủ sứ và hàm phong Tổng Đốc tỉnh
    Thuận-Khánh.
    Trần bá Lộc được ủy thác quyền hành chánh trong vùng Cái Bè và Cai
    Lậy (gồm các quận Sùng hiếu, Giáo đức và Khiêm Ích ngày nay).
    Huyện đường đặt tại Cái-Bè, sau đổi qua Cần Lố (Sadec).

    2.–PHAN-LIÊM, PHAN-TÔN
    Tháng 11, 1867, hai người con của Phan-thanh-Giản là Phan Tôn và
    Phan-Liêm nổi lên chống Pháp tại Bến Tre. Cuộc khởi nghĩa lan tràn qua
    Mỹ-tho nhờ uy tín cụ Phan, dân quân hưởng ứng đông đảo, xây đồn đắp lũy
    khắp nơi.
    Phan-Tôn và Phan-Liêm thất bại, xuống thuyền ra Bình-Thuận.

    https://thuviensach.vn

    3.–THÂN-VĂN-NHIẾP
    Ngày 1-5-1868, một nhóm nghĩa quân dưới quyền Thân văn Nhiếp đột
    kích thành Mỹ-Tho, tấn công kho lương thực, hạ sát người giữ kho.
    Đêm 24-12-68, một nhóm nghĩa quân khác cùng các phó tướng là ông
    Rồng, ông Được, ông Long tấn công đồn Cai-lậy thiêu hủy nhiều căn nhà,
    nhưng bị 25 tên lính tập giữ đồn chống trả mãnh liệt, phải rút lui.
    Về sau, cả 4 người bị Trần-bá-Lộc bắt được và đem ra xử giảo tại chợ
    Cai-lậy.
    Tháng 5, năm 1860, một nhóm nghĩa quân có súng ống tấn công làng
    Đồng-Xuân huyện Bảo-An (Bến-Tre) giết viên cai tổng và người em làm xã
    trưởng, rồi rút về Định-Tường.

    4.–TRƯƠNG-HUỆ
    Năm 1870, Trương-Huệ, con của Lãnh binh Trương-Định khởi nghĩa ở
    Cai-Lậy rồi tử trận tại đấy.

    5.–THỦ-KHOA NGUYỄN-HỮU-HUÂN
    Trong các vị anh hùng khởi nghĩa, xin kể ông Nguyễn-Hữu-Huân vào
    hàng sĩ phu số 1 thời ấy.
    Ông sinh năm 1841, tại tỉnh Định-tường, năm chưa đầy 20 tuổi, ông thi
    đỗ Thủ khoa đời vua Tự-Đức.
    Gặp buổi nước nhà nghiêng ngửa, ông gác bỏ công danh để hưởng ứng
    phong trào khởi nghĩa và năm 1861, đứng ra tổ chức nghĩa quân chia đi
    hoạt động khắp trong tỉnh Định-Tường đến tận các miền Kiên-Giang, HàTiên, Châu-Đốc. Ông quyên được nhiều tiền và giao thiệp với các tàu buôn
    Hải-nam để mua khí giới ở Trung-Hoa.

    https://thuviensach.vn

    Sau hết lương thực, ông xuống Hậu giang chờ khí giới chở sang. Thế
    cùng, lực tận, ông phải giải tán bớt nghĩa binh và về ẩn náu ở Chợ Gạo,
    Định-Tường để mưu một cuộc khởi nghĩa khác.
    Năm 1863, bị quân đội Pháp bao vây, ông chạy thoát đến Châu-đốc,
    nhưng bị bắt giữ lại...
     
    Gửi ý kiến