Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Dốc hết trái tim

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:10' 03-12-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:10' 03-12-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
DỐC HẾT TRÁI TIM - POUR YOUR HEART INTO IT
Cách STARBUCKS Xây Dựng Công Ty Bằng Từng Tách Cà Phê
Howard Schultz - Chủ tịch và CEO của STARBUCKS và Dori Jones Yang
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Thư viện Sách mới http://sachmoi.net
Lời mở đầu
Quan tâm hơn người khác
tư duy khôn ngoan.
Mạo hiểm hơn người khác
tư duy an toàn.
Ước mơ hơn người khác
tư duy thực tế.
Kỳ vọng hơn người khác
tư duy khả thi.
Vào một ngày tháng Giêng lạnh giá năm 1961, bố tôi bị vỡ mắt cá chân khi đang
làm việc.
Lúc đó tôi mới bảy tuổi, đang hứng khởi chơi trò ném tuyết trên khoảng sân bị
đóng băng phía sau trường thì mẹ ló đầu qua cửa sổ căn hộ chung cư tầng bảy và hốt
hoảng vẫy về hướng tôi. Tôi lao như bay về nhà.
“Bố gặp tai nạn,” bà nói. “Giờ mẹ phải đến bệnh viện đây.”
Bố tôi, Fred Schultz, phải nằm ì một chỗ với cái chân treo cao trong suốt hơn một
tháng. Trước giờ tôi chưa từng nhìn thấy cái chân nào bị bó bột cả, thế nên ban đầu
chuyện này khiến tôi thích mê lên. Nhưng rồi trải nghiệm mới mẻ đó nhanh chóng
mất đi. Cũng giống như rất nhiều thời kỳ khác trong cuộc đời bố tôi, khi ông không
làm việc, chẳng ai trả lương cho ông cả.
Bấy giờ bố tôi là tài xế xe tải, chuyên nhận và chuyển phát tã lót. Trong nhiều
tháng trời, ông phàn nàn đầy bực dọc về mùi hôi và sự dơ bẩn mà ông phải chịu
đựng, ông bảo đấy là công việc tệ hại nhất trên thế giới này. Nhưng giờ đây khi đã để
mất nó, có vẻ như ông lại muốn được tiếp tục làm công việc này. Mẹ tôi đang mang
thai bảy tháng, bà không thể đi làm được. Gia đình tôi chẳng có thu nhập, chẳng có
bảo hiểm y tế, chẳng có bồi thường thôi việc, chẳng có gì để mà dựa vào hết.
Đến giờ ăn tối, em gái tôi và tôi im lặng dùng bữa trong khi bố mẹ tranh cãi về
chuyện họ sẽ phải vay bao nhiêu tiền, và vay của những ai. Có nhiều tối điện thoại
reo inh ỏi, và mẹ luôn bắt tôi phải nghe máy. Nếu đó là nhân viên thu tiền, bà sẽ chỉ
bảo tôi trả lời rằng bố mẹ đang đi vắng.
Em trai tôi, Michael, sinh vào tháng Ba; bố mẹ lại phải ngược xuôi vay mượn để
trả tiền viện phí.
Nhiều năm sau đó, hình ảnh cha tôi – ngồi phịch trên trường kỷ, chân bó bột,
không thể làm việc hay kiếm được một xu lẻ nào, cứ như thể ông đã bị cái thế giới này
nghiền ra cám – vẫn làm nhức nhối tâm trí tôi. Giờ đây khi nhìn lại, tôi thực sự cảm
thấy kính trọng ông vô cùng. Bố chưa bao giờ tốt nghiệp phổ thong, nhưng ông là
người tốt bụng và làm việc hết sức chăm chỉ. Nhiều khi ông phải nhận đến hai ba việc
một lúc để chúng tôi có cái ăn cái mặc. Ông rất thương ba đứa con của mình, và ông
chơi bong với chúng tôi luôn vào mỗi dịp cuối tuần. Ông cực mê đội Yankees.
Nhưng bố không thể trở thành một người đàn ông thành đạt. Trong tất cả các công
việc chân tay mà ông từng làm – tài xế xe tải, công nhân nhà máy, rồi tài xế taxi – ông
chưa bao giờ kiếm nổi 20.000 đô-la một năm, chưa bao giờ ông có khả năng sở hữu
một căn nhà nhỏ của riêng mình. Tuổi thơ tôi trôi qua ở Khu Quy hoạch, khu nhà do
liên bang trợ cấp, tại Canarsie, Brooklyn. Khi thành niên, tôi cảm thấy điều này vô
cùng nhục nhã.
Càng lớn, tôi càng thường xuyên tranh cãi với bố. Tôi trở nên cay độc về sự không
thành công của ông, sự vô trách nhiệm của ông. Tôi nghĩ rằng lẽ ra bố đã thành đạt
hơn biết bao nhiêu nếu nỗ lực và cố gắng.
Sau khi ông mất, tôi nhận thấy mình đã quá bất công khi đánh giá ông. Ông đã cố
gắng khiến mình trở nên vừa vặn với hệ thống xã hội này, nhưng cái hệ thống đó đã
xô đẩy ông. Vốn là người tự ti, ông chưa bao giờ có đủ dũng khí trèo ra khỏi hố sâu
để mang lại tương lai tốt đẹp hơn cho cuộc đời mình.
Ngày bố qua đời vì ung thư phổi, một ngày tháng Một năm 1988, là ngày buồn
nhất trong cuộc đời tôi. Ông chẳng có tiền tiết kiệm, chẳng có lương hưu. Quan trọng
hơn tất cả, ông chưa bao giờ đạt được thành công hay cảm giác được trân trọng từ
những công việc có ý nghĩa đối với bản thân ông.
Khi còn bé, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ làm chủ một
công ty. Nhưng từ sâu trong trái tim mình tôi biết rằng nếu đứng ở vị trí có thể tạo ra
được một sự khác biệt nào đó, tôi sẽ không bao giờ bỏ mặc những người đứng ở phía
sau.
Bố mẹ không thể hiểu nổi cái gì đã kéo tôi về phía Starbucks. Năm 1982, tôi bỏ
một công việc đầy uy tín, lại được trả lương cao, để đầu quân vào nơi mà lúc bấy giờ
chỉ là một nhà bán lẻ bé nhỏ ở Seattle với vỏn vẹn năm cửa hàng. Về phần mình, tôi
không nhìn vào thực tế của Starbucks mà tôi nhìn vào triển vọng của nó. Tôi đã ngay
lập tức bị mê hoặc bởi sự pha trộn giữa đam mê và bản sắc của nó. Tôi dần nhận ra
rằng, nếu có thể mở rộng ra phạm vi cả nước, bằng việc lãng mạn hoá nghệ thuật pha
chế cà phê espresso của Ý cũng như mang lại cho khách hàng những hạt cà phê rang
tươi mới nhất, Starbucks có thể khiến sản phẩm lâu đời này tái sinh một lần nữa và mê
hoặc hàng triệu người như nó đã từng mê hoặc tôi.
Tôi trở thành CEO của Starbucks vào năm 1987 khi đứng ra, với tư cách một
doanh nhân, thuyết phục các nhà đầu tư tin vào tầm nhìn chiến lược mà tôi vạch ra
cho công ty. Trong suốt mười năm sau đó, với đội ngũ các nhà điều hành sáng suốt và
dày dặn kinh nghiệm, chúng tôi đã đưa Starbucks từ một doanh nghiệp địa phương
chỉ với 6 cửa hàng lên quy mô quốc gia với hơn 1.300 cửa hàng và 25.000 nhân viên.
Ngày nay chúng tôi có mặt ở các thành phố trên khắp Bắc Mỹ, cũng như Tokyo và
Singapore. Starbucks trở thành một thương hiệu được nhận diện ở cấp quốc gia, thành
công này cho phép chúng tôi thử nghiệm các sản phẩm mới mang tính tiên phong. Cả
doanh số bán hàng lẫn lợi nhuận đều tăng hơn 50% một năm trong sáu năm liên tiếp.
Nhưng câu chuyện Starbucks không đơn giản chỉ là một kỷ lục về thành công và
phát triển. Nó còn khắc hoạ một con đường tạo lập doanh nghiệp thật sự khác biệt. Nó
là câu chuyện về một công ty hoàn toàn không giống những nơi bố tôi từng làm. Nó là
bằng chứng sống cho thấy rằng một công ty có thể vận hành bằng đam mê và phát
triển các giá trị tinh thần mà vẫn thu được lợi nhuận. Nó cho thấy rằng một công ty có
thể mang lại giá trị dài hạn cho các cổ đông mà không cần hy sinh phương châm đối
xử với nhân viên bằng tấm lòng trân trọng, bởi lẽ chúng tôi có một đội ngũ lãnh đạo
tin rằng đó là con đường đúng đắn và bởi lẽ đó chính là con đường tốt nhất trong kinh
doanh.
Starbucks tạo nên một nốt thăng đầy cảm xúc gắn kết mọi người. Nhiều người sẵn
sàng đi đường vòng để thưởng thức cà phê sáng tại những cửa hiệu của chúng tôi.
Chúng tôi đã trở thành một biểu tượng của lối sống Mỹ đương đại với tầm ảnh hưởng
mạnh đến mức logo mỹ nhân ngư màu xanh lục quen thuộc của chúng tôi xuất hiện
hết sức thường xuyên trên các chương trình truyền hình và trong cả phim ảnh. Chúng
tôi đã tạo thêm nhiều khái niệm mới vào những năm 1990. Trong một số cộng đồng
dân cư, các quán cà phê Starbucks đã trở thành một Địa điểm Thứ Ba – một nơi quây
quần ấm cúng và thoải mái thoát khỏi những bận rộn lo toan ở gia đình và công sở,
giống như một ngôi nhà nhỏ của riêng họ vậy.
Mọi người yêu thích Starbucks vì họ hiểu được điều mà chúng tôi hướng tới. Nó
còn hơn cả một cốc cà phê hảo hạng. Nó là sự lãng mạn khi thưởng thức cà phê, là
cảm giác ấm áp và hoà đồng luôn tràn ngập ở các cửa hàng Starbucks. Giai điệu đó
được tạo nên bởi các baristas của chúng tôi, những người vừa pha chế espresso phù
hợp khẩu vị từng khách hàng vừa hào hứng kể về xuất xứ của các loại cà phê khác
nhau. Vài người trong số họ khi đến với Starbucks cũng chẳng có chút kỹ năng nào
khá khẩm hơn bố tôi trước đây, nhưng họ đã thực sự tạo ra được điều kỳ diệu.
Nếu có ai hỏi tôi về thành tựu mà tôi tự hào nhất ở Starbucks, câu trả lời chính là
mối quan hệ thân thiết và tin cậy mà chúng tôi đã xây dựng được giữa các nhân viên.
Nó không đơn thuần chỉ là một cụm từ sáo rỗng như ở rất nhiều công ty mà tôi biết.
Chúng tôi triển khai nó trong những chương trình mang tính đột phá như chương trình
chăm sóc sức khoẻ toàn diện, thậm chí cho cả những nhân viên làm việc bán thời
gian, hay các tuỳ chọn cổ phiếu giúp mang lại quyền sở hữu cho tất cả mọi nhân viên.
Chúng tôi đối xử với công nhân làm việc trong nhà kho và nhân viên bán lẻ cấp thấp
nhất bằng sự tôn trọng mà hầu hết các công ty chỉ dành cho những quản trị viên cấp
cao.
Các chính sách và thái độ này đi ngược lại tư duy truyền thống trong kinh doanh.
Một công ty được điều hành chỉ để phục vụ lợi ích của cổ đông luôn đối xử với nhân
viên như một món hàng, một thứ chi phí cần hạn chế hết mức. Các giám đốc mạnh tay
đuổi việc nhân viên thường nhận được một khoản lợi nhuận tạm thời khi giá trị cổ
phiếu của họ tăng lên. Nhưng về lâu về dài, họ không những làm xói mòn các giá trị
đạo đức mà còn bỏ lỡ mất khả năng sáng tạo, tinh thần dám nghĩ dám làm, và lòng
quyết tâm sâu sắc của những người có thể đưa công ty lên đến những tầm cao không
ngờ tới.
Điều mà nhiều người làm kinh doanh không nhận thấy là kinh doanh không phải
một trò chơi có tổng bằng không. Không nên coi việc đối xử trọng thị với nhân viên
là khoản chi phí làm hao tổn lợi nhuận, hãy coi đó là nguồn năng lượng mạnh mẽ đưa
doanh nghiệp phát triển lớn mạnh, vượt cả những gì một nhà lãnh đạo có thể hình
dung. Khi có được niềm tự hào trong công việc, nhân viên Starbucks sẽ muốn gắn bó
với công ty hơn. Tốc độ thay đổi nhân viên của chúng tôi ít hơn một nửa tốc độ trung
vình của cả ngành, điều này không chỉ giúp tiết kiệm tiền bạc mà còn làm bền chặt
mối quan hệ giữa chúng tôi với khách hàng.
Đó chưa phải là tất cả. Nếu mọi người coi công ty như người thân của mình, nếu
họ gắn bản thân với công ty và hết lòng với những ước mơ của công ty, họ sẽ dốc hết
trái tim họ để khiến công ty trở nên tốt đẹp hơn. Khi nhân viên có được sự tự tin và
lòng tự trọng, họ có thể đóng góp được hơn rất nhiều: cho công ty của học, cho gia
đình học, và cho cả thế giới.
Mặc dù tôi không hề định liệu trước, Starbucks đã trở thành một di sản sống của
bố tôi.
Bởi lẽ không phải ai cũng có thể kiểm soát số phận của mình, những người vươn
lên được những vì trí thẩm quyền cao phải có trách nhiệm với những người ngày ngày
góp sức giúp doanh nghiệp vận hành trôi chảy, không những để vững bước tiến lên
theo con đường đúng đắn mà còn để bảo đảm rằng không có bất kỳ ai bị bỏ lại phía
sau.
Tôi chưa từng có ý định viết một cuốn sách, ít nhất là khi sự nghiệp của tôi mới
chỉ bắt đầu như thế này. Tôi tin chắc rằng phần tuyệt vời nhất của câu chuyện
Starbucks nằm ở tương lai, chứ không phải quá khứ. Nếu Starbucks là một cuốn sách
hai mươi chương, chúng tôi chỉ mới ở Chương Ba mà thôi.
Nhưng vì một số lý do, chúng tôi quyết định đây là thời điểm thích hợp để kể câu
chuyện Starbucks.
Trước hết, tôi muốn truyền cảm hứng cho mọi người theo đuổi những giấc mơ của
mình. Tôi xuất thân bình dân, chẳng thìa bạc đĩa vàng, chẳng dòng dõi cao quý,
chẳng người kèm cặp khi còn bé. Tôi dám mơ những giấc mơ to lớn, và rồi tôi quyết
chí buộc chúng phải thành hiện thực. Tôi tin chắc rằng ai cũng có thể đạt được những
ước mơ của mình, và thậm chí còn cao và xa hơn thế, nếu học quyết tâm vững bước
và phấn đấu.
Lý do thứ hai, sâu sắc hơn, tôi hy vọng có thể truyền cảm hứng cho những nhà
lãnh đạo công ty nhắm đến những tầm cao mới. Thành công sẽ chẳng là gì nếu bạn
đơn thương độc mã bước đến vạch đích. Phần thưởng lớn nhất là đến được đích bên
cạnh những người chiến thắng. Bạn càng mang theo mình bao nhiêu người chiến
thắng – dù họ là nhân viên, khách hàng, cổ đông, hay độc giả - sực mạnh chiến thắng
của bạn sẽ càng được nhân lên bấy nhiêu.
Tôi không viết cuốn sách này để kiếm tiền. Mọi khoản lợi nhuận thu được sẽ được
đưa vào Quỹ Starbucks vừa thành lập, tổ chức này sẽ thay mặt Starbucks và các đối
tác phân phối quỹ cho các hoạt động nhân đạo.
Đây là câu chuyện về Starbucks, nhưng nó không phải một cuốn sách kinh doanh
thông thường. Mục đích của cuốn sách không phải là để kể về cuộc đời tôi, cũng
không phải để đưa ra lời khuyên bảo nên làm thế nào để cứu giúp một công ty đang
trục trặc, hay để dùng tư liệu minh chứng cho lịch sử công ty chúng tôi. Cuốn sách
không có những đoạn tổng kết giáo điều, không có những gạch đầu dòng những điểm
chính, không có các khuôn khổ lý thuyết phân tích nguyên nhân một số doanh nghiệp
thành công còn những công ty khác lại thất bại.
Nó là câu chuyện về một đội ngũ những con người xây dựng một công ty thành
công dựa trên những giá trị và nguyên tắc điều hành hiếm thấy ở xã hội kinh doanh
Hoa Kỳ. Nó kể về hành trình chúng tôi dần học được những bài học quan trọng về
kinh doanh và về cuộc sống. Tôi hy vọng những quan niệm này sẽ có ý nghĩa đối với
những ai đang xây dựng sự nghiệp và những ai đang nỗ lực theo đuổi giấc mơ của
mình.
Mục đích quan trọng nhất của tôi khi viết cuốn Dốc Hết Trái Tim là để đảm bảo
rằng mọi người có đủ dũng khí và tiếp tục bền chí, tiếp tục làm theo trái tim mình
ngay cả trong tiếng chế giễu của kẻ khác. Đừng để bị đánh bại bởi những kẻ luôn
phản đối bạn. Đừng để nghịch cảnh khiến bạn hoảng sợ đến mức thậm chí không
dám dấn thân trải nghiệm. Nghịch cảnh nào dám chống lại tôi, việc tôi là đứa trẻ lớn
lên ở Khu Quy hoạch ư?
Mọi công ty đều có thể phát triển lớn mạnh mà không cần phải đánh mất sự đam
mê và cá tính vốn có, miễn sao nó không bị lèo lái bởi những đắn đo về lợi nhuận, mà
thay vào đó là bởi những chân giá trị thực sự, và bởi yếu tố con người.
Chìa khoá nằm ở trái tim. Tôi dốc hết trái tim mình vào từng tách cà phê và các
đối tác của tôi ở Starbucks cũng vậy. Khi khách hàng cảm nhận được điều đó, họ luôn
đáp lại bằng tấm lòng trân trọng.
Nếu bạn dốc hết trái tim vào từng việc mình làm, hoặc vào bất cứ một doanh
nghiệp nào xứng đáng, bạn có thể đạt được những ước mơ mà người khác cho rằng
không thể. Đó là điều viết nên câu chuyện cuộc sống với một kết thúc có hậu.
Có một phong tục của người Do Thái gọi là yahrzeit. Vào đêm trước lễ kỷ niệm
ngày mất của một người thân yêu nào đó, người thân sẽ thắp lên một ngọn nến và giữ
nó cháy mãi trong hai mươi bốn giờ. Năm nào tôi cũng thắp ngọn nến đó, cho bố tôi.
Tôi muốn ánh sáng đó mãi mãi không bao giờ tắt.
Phần một:Khám phá mới về cà phê Những năm
trước 1987
Trí tưởng tượng, ước mơ, và xuất thân hèn kém
Chỉ bằng trái tim ta mới nhìn đúng được vạn vật.
Những thứ cốt lõi đều không thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Antoine de Saint-Exupéry, Hoàng tử bé
Starbuck ngày hôm qua là thành quả của hai nhân tố quan trọng. Nhân tố thứ nhất
là Starbucks thời kỳ đầu, thành lập năm 1971, một công ty tràn đầy nhiệt huyết với
quyết tâm mang lại cho khách hàng loại cà phê đẳng cấp thế giới và mong muốn
chứng tỏ cho khách hàng thấy rằng cà phê có thể trở nên tuyệt vời đến thế nào.
Nhân tố thứ hai là tầm nhìn và những giá trị mà tôi mang đến cho công ty: sự kết
hợp giữa định hướng cạnh tranh và khao khát muốn tất cả mọi người trong tổ chức
đều có thể sánh bước cùng nhau đi đến chiến thắng. Tôi muốn pha cả sự lãng mạn
vào từng tách cà phê, muốn can đảm nỗ lực để đạt được điều mà người khác cho rằng
không thể, muốn thách thức nghịch cảnh bằng những ý tưởng sáng tạo, và muốn làm
tất cả những điều này bằng sự tinh tế và bằng phong cách của riêng mình.
Trên thực tế Starbucks sẽ khó lòng đến vị trí ngày hôm nay nếu không có tác động
của cả hai nhân tố đó.
Vào thời điểm tôi khám phá ra Starbucks, thương hiệu này đã phát triển được
mười năm. Tôi biết được lịch sử hình thành ban đầu của nó qua lời kể của những
thành viên sáng lập và tôi sẽ thuật lại cho các bạn nghe câu chuyện đó ở Chương Hai.
Trong cuốn sách này, tôi sẽ kể lại câu chuyện theo đúng cái cách mà tôi kinh qua nó,
bắt đầu những năm tháng đầu tiên của đời tôi, bởi lẽ đa số các giá trị hình thành nên
sự lớn mạnh của Starbucks ngày hôm này bắt nguồn từ một căn hộ chung cư chật chội
ở Brooklyn, New York.
XUẤT THÂN HÈN KÉM CÓ THỂ KHƠI DẬY TRONG BẠN CẢ NGHỊ LỰC
LẪN TÌNH YÊU
Có một điều tôi nhận thấy ở những người theo chủ nghĩa lãng mạn: Họ cố gắng tạo
ra một thế giới tươi mới và tố đẹp hơn sự buồn tẻ của cuộc sống thường nhật. Đó cũng
chính là cái đích mà Starbucks nhắm tới. Chúng tôi cố gắng biến những cửa hiệu của
mình thành một ốc đảo, nơi bạn có thể nghĩ ngơi sau một ngày mệt nhọc, thưởng thức
một bản jazz và suy nghĩ vẫn vơ về cuộc sống bên tách cà phê.
Những kiểu người nào thường mơ về một nơi như thể?
Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi tin rằng khi xuất thanh của bạn càng tầm thường, bạn
lại càng có xu hướng muốn dùng trí tưởng tượng của mình để khám phá những thế
giới nơi mọi thứ dường như đều có thể xảy ra.
Điều này tất nhiên hoàn toàn đúng trong trường hợp của tôi.
Khi tôi mới ba tuổi, gia đình tôi chuyển khỏi căn hộ của bà nội để sống ở Khu
Quy Hoạch Bayview vào năm 1956. Khu này nằm ngay trung tâm Canarsie, trên vịnh
Jamaica, cách sân bay và đảo Coney khoảng 15 phút chạy xe. Thời đó, Khu Quy
Hoạch chẳng tệ chút nào, nó trông khá thân thiện, lại bề thế và sum suê cây cối với
khoảng một tá khu nhà xây gạch cao tám tầng, tất cả đều mới toanh. Trường tiểu học
P.S. 272 nằm ngay bãi đất quanh Khu Quy Hoạch, có cả sân chơi, sân bóng rổ, và sân
trường thì được lát gạch tinh tươm. Thế nhưng, chẳng ai tự hào khi được sống ở Khu
Quy Hoạch cả, bố mẹ chúng tôi đều là những người mà ngày nay gọi là “dân lao động
nghèo”.
Tuy vậy, tôi vẫn có rất nhiều ký ức hạnh phúc trong suốt thời thơ ấu của mình.
Lớn lên ở Khu Quy Hoạch góp phần hình thành trong tôi một hệ thống giá trị cân
bằng vì nó buộc tôi phải sống hòa đồng với rất nhiều kiểu người khác nhau. Riêng
khu chúng tôi đã có tới 150 gia đình, và chúng tôi dùng chung một cái thang máy bé
tẹo. Căn hộ nào cũng nhỏ xíu, và gia đình tôi lúc đầu phải nhồi nhét nhau trong một
căn chật nêm chỉ có hai phòng ngủ.
Bố và mẹ tôi đều xuất thân từ tầng lớp lao động, đã hai đời sinh sống ở nhánh Tây
New York thuộc Brooklyn. Ông nội tôi mất sớm nên bố tôi phải thôi học và làm việc
khi mới thanh niên. Chiến tranh Thế giới thứ II nổ ra, ông làm quân y cho Quân đội
tại Nam Thái Bình Dương, New Caledonia và Saipan, nơi ông mắc bệnh số vàng da và
sốt rét. Hậu quả là phổi ông rất yếu, và thường xuyên bị cảm hàn. Chiến tranh kết
thúc, ông làm một loạt các công việc tay chân khác nhau nhưng không tìm được việc
đúng với ước mơ của mình, bố tôi chưa bao giờ vạch ra được một hướng đi nào cho
cuộc đời mình.
Mẹ tôi là một phụ nữ mạnh mẽ và đầy nghị lực. Tên bà là Elaine, nhưng người ta
gọi là Bobbie. Về sau, bà làm tiếp tân cho một khách sạn, nhưng khi chúng tôi còn bé,
bà phải dành thời gian cả ngày để chăm sóc chúng tôi.
Em gái tôi, Ronnie, suýt soát tuổi tôi, cũng trãi qua thời thơ ấu đầy khó khăn như
tôi. Nhưng ở một chừng mực nào đó, tôi đã xoay xở để em trai tôi, Michael, không bị
ảnh hưởng bởi những thiếu thốn kinh tế của gia đình và chỉ bảo em cách vạch ra
những hướng đi trong cuộc đời, điều mà bố mẹ đã không thể mang lại cho tôi. Hễ tôi
đi đâu là Michael theo đó. Tôi thường gọi em là “Cái bóng”. Tuy cách nhau tám tuổi,
chúng tôi đã xây dựng được một mối quan hệ hết sức gần gũi, tôi thay bố chăm sóc
em. Tôi hãnh diện thấy em trở thành một vận động viên giỏi, một sinh viên xuất sắc
và rồi cuối cùng đã đạt được thành công trong sự nghiệp kinh doanh của mình.
Hồi bé ngày nào tôi cũng chơi thể thao với bọn trẻ hàng xóm từ sáng tới tối mịt. Hễ
có thời gian là bố lại cùng chơi với chúng tôi, sau giờ làm hoặc vào dịp cuối tuần. Cứ
sáng thứ Bảy và Chủ Nhật, bắt đầu từ 8 giờ, hàng trăm đứa lóc nhóc chúng tôi lại tập
trung lại sân trường. Bạn phải chơi thật giỏi, vì nếu không giành chiến thắng, bạn sẽ bị
loại khỏi cuộc chơi, bị buộc phải ngồi xem nhiều giờ đồng hồ chờ tới lượt mình. Thế
nên lúc nào tôi cũng ra sức giành chiến thắng.
May mắn thay, tôi là một vận động viên có năng khiếu bẩm sinh. Dù là bóng chày,
bóng rổ hay bóng bầu dục, tôi luôn lao vào chơi hết mình cho đến khi thật giỏi mới
thôi. Tôi thường khởi xướng các trận bóng chày hay bóng rổ với bất kể lũ trẻ hàng
xóm nào – từ những đứa người Do Thái, đến những đứa người Ý và những đứa da
đen. Chẳng cần ai thuyết giảng cho chúng tôi nghe về sự khác biệt màu da; chúng tôi
sống cùng nó.
Lúc nào trong tôi cũng tràn đầy đam mê không thể kiểm soát nổi đối với những
thứ tôi yêu thích. Đam mê đầu tiên của tôi là bóng chày. Thời đó ở New York mọi
cuộc đối thoại đều bắt đầu và kết thúc bằng chuyện về bóng chày. Người ta liên kết
hay đối nghịch nhau không phải vì màu da hay tôn giáo mà vị đội bóng họ hăm mộ.
Lúc đó đội Doegers vừa rời khỏi Los Angeles (điều này đã làm bố tôi đau khổ biết
bao nhiêu, ông không bao giờ tha thứ cho họ), nhưng chúng tôi vẫn có nhiều đội
bóng chày tuyệt vời khác. Tôi còn nhớ khi cuốc bộ về nhà mà hai bên đường ầm ĩ
những tiếng bình luận trực tiếp trên đài phát thanh qua những cánh cửa sổ mở.
Tôi là cổ động viên cứng cựa của đội Yankees, và số trận bóng chày mà bố đưa tôi
và em tôi đi xem thật không tài nào đếm xuể. Chẳng bao giờ chúng tôi có được chỗ
ngồi tốt cả, nhưng chẳng vấn đề gì. Chỉ riêng việc được có mặt ở đó đã quá tuyệt vời
rồi. Mickey Mantle là thần tượng của tôi. Số áo của anh, số 7, nằm chễm chệ trên áo
sơ mi của tôi, giày thể thao của tôi, mọi thứ mà tôi sở hữu. Khi chơi bóng chày, tôi bắt
chước cả tư thế và những cử chỉ của Mickey Mantle.
Khi Mick giải nghệ, tôi đã thực sự không thể tin vào tai mình. Sao anh ấy lại có thể
thôi chơi bóng được cơ chứ? Bố đưa tôi đến cả hai Ngày kỷ niệm Mickey Mantle ở
Sân Yankee, ngày 18 tháng Chín, 1968 và ngày 8 tháng Sáu, 1969. Chứng kiến buổi lễ,
thấy mọi người tôn vinh anh, đồng đội tạm biệt anh, và nghe anh nói, tôi cảm thấy
buồn khủng khiếp. Bóng chày từ đó đối với tôi chẳng bao giờ còn được như trước
nữa. Mick đã trở thành một dấu ấn lớn lao trong cuộc đời chúng tôi đến nỗi nhiều
năm sau, khi anh mất, tôi nhận được rất nhiều cuộc điện thoại chia buồn từ những
người bạn thuở nhỏ, những người đã mấy mươi năm tôi chẳng có chút tin tức gì.
Cà phê không phải là cái gì đó quá đặc biệt trong tuổi thơ của tôi. Mẹ lúc nào cũng
dùng cà phê pha sẳn. Khi bạn bè đến chơi, bà sẽ mua ít cà phê đóng hộp và lôi chiếc
máy pha cà phê trong tủ ra. Tôi nhớ cảnh mình lắng nghe những tiếng rền trầm phát
ra từ cái máy và ngắm nhìn cái nắp thủy tinh nhỏ bé cho đến tận lúc cà phê bật mạnh
ra như một hạt đậu biết nhảy.
Chỉ đến khi lớn lên tôi mới bắt đầu nhận ra kinh tế gia đình tôi eo hẹp đến mức
nào. Thảng hoặc chúng tôi đến ăn ở một nhà hàng Trung Hoa, và bố mẹ sẽ tranh cãi
nhau xem phải gọi món gì, mối quan tâm duy nhất là hôm đó trong ví bố có bao
nhiêu tiền. tôi cảm thấy vô cùng giận dữ và xấu hổ khi phát hiện ra rằng buổi cắm trại
qua đêm mà tôi tham gia hồi hè là một chương trình bao cấp dành cho lũ trẻ có hoàn
cảnh khó khăn. Sau đó tôi không bao giờ đồng ý tham gia vào chương trình đó nữa.
Khi lên trung học, tôi mới thấu hiểu cảm giác tủi thân khi phải sống ở Khu Quy
Hoạch. Trường Trung học Canarsie chỉ cách khu chúng tôi chưa đầy một dặm, nhưng
muốn đến đó tôi phải đi bộ dọc các con phố chằng chịt những ngôi nhà sang trọng hai
ba tầng chỉ với một gia đình sinh sống. Tôi biết những người sống ở đó luôn coi
thường chúng tôi.
Có lần tôi xin phép mời một cô gái đi chơi, cô ấy sống ở một vùng khác cũng
thuộc New York. Tôi còn nhớ khuôn mặt của ông bố đã trượt dài thảm não thế nào
khi ông ấy hỏi:
“cậu sống ở đâu?”
“Gia đình con sống ở Brooklyn,” tôi trả lời.
“Chỗ nào?”
“Canarsie.”
“Chỗ nào?”
“Khu Quy Hoạch Bayview.”
“Ồ.”
Tuy không nói ra nhưng phản ứng của ông ấy cho tôi thấy rõ là tôi đang bị xem
thường, và điều này khiến tôi khó chịu.
Là con lớn trong nhà với hai đứa em nhỏ, tôi phải trưởng thành thật sớm. Tôi bắt
đầu kiếm tiền từ khi còn nhỏ. Mười hai tuổi, tôi thường xuyên đi giao báo khắp các
nhà; sau đó làm việc ở quầy thu ngân của một tiệm ăn địa phương. Mười sáu tuổi, tôi
làm việc sau giờ học tại trung tâm may mặc ở Manhattan, ở bộ phận chế biến lông thú,
lột da động vật. Đó là một công việc kinh tởm và đã để lại những vết chai dày trên hai
ngón tay cái của tôi. Tôi trãi qua mùa hè nóng nực trong một xí nghiệp bóc lột nhân
công tàn tệ, hấp sợi cho một nhà máy dệt. Tôi luôn dành một phần tiền kiếm được gửi
cho mẹ - không phải vì bà bảo tôi mà vì tự thân tôi thấy thương cho hoàn cảnh mà bố
mẹ tôi đang sống.
Thế rồi, vào những năm 1950 và đầu những năm 1960, giấc mơ Mỹ trở thành một
khái niệm gây tác động mạnh mẽ, và tất cả chúng tôi đều cảm thấy mình là một phần
của giấc mơ đó. Mẹ đã truyền cảm giác đó cho chúng tôi. Bản thân bà chưa bao giờ tốt
nghiệp được trung học, và giấc mơ lớn nhất đời bà là cho cả ba đứa con đi học đại
học. Bằng sự khôn khéo, thực tế và cương quyết của mình, bà đã mang lại cho tôi một
niềm tin to lớn. Hết lần này đến lần khác, bà đặt tấm gương của những con người
thành công trước mắt tôi, chỉ cho tôi thấy những người đã tạo nên một điều gì đó lớn
lao trong cuộc sống và khăng khăng rằng tôi cũng có thể đạt được bất cứ thứ gì tôi
muốn, nếu tôi dành cả trái tim mình cho nó. Bà khuyến khích tôi thử thách bản thân
bằng cách tự đặt mình vào những tình huống khó khăn, để tôi có thể học được cách
vượt qua trở ngại. Tôi không biết bằng cách nào bà có được sự thông thái đó, vì đó
không phải những nguyên tắc sống của bà. Nhưng bà đã buộc tôi phải thành công.
Nhiều năm sau, trong một lần mẹ tôi đến thăm Settle, tôi khoe với bà những văn
phòng mới của chúng tôi ở Trung tâm Starbucks. Khi chúng tôi dạo bước quanh các
phòng ban và nhà xưởng, nhìn mọi người tất bật trả lời điện thoại và gõ liên tục các
bàn phím máy tính, tôi biết chắc rằng mọi thứ đang quay mòng mòng trong đầu bà khi
chứng kiến tầm cỡ và quy mô của công việc này. Cuối cùng, bà ghé sát tai tôi thì
thầm: “Ai trả nổi tiền cho từng này người vậy con?” điều đó vượt ngoài sức tưởng
tượng của bà.
Trong suốt quãng đời thời thơ ấu, tôi chưa bao giờ mơ có ngày mình sẽ làm kinh
doanh. Người doanh nhân duy nhất tôi biết là chú tôi, Bill Farber. Chú có một nhà
máy giấy nhỏ ở Bronx, nơi về sau chú thuê bố tôi làm đốc công. Tôi không biết chắc
rốt cuộc rồi mình sẽ làm công việc gì, nhưng tôi biết mình phải thoát khỏi sự vất vả
mà bố mẹ tôi phải chịu đựng hàng ngày. Tôi phải thoát khỏi Khu Quy Hoạch, thoát
khỏi Brooklyn. Tôi còn nhớ có lần nằm dài trên giường lúc giữa đêm và nghĩ: Sẽ thế
nào nếu mình có một quả cầu pha lê và có thể nhìn thấy tương lai nhỉ? Nhưng rồi tôi
nhanh chóng dập tắt suy nghĩ đó, vì tôi nhận ra mình sẽ sợ hãi đến mức không dám
nhìn vào nó.
Lúc đó tôi chỉ biết có một con đường duy nhất: thể thao. Như lũ trẻ trong bộ phim
Hoop Dreams, bạn bè tôi và cả tôi tin rằng thể thao chính là tấm vé đưa chúng tôi đến
với một cuộc sống sung sướng. Hồi trung học, tôi chỉ ép mình vào chuyện học hành
nếu bị bắt buộc, bởi vì tôi thấy những thứ thầy cô ra giảng ở lớp học chẳng ăn nhập
vào đâu cả. Thay vào đó tôi dành hầu hết thời gian để chơi bóng.
Tôi sẽ không bao giờ quên cái ngày tôi chính thức trở thành thành viên đội bóng.
Biểu trưng của niềm vinh dự này là một chữ C màu xanh lam thật to in trên áo jacket,
chữ C khẳng định tôi đã trở thành một vận động viên thực thụ. Nhưng mẹ tôi không
thể xoay nổi 29 đô-la để mua cho tôi cái áo jacket in chữ ấy, mẹ bảo tôi ráng đợi thêm
khoảng một tuần nữa chờ bố đến ngày nhận lương. Tôi thất vọng tràn trề. Mọi người ở
trường đều đã lên kế hoạch mặc đồng phục in chữ vào một ngày cố định rồi. Tôi
không thể xuất hiện mà không có cái áo jacket được, nhưng tôi cũng không muốn làm
mẹ tôi phiền lòng thêm nữa. Vậy là tôi mượn tiền của một người bạn để mua chiếc
jacket đó và mặc nó vào đúng ngày, nhưng tôi giữ kín không cho bố mẹ biết chuyện
này cho đến tận khi họ xoay xở đủ tiền.
Chiến thắng lớn nhất của tôi thời trung học là trở thành tiền vệ, điều này khiến tôi
thành ra nổi tiếng giữa 5.700 sinh viên ở Canarsie High. Trường tôi nghèo đến mức
chúng tôi chẳng có nổi một sân bóng riêng, và chúng tôi chưa bao giờ có khái niệm
chơi bóng trên sân nhà. Đội tôi chơi cực tệ, nhưng ít ra tôi cũng nằm trong nhóm
những tay khá khẳm nhất.
Rồi một ngày nọ, một người đàn ông đến theo dõi một trong số những trận đấu
của chúng tôi để chọn ra một cầu thủ chơi phòng ngự xuất sắc. Tôi không hề biết đến
sự có mặt của anh ta. Vài ngày sau, tôi nhận được một lá thư gửi từ trường Đại học
Bắc Michigan, nơi mà trong tâm trí tôi luôn coi như một hành tinh hoàn toàn khác cái
hành tinh tôi đang sống. Họ đang tuyển người cho đội bóng bầu dục. Bạn tự hỏi tôi có
thích không ư? Tôi hò hét và nhảy loạn cả lên. Cảm giác tuyệt vời như thể nhận được
lời mời vào nhóm biệt phái NFL (*Liên đoàn bóng đá Quốc gia Mỹ) vậy.
Trường Bắc Michigan rốt cuộc đã trao cho tôi một suất học bổng bóng bầu dục, đó
cũng là suất học bổng duy nhất mà tôi nhận được. Nếu không có nó, tôi chẳng biết
mình phải làm thế nào để biến giấc mơ của mẹ tôi thành sự thật, để tôi có thể đặt chân
vào cổng trường đại học.
Trong kỳ nghĩ xuân năm cuối cấp 3, bố mẹ đã lái xe đưa tôi đến một nơi tuyệt vời
ngoài sức tưởng tượng của tôi. Chúng tôi vượt gần một ngàn dặm đường để đến
Marquette, nằm ở vùng phần Thượng của bán đảo Michigan. Trước giờ chúng tôi chưa
hề đi đâu khỏi New York, nên bố mẹ tôi thực sự hứng khởi với chuyến phiêu lưu này.
Chúng tôi băng qua hết núi rừng rậm rạp đến đồng bằng mênh mông, qua những hồ
nước rộng lớn chẳng kém gì đại dương. Khi đến nơi, hình ảnh khu học xá của trường
ập vào mắt tôi, một hình ảnh nước Mỹ mà tôi chỉ thấy trên phim ảnh, với những cây
cao đang đâm chồi, những sinh viên cười nói pha trò vui vẻ, những chiếc đĩa nhựa
Frisbee bay khắp không trung.
Vậy là cuối cùng tôi đã rời khỏi Brooklyn.
Thật tình cờ, cũng chính năm đó Starbucks được thành lập tại Seattle, một thành
phố mà ngay cả trí tưởng tượng của tôi cũng không nghĩ tới.
Tôi mê rít sự tự do và phóng khoáng của cuộc sống đại học, tuy ban đầu tôi có
thấy hơi cô đơn và lạc lõng. Tôi thân được vài người bạn trong năm nhất và may mắn
được ở cùng phòng với họ trong suốt bốn năm đại học, và cả sau khi tốt nghiệp nữa.
Có hai lần tôi gọi em trai tôi và nó đã bay đến thăm tôi. Một năm nọ, vào Ngày Của
Mẹ, tôi bí mật xin quá giang xe về New York để khiến bà bất ngờ.
Hóa ra tôi không giỏi chơi bóng bầu dục như tôi tưởng và rốt cuộc chẳng được thi
đấu chính thức trong đội bóng. Để tiếp tục ở lại trường, tôi phải vay tiền và làm thêm
bán thời gian cũng như toàn bộ lỳ nghĩ hè để trang trãi mọi chi phí. Tôi từng làm nhân
viên quầy bar ca đêm cho một quán rượu, và thậm chí tôi còn đôi lần bán máu nữa.
Dù vậy, đó vẫn là những năm tháng vô cùng hạnh phúc, chẳng phải bận tâm với quá
nhiề...
DỐC HẾT TRÁI TIM - POUR YOUR HEART INTO IT
Cách STARBUCKS Xây Dựng Công Ty Bằng Từng Tách Cà Phê
Howard Schultz - Chủ tịch và CEO của STARBUCKS và Dori Jones Yang
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Thư viện Sách mới http://sachmoi.net
Lời mở đầu
Quan tâm hơn người khác
tư duy khôn ngoan.
Mạo hiểm hơn người khác
tư duy an toàn.
Ước mơ hơn người khác
tư duy thực tế.
Kỳ vọng hơn người khác
tư duy khả thi.
Vào một ngày tháng Giêng lạnh giá năm 1961, bố tôi bị vỡ mắt cá chân khi đang
làm việc.
Lúc đó tôi mới bảy tuổi, đang hứng khởi chơi trò ném tuyết trên khoảng sân bị
đóng băng phía sau trường thì mẹ ló đầu qua cửa sổ căn hộ chung cư tầng bảy và hốt
hoảng vẫy về hướng tôi. Tôi lao như bay về nhà.
“Bố gặp tai nạn,” bà nói. “Giờ mẹ phải đến bệnh viện đây.”
Bố tôi, Fred Schultz, phải nằm ì một chỗ với cái chân treo cao trong suốt hơn một
tháng. Trước giờ tôi chưa từng nhìn thấy cái chân nào bị bó bột cả, thế nên ban đầu
chuyện này khiến tôi thích mê lên. Nhưng rồi trải nghiệm mới mẻ đó nhanh chóng
mất đi. Cũng giống như rất nhiều thời kỳ khác trong cuộc đời bố tôi, khi ông không
làm việc, chẳng ai trả lương cho ông cả.
Bấy giờ bố tôi là tài xế xe tải, chuyên nhận và chuyển phát tã lót. Trong nhiều
tháng trời, ông phàn nàn đầy bực dọc về mùi hôi và sự dơ bẩn mà ông phải chịu
đựng, ông bảo đấy là công việc tệ hại nhất trên thế giới này. Nhưng giờ đây khi đã để
mất nó, có vẻ như ông lại muốn được tiếp tục làm công việc này. Mẹ tôi đang mang
thai bảy tháng, bà không thể đi làm được. Gia đình tôi chẳng có thu nhập, chẳng có
bảo hiểm y tế, chẳng có bồi thường thôi việc, chẳng có gì để mà dựa vào hết.
Đến giờ ăn tối, em gái tôi và tôi im lặng dùng bữa trong khi bố mẹ tranh cãi về
chuyện họ sẽ phải vay bao nhiêu tiền, và vay của những ai. Có nhiều tối điện thoại
reo inh ỏi, và mẹ luôn bắt tôi phải nghe máy. Nếu đó là nhân viên thu tiền, bà sẽ chỉ
bảo tôi trả lời rằng bố mẹ đang đi vắng.
Em trai tôi, Michael, sinh vào tháng Ba; bố mẹ lại phải ngược xuôi vay mượn để
trả tiền viện phí.
Nhiều năm sau đó, hình ảnh cha tôi – ngồi phịch trên trường kỷ, chân bó bột,
không thể làm việc hay kiếm được một xu lẻ nào, cứ như thể ông đã bị cái thế giới này
nghiền ra cám – vẫn làm nhức nhối tâm trí tôi. Giờ đây khi nhìn lại, tôi thực sự cảm
thấy kính trọng ông vô cùng. Bố chưa bao giờ tốt nghiệp phổ thong, nhưng ông là
người tốt bụng và làm việc hết sức chăm chỉ. Nhiều khi ông phải nhận đến hai ba việc
một lúc để chúng tôi có cái ăn cái mặc. Ông rất thương ba đứa con của mình, và ông
chơi bong với chúng tôi luôn vào mỗi dịp cuối tuần. Ông cực mê đội Yankees.
Nhưng bố không thể trở thành một người đàn ông thành đạt. Trong tất cả các công
việc chân tay mà ông từng làm – tài xế xe tải, công nhân nhà máy, rồi tài xế taxi – ông
chưa bao giờ kiếm nổi 20.000 đô-la một năm, chưa bao giờ ông có khả năng sở hữu
một căn nhà nhỏ của riêng mình. Tuổi thơ tôi trôi qua ở Khu Quy hoạch, khu nhà do
liên bang trợ cấp, tại Canarsie, Brooklyn. Khi thành niên, tôi cảm thấy điều này vô
cùng nhục nhã.
Càng lớn, tôi càng thường xuyên tranh cãi với bố. Tôi trở nên cay độc về sự không
thành công của ông, sự vô trách nhiệm của ông. Tôi nghĩ rằng lẽ ra bố đã thành đạt
hơn biết bao nhiêu nếu nỗ lực và cố gắng.
Sau khi ông mất, tôi nhận thấy mình đã quá bất công khi đánh giá ông. Ông đã cố
gắng khiến mình trở nên vừa vặn với hệ thống xã hội này, nhưng cái hệ thống đó đã
xô đẩy ông. Vốn là người tự ti, ông chưa bao giờ có đủ dũng khí trèo ra khỏi hố sâu
để mang lại tương lai tốt đẹp hơn cho cuộc đời mình.
Ngày bố qua đời vì ung thư phổi, một ngày tháng Một năm 1988, là ngày buồn
nhất trong cuộc đời tôi. Ông chẳng có tiền tiết kiệm, chẳng có lương hưu. Quan trọng
hơn tất cả, ông chưa bao giờ đạt được thành công hay cảm giác được trân trọng từ
những công việc có ý nghĩa đối với bản thân ông.
Khi còn bé, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ làm chủ một
công ty. Nhưng từ sâu trong trái tim mình tôi biết rằng nếu đứng ở vị trí có thể tạo ra
được một sự khác biệt nào đó, tôi sẽ không bao giờ bỏ mặc những người đứng ở phía
sau.
Bố mẹ không thể hiểu nổi cái gì đã kéo tôi về phía Starbucks. Năm 1982, tôi bỏ
một công việc đầy uy tín, lại được trả lương cao, để đầu quân vào nơi mà lúc bấy giờ
chỉ là một nhà bán lẻ bé nhỏ ở Seattle với vỏn vẹn năm cửa hàng. Về phần mình, tôi
không nhìn vào thực tế của Starbucks mà tôi nhìn vào triển vọng của nó. Tôi đã ngay
lập tức bị mê hoặc bởi sự pha trộn giữa đam mê và bản sắc của nó. Tôi dần nhận ra
rằng, nếu có thể mở rộng ra phạm vi cả nước, bằng việc lãng mạn hoá nghệ thuật pha
chế cà phê espresso của Ý cũng như mang lại cho khách hàng những hạt cà phê rang
tươi mới nhất, Starbucks có thể khiến sản phẩm lâu đời này tái sinh một lần nữa và mê
hoặc hàng triệu người như nó đã từng mê hoặc tôi.
Tôi trở thành CEO của Starbucks vào năm 1987 khi đứng ra, với tư cách một
doanh nhân, thuyết phục các nhà đầu tư tin vào tầm nhìn chiến lược mà tôi vạch ra
cho công ty. Trong suốt mười năm sau đó, với đội ngũ các nhà điều hành sáng suốt và
dày dặn kinh nghiệm, chúng tôi đã đưa Starbucks từ một doanh nghiệp địa phương
chỉ với 6 cửa hàng lên quy mô quốc gia với hơn 1.300 cửa hàng và 25.000 nhân viên.
Ngày nay chúng tôi có mặt ở các thành phố trên khắp Bắc Mỹ, cũng như Tokyo và
Singapore. Starbucks trở thành một thương hiệu được nhận diện ở cấp quốc gia, thành
công này cho phép chúng tôi thử nghiệm các sản phẩm mới mang tính tiên phong. Cả
doanh số bán hàng lẫn lợi nhuận đều tăng hơn 50% một năm trong sáu năm liên tiếp.
Nhưng câu chuyện Starbucks không đơn giản chỉ là một kỷ lục về thành công và
phát triển. Nó còn khắc hoạ một con đường tạo lập doanh nghiệp thật sự khác biệt. Nó
là câu chuyện về một công ty hoàn toàn không giống những nơi bố tôi từng làm. Nó là
bằng chứng sống cho thấy rằng một công ty có thể vận hành bằng đam mê và phát
triển các giá trị tinh thần mà vẫn thu được lợi nhuận. Nó cho thấy rằng một công ty có
thể mang lại giá trị dài hạn cho các cổ đông mà không cần hy sinh phương châm đối
xử với nhân viên bằng tấm lòng trân trọng, bởi lẽ chúng tôi có một đội ngũ lãnh đạo
tin rằng đó là con đường đúng đắn và bởi lẽ đó chính là con đường tốt nhất trong kinh
doanh.
Starbucks tạo nên một nốt thăng đầy cảm xúc gắn kết mọi người. Nhiều người sẵn
sàng đi đường vòng để thưởng thức cà phê sáng tại những cửa hiệu của chúng tôi.
Chúng tôi đã trở thành một biểu tượng của lối sống Mỹ đương đại với tầm ảnh hưởng
mạnh đến mức logo mỹ nhân ngư màu xanh lục quen thuộc của chúng tôi xuất hiện
hết sức thường xuyên trên các chương trình truyền hình và trong cả phim ảnh. Chúng
tôi đã tạo thêm nhiều khái niệm mới vào những năm 1990. Trong một số cộng đồng
dân cư, các quán cà phê Starbucks đã trở thành một Địa điểm Thứ Ba – một nơi quây
quần ấm cúng và thoải mái thoát khỏi những bận rộn lo toan ở gia đình và công sở,
giống như một ngôi nhà nhỏ của riêng họ vậy.
Mọi người yêu thích Starbucks vì họ hiểu được điều mà chúng tôi hướng tới. Nó
còn hơn cả một cốc cà phê hảo hạng. Nó là sự lãng mạn khi thưởng thức cà phê, là
cảm giác ấm áp và hoà đồng luôn tràn ngập ở các cửa hàng Starbucks. Giai điệu đó
được tạo nên bởi các baristas của chúng tôi, những người vừa pha chế espresso phù
hợp khẩu vị từng khách hàng vừa hào hứng kể về xuất xứ của các loại cà phê khác
nhau. Vài người trong số họ khi đến với Starbucks cũng chẳng có chút kỹ năng nào
khá khẩm hơn bố tôi trước đây, nhưng họ đã thực sự tạo ra được điều kỳ diệu.
Nếu có ai hỏi tôi về thành tựu mà tôi tự hào nhất ở Starbucks, câu trả lời chính là
mối quan hệ thân thiết và tin cậy mà chúng tôi đã xây dựng được giữa các nhân viên.
Nó không đơn thuần chỉ là một cụm từ sáo rỗng như ở rất nhiều công ty mà tôi biết.
Chúng tôi triển khai nó trong những chương trình mang tính đột phá như chương trình
chăm sóc sức khoẻ toàn diện, thậm chí cho cả những nhân viên làm việc bán thời
gian, hay các tuỳ chọn cổ phiếu giúp mang lại quyền sở hữu cho tất cả mọi nhân viên.
Chúng tôi đối xử với công nhân làm việc trong nhà kho và nhân viên bán lẻ cấp thấp
nhất bằng sự tôn trọng mà hầu hết các công ty chỉ dành cho những quản trị viên cấp
cao.
Các chính sách và thái độ này đi ngược lại tư duy truyền thống trong kinh doanh.
Một công ty được điều hành chỉ để phục vụ lợi ích của cổ đông luôn đối xử với nhân
viên như một món hàng, một thứ chi phí cần hạn chế hết mức. Các giám đốc mạnh tay
đuổi việc nhân viên thường nhận được một khoản lợi nhuận tạm thời khi giá trị cổ
phiếu của họ tăng lên. Nhưng về lâu về dài, họ không những làm xói mòn các giá trị
đạo đức mà còn bỏ lỡ mất khả năng sáng tạo, tinh thần dám nghĩ dám làm, và lòng
quyết tâm sâu sắc của những người có thể đưa công ty lên đến những tầm cao không
ngờ tới.
Điều mà nhiều người làm kinh doanh không nhận thấy là kinh doanh không phải
một trò chơi có tổng bằng không. Không nên coi việc đối xử trọng thị với nhân viên
là khoản chi phí làm hao tổn lợi nhuận, hãy coi đó là nguồn năng lượng mạnh mẽ đưa
doanh nghiệp phát triển lớn mạnh, vượt cả những gì một nhà lãnh đạo có thể hình
dung. Khi có được niềm tự hào trong công việc, nhân viên Starbucks sẽ muốn gắn bó
với công ty hơn. Tốc độ thay đổi nhân viên của chúng tôi ít hơn một nửa tốc độ trung
vình của cả ngành, điều này không chỉ giúp tiết kiệm tiền bạc mà còn làm bền chặt
mối quan hệ giữa chúng tôi với khách hàng.
Đó chưa phải là tất cả. Nếu mọi người coi công ty như người thân của mình, nếu
họ gắn bản thân với công ty và hết lòng với những ước mơ của công ty, họ sẽ dốc hết
trái tim họ để khiến công ty trở nên tốt đẹp hơn. Khi nhân viên có được sự tự tin và
lòng tự trọng, họ có thể đóng góp được hơn rất nhiều: cho công ty của học, cho gia
đình học, và cho cả thế giới.
Mặc dù tôi không hề định liệu trước, Starbucks đã trở thành một di sản sống của
bố tôi.
Bởi lẽ không phải ai cũng có thể kiểm soát số phận của mình, những người vươn
lên được những vì trí thẩm quyền cao phải có trách nhiệm với những người ngày ngày
góp sức giúp doanh nghiệp vận hành trôi chảy, không những để vững bước tiến lên
theo con đường đúng đắn mà còn để bảo đảm rằng không có bất kỳ ai bị bỏ lại phía
sau.
Tôi chưa từng có ý định viết một cuốn sách, ít nhất là khi sự nghiệp của tôi mới
chỉ bắt đầu như thế này. Tôi tin chắc rằng phần tuyệt vời nhất của câu chuyện
Starbucks nằm ở tương lai, chứ không phải quá khứ. Nếu Starbucks là một cuốn sách
hai mươi chương, chúng tôi chỉ mới ở Chương Ba mà thôi.
Nhưng vì một số lý do, chúng tôi quyết định đây là thời điểm thích hợp để kể câu
chuyện Starbucks.
Trước hết, tôi muốn truyền cảm hứng cho mọi người theo đuổi những giấc mơ của
mình. Tôi xuất thân bình dân, chẳng thìa bạc đĩa vàng, chẳng dòng dõi cao quý,
chẳng người kèm cặp khi còn bé. Tôi dám mơ những giấc mơ to lớn, và rồi tôi quyết
chí buộc chúng phải thành hiện thực. Tôi tin chắc rằng ai cũng có thể đạt được những
ước mơ của mình, và thậm chí còn cao và xa hơn thế, nếu học quyết tâm vững bước
và phấn đấu.
Lý do thứ hai, sâu sắc hơn, tôi hy vọng có thể truyền cảm hứng cho những nhà
lãnh đạo công ty nhắm đến những tầm cao mới. Thành công sẽ chẳng là gì nếu bạn
đơn thương độc mã bước đến vạch đích. Phần thưởng lớn nhất là đến được đích bên
cạnh những người chiến thắng. Bạn càng mang theo mình bao nhiêu người chiến
thắng – dù họ là nhân viên, khách hàng, cổ đông, hay độc giả - sực mạnh chiến thắng
của bạn sẽ càng được nhân lên bấy nhiêu.
Tôi không viết cuốn sách này để kiếm tiền. Mọi khoản lợi nhuận thu được sẽ được
đưa vào Quỹ Starbucks vừa thành lập, tổ chức này sẽ thay mặt Starbucks và các đối
tác phân phối quỹ cho các hoạt động nhân đạo.
Đây là câu chuyện về Starbucks, nhưng nó không phải một cuốn sách kinh doanh
thông thường. Mục đích của cuốn sách không phải là để kể về cuộc đời tôi, cũng
không phải để đưa ra lời khuyên bảo nên làm thế nào để cứu giúp một công ty đang
trục trặc, hay để dùng tư liệu minh chứng cho lịch sử công ty chúng tôi. Cuốn sách
không có những đoạn tổng kết giáo điều, không có những gạch đầu dòng những điểm
chính, không có các khuôn khổ lý thuyết phân tích nguyên nhân một số doanh nghiệp
thành công còn những công ty khác lại thất bại.
Nó là câu chuyện về một đội ngũ những con người xây dựng một công ty thành
công dựa trên những giá trị và nguyên tắc điều hành hiếm thấy ở xã hội kinh doanh
Hoa Kỳ. Nó kể về hành trình chúng tôi dần học được những bài học quan trọng về
kinh doanh và về cuộc sống. Tôi hy vọng những quan niệm này sẽ có ý nghĩa đối với
những ai đang xây dựng sự nghiệp và những ai đang nỗ lực theo đuổi giấc mơ của
mình.
Mục đích quan trọng nhất của tôi khi viết cuốn Dốc Hết Trái Tim là để đảm bảo
rằng mọi người có đủ dũng khí và tiếp tục bền chí, tiếp tục làm theo trái tim mình
ngay cả trong tiếng chế giễu của kẻ khác. Đừng để bị đánh bại bởi những kẻ luôn
phản đối bạn. Đừng để nghịch cảnh khiến bạn hoảng sợ đến mức thậm chí không
dám dấn thân trải nghiệm. Nghịch cảnh nào dám chống lại tôi, việc tôi là đứa trẻ lớn
lên ở Khu Quy hoạch ư?
Mọi công ty đều có thể phát triển lớn mạnh mà không cần phải đánh mất sự đam
mê và cá tính vốn có, miễn sao nó không bị lèo lái bởi những đắn đo về lợi nhuận, mà
thay vào đó là bởi những chân giá trị thực sự, và bởi yếu tố con người.
Chìa khoá nằm ở trái tim. Tôi dốc hết trái tim mình vào từng tách cà phê và các
đối tác của tôi ở Starbucks cũng vậy. Khi khách hàng cảm nhận được điều đó, họ luôn
đáp lại bằng tấm lòng trân trọng.
Nếu bạn dốc hết trái tim vào từng việc mình làm, hoặc vào bất cứ một doanh
nghiệp nào xứng đáng, bạn có thể đạt được những ước mơ mà người khác cho rằng
không thể. Đó là điều viết nên câu chuyện cuộc sống với một kết thúc có hậu.
Có một phong tục của người Do Thái gọi là yahrzeit. Vào đêm trước lễ kỷ niệm
ngày mất của một người thân yêu nào đó, người thân sẽ thắp lên một ngọn nến và giữ
nó cháy mãi trong hai mươi bốn giờ. Năm nào tôi cũng thắp ngọn nến đó, cho bố tôi.
Tôi muốn ánh sáng đó mãi mãi không bao giờ tắt.
Phần một:Khám phá mới về cà phê Những năm
trước 1987
Trí tưởng tượng, ước mơ, và xuất thân hèn kém
Chỉ bằng trái tim ta mới nhìn đúng được vạn vật.
Những thứ cốt lõi đều không thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Antoine de Saint-Exupéry, Hoàng tử bé
Starbuck ngày hôm qua là thành quả của hai nhân tố quan trọng. Nhân tố thứ nhất
là Starbucks thời kỳ đầu, thành lập năm 1971, một công ty tràn đầy nhiệt huyết với
quyết tâm mang lại cho khách hàng loại cà phê đẳng cấp thế giới và mong muốn
chứng tỏ cho khách hàng thấy rằng cà phê có thể trở nên tuyệt vời đến thế nào.
Nhân tố thứ hai là tầm nhìn và những giá trị mà tôi mang đến cho công ty: sự kết
hợp giữa định hướng cạnh tranh và khao khát muốn tất cả mọi người trong tổ chức
đều có thể sánh bước cùng nhau đi đến chiến thắng. Tôi muốn pha cả sự lãng mạn
vào từng tách cà phê, muốn can đảm nỗ lực để đạt được điều mà người khác cho rằng
không thể, muốn thách thức nghịch cảnh bằng những ý tưởng sáng tạo, và muốn làm
tất cả những điều này bằng sự tinh tế và bằng phong cách của riêng mình.
Trên thực tế Starbucks sẽ khó lòng đến vị trí ngày hôm nay nếu không có tác động
của cả hai nhân tố đó.
Vào thời điểm tôi khám phá ra Starbucks, thương hiệu này đã phát triển được
mười năm. Tôi biết được lịch sử hình thành ban đầu của nó qua lời kể của những
thành viên sáng lập và tôi sẽ thuật lại cho các bạn nghe câu chuyện đó ở Chương Hai.
Trong cuốn sách này, tôi sẽ kể lại câu chuyện theo đúng cái cách mà tôi kinh qua nó,
bắt đầu những năm tháng đầu tiên của đời tôi, bởi lẽ đa số các giá trị hình thành nên
sự lớn mạnh của Starbucks ngày hôm này bắt nguồn từ một căn hộ chung cư chật chội
ở Brooklyn, New York.
XUẤT THÂN HÈN KÉM CÓ THỂ KHƠI DẬY TRONG BẠN CẢ NGHỊ LỰC
LẪN TÌNH YÊU
Có một điều tôi nhận thấy ở những người theo chủ nghĩa lãng mạn: Họ cố gắng tạo
ra một thế giới tươi mới và tố đẹp hơn sự buồn tẻ của cuộc sống thường nhật. Đó cũng
chính là cái đích mà Starbucks nhắm tới. Chúng tôi cố gắng biến những cửa hiệu của
mình thành một ốc đảo, nơi bạn có thể nghĩ ngơi sau một ngày mệt nhọc, thưởng thức
một bản jazz và suy nghĩ vẫn vơ về cuộc sống bên tách cà phê.
Những kiểu người nào thường mơ về một nơi như thể?
Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi tin rằng khi xuất thanh của bạn càng tầm thường, bạn
lại càng có xu hướng muốn dùng trí tưởng tượng của mình để khám phá những thế
giới nơi mọi thứ dường như đều có thể xảy ra.
Điều này tất nhiên hoàn toàn đúng trong trường hợp của tôi.
Khi tôi mới ba tuổi, gia đình tôi chuyển khỏi căn hộ của bà nội để sống ở Khu
Quy Hoạch Bayview vào năm 1956. Khu này nằm ngay trung tâm Canarsie, trên vịnh
Jamaica, cách sân bay và đảo Coney khoảng 15 phút chạy xe. Thời đó, Khu Quy
Hoạch chẳng tệ chút nào, nó trông khá thân thiện, lại bề thế và sum suê cây cối với
khoảng một tá khu nhà xây gạch cao tám tầng, tất cả đều mới toanh. Trường tiểu học
P.S. 272 nằm ngay bãi đất quanh Khu Quy Hoạch, có cả sân chơi, sân bóng rổ, và sân
trường thì được lát gạch tinh tươm. Thế nhưng, chẳng ai tự hào khi được sống ở Khu
Quy Hoạch cả, bố mẹ chúng tôi đều là những người mà ngày nay gọi là “dân lao động
nghèo”.
Tuy vậy, tôi vẫn có rất nhiều ký ức hạnh phúc trong suốt thời thơ ấu của mình.
Lớn lên ở Khu Quy Hoạch góp phần hình thành trong tôi một hệ thống giá trị cân
bằng vì nó buộc tôi phải sống hòa đồng với rất nhiều kiểu người khác nhau. Riêng
khu chúng tôi đã có tới 150 gia đình, và chúng tôi dùng chung một cái thang máy bé
tẹo. Căn hộ nào cũng nhỏ xíu, và gia đình tôi lúc đầu phải nhồi nhét nhau trong một
căn chật nêm chỉ có hai phòng ngủ.
Bố và mẹ tôi đều xuất thân từ tầng lớp lao động, đã hai đời sinh sống ở nhánh Tây
New York thuộc Brooklyn. Ông nội tôi mất sớm nên bố tôi phải thôi học và làm việc
khi mới thanh niên. Chiến tranh Thế giới thứ II nổ ra, ông làm quân y cho Quân đội
tại Nam Thái Bình Dương, New Caledonia và Saipan, nơi ông mắc bệnh số vàng da và
sốt rét. Hậu quả là phổi ông rất yếu, và thường xuyên bị cảm hàn. Chiến tranh kết
thúc, ông làm một loạt các công việc tay chân khác nhau nhưng không tìm được việc
đúng với ước mơ của mình, bố tôi chưa bao giờ vạch ra được một hướng đi nào cho
cuộc đời mình.
Mẹ tôi là một phụ nữ mạnh mẽ và đầy nghị lực. Tên bà là Elaine, nhưng người ta
gọi là Bobbie. Về sau, bà làm tiếp tân cho một khách sạn, nhưng khi chúng tôi còn bé,
bà phải dành thời gian cả ngày để chăm sóc chúng tôi.
Em gái tôi, Ronnie, suýt soát tuổi tôi, cũng trãi qua thời thơ ấu đầy khó khăn như
tôi. Nhưng ở một chừng mực nào đó, tôi đã xoay xở để em trai tôi, Michael, không bị
ảnh hưởng bởi những thiếu thốn kinh tế của gia đình và chỉ bảo em cách vạch ra
những hướng đi trong cuộc đời, điều mà bố mẹ đã không thể mang lại cho tôi. Hễ tôi
đi đâu là Michael theo đó. Tôi thường gọi em là “Cái bóng”. Tuy cách nhau tám tuổi,
chúng tôi đã xây dựng được một mối quan hệ hết sức gần gũi, tôi thay bố chăm sóc
em. Tôi hãnh diện thấy em trở thành một vận động viên giỏi, một sinh viên xuất sắc
và rồi cuối cùng đã đạt được thành công trong sự nghiệp kinh doanh của mình.
Hồi bé ngày nào tôi cũng chơi thể thao với bọn trẻ hàng xóm từ sáng tới tối mịt. Hễ
có thời gian là bố lại cùng chơi với chúng tôi, sau giờ làm hoặc vào dịp cuối tuần. Cứ
sáng thứ Bảy và Chủ Nhật, bắt đầu từ 8 giờ, hàng trăm đứa lóc nhóc chúng tôi lại tập
trung lại sân trường. Bạn phải chơi thật giỏi, vì nếu không giành chiến thắng, bạn sẽ bị
loại khỏi cuộc chơi, bị buộc phải ngồi xem nhiều giờ đồng hồ chờ tới lượt mình. Thế
nên lúc nào tôi cũng ra sức giành chiến thắng.
May mắn thay, tôi là một vận động viên có năng khiếu bẩm sinh. Dù là bóng chày,
bóng rổ hay bóng bầu dục, tôi luôn lao vào chơi hết mình cho đến khi thật giỏi mới
thôi. Tôi thường khởi xướng các trận bóng chày hay bóng rổ với bất kể lũ trẻ hàng
xóm nào – từ những đứa người Do Thái, đến những đứa người Ý và những đứa da
đen. Chẳng cần ai thuyết giảng cho chúng tôi nghe về sự khác biệt màu da; chúng tôi
sống cùng nó.
Lúc nào trong tôi cũng tràn đầy đam mê không thể kiểm soát nổi đối với những
thứ tôi yêu thích. Đam mê đầu tiên của tôi là bóng chày. Thời đó ở New York mọi
cuộc đối thoại đều bắt đầu và kết thúc bằng chuyện về bóng chày. Người ta liên kết
hay đối nghịch nhau không phải vì màu da hay tôn giáo mà vị đội bóng họ hăm mộ.
Lúc đó đội Doegers vừa rời khỏi Los Angeles (điều này đã làm bố tôi đau khổ biết
bao nhiêu, ông không bao giờ tha thứ cho họ), nhưng chúng tôi vẫn có nhiều đội
bóng chày tuyệt vời khác. Tôi còn nhớ khi cuốc bộ về nhà mà hai bên đường ầm ĩ
những tiếng bình luận trực tiếp trên đài phát thanh qua những cánh cửa sổ mở.
Tôi là cổ động viên cứng cựa của đội Yankees, và số trận bóng chày mà bố đưa tôi
và em tôi đi xem thật không tài nào đếm xuể. Chẳng bao giờ chúng tôi có được chỗ
ngồi tốt cả, nhưng chẳng vấn đề gì. Chỉ riêng việc được có mặt ở đó đã quá tuyệt vời
rồi. Mickey Mantle là thần tượng của tôi. Số áo của anh, số 7, nằm chễm chệ trên áo
sơ mi của tôi, giày thể thao của tôi, mọi thứ mà tôi sở hữu. Khi chơi bóng chày, tôi bắt
chước cả tư thế và những cử chỉ của Mickey Mantle.
Khi Mick giải nghệ, tôi đã thực sự không thể tin vào tai mình. Sao anh ấy lại có thể
thôi chơi bóng được cơ chứ? Bố đưa tôi đến cả hai Ngày kỷ niệm Mickey Mantle ở
Sân Yankee, ngày 18 tháng Chín, 1968 và ngày 8 tháng Sáu, 1969. Chứng kiến buổi lễ,
thấy mọi người tôn vinh anh, đồng đội tạm biệt anh, và nghe anh nói, tôi cảm thấy
buồn khủng khiếp. Bóng chày từ đó đối với tôi chẳng bao giờ còn được như trước
nữa. Mick đã trở thành một dấu ấn lớn lao trong cuộc đời chúng tôi đến nỗi nhiều
năm sau, khi anh mất, tôi nhận được rất nhiều cuộc điện thoại chia buồn từ những
người bạn thuở nhỏ, những người đã mấy mươi năm tôi chẳng có chút tin tức gì.
Cà phê không phải là cái gì đó quá đặc biệt trong tuổi thơ của tôi. Mẹ lúc nào cũng
dùng cà phê pha sẳn. Khi bạn bè đến chơi, bà sẽ mua ít cà phê đóng hộp và lôi chiếc
máy pha cà phê trong tủ ra. Tôi nhớ cảnh mình lắng nghe những tiếng rền trầm phát
ra từ cái máy và ngắm nhìn cái nắp thủy tinh nhỏ bé cho đến tận lúc cà phê bật mạnh
ra như một hạt đậu biết nhảy.
Chỉ đến khi lớn lên tôi mới bắt đầu nhận ra kinh tế gia đình tôi eo hẹp đến mức
nào. Thảng hoặc chúng tôi đến ăn ở một nhà hàng Trung Hoa, và bố mẹ sẽ tranh cãi
nhau xem phải gọi món gì, mối quan tâm duy nhất là hôm đó trong ví bố có bao
nhiêu tiền. tôi cảm thấy vô cùng giận dữ và xấu hổ khi phát hiện ra rằng buổi cắm trại
qua đêm mà tôi tham gia hồi hè là một chương trình bao cấp dành cho lũ trẻ có hoàn
cảnh khó khăn. Sau đó tôi không bao giờ đồng ý tham gia vào chương trình đó nữa.
Khi lên trung học, tôi mới thấu hiểu cảm giác tủi thân khi phải sống ở Khu Quy
Hoạch. Trường Trung học Canarsie chỉ cách khu chúng tôi chưa đầy một dặm, nhưng
muốn đến đó tôi phải đi bộ dọc các con phố chằng chịt những ngôi nhà sang trọng hai
ba tầng chỉ với một gia đình sinh sống. Tôi biết những người sống ở đó luôn coi
thường chúng tôi.
Có lần tôi xin phép mời một cô gái đi chơi, cô ấy sống ở một vùng khác cũng
thuộc New York. Tôi còn nhớ khuôn mặt của ông bố đã trượt dài thảm não thế nào
khi ông ấy hỏi:
“cậu sống ở đâu?”
“Gia đình con sống ở Brooklyn,” tôi trả lời.
“Chỗ nào?”
“Canarsie.”
“Chỗ nào?”
“Khu Quy Hoạch Bayview.”
“Ồ.”
Tuy không nói ra nhưng phản ứng của ông ấy cho tôi thấy rõ là tôi đang bị xem
thường, và điều này khiến tôi khó chịu.
Là con lớn trong nhà với hai đứa em nhỏ, tôi phải trưởng thành thật sớm. Tôi bắt
đầu kiếm tiền từ khi còn nhỏ. Mười hai tuổi, tôi thường xuyên đi giao báo khắp các
nhà; sau đó làm việc ở quầy thu ngân của một tiệm ăn địa phương. Mười sáu tuổi, tôi
làm việc sau giờ học tại trung tâm may mặc ở Manhattan, ở bộ phận chế biến lông thú,
lột da động vật. Đó là một công việc kinh tởm và đã để lại những vết chai dày trên hai
ngón tay cái của tôi. Tôi trãi qua mùa hè nóng nực trong một xí nghiệp bóc lột nhân
công tàn tệ, hấp sợi cho một nhà máy dệt. Tôi luôn dành một phần tiền kiếm được gửi
cho mẹ - không phải vì bà bảo tôi mà vì tự thân tôi thấy thương cho hoàn cảnh mà bố
mẹ tôi đang sống.
Thế rồi, vào những năm 1950 và đầu những năm 1960, giấc mơ Mỹ trở thành một
khái niệm gây tác động mạnh mẽ, và tất cả chúng tôi đều cảm thấy mình là một phần
của giấc mơ đó. Mẹ đã truyền cảm giác đó cho chúng tôi. Bản thân bà chưa bao giờ tốt
nghiệp được trung học, và giấc mơ lớn nhất đời bà là cho cả ba đứa con đi học đại
học. Bằng sự khôn khéo, thực tế và cương quyết của mình, bà đã mang lại cho tôi một
niềm tin to lớn. Hết lần này đến lần khác, bà đặt tấm gương của những con người
thành công trước mắt tôi, chỉ cho tôi thấy những người đã tạo nên một điều gì đó lớn
lao trong cuộc sống và khăng khăng rằng tôi cũng có thể đạt được bất cứ thứ gì tôi
muốn, nếu tôi dành cả trái tim mình cho nó. Bà khuyến khích tôi thử thách bản thân
bằng cách tự đặt mình vào những tình huống khó khăn, để tôi có thể học được cách
vượt qua trở ngại. Tôi không biết bằng cách nào bà có được sự thông thái đó, vì đó
không phải những nguyên tắc sống của bà. Nhưng bà đã buộc tôi phải thành công.
Nhiều năm sau, trong một lần mẹ tôi đến thăm Settle, tôi khoe với bà những văn
phòng mới của chúng tôi ở Trung tâm Starbucks. Khi chúng tôi dạo bước quanh các
phòng ban và nhà xưởng, nhìn mọi người tất bật trả lời điện thoại và gõ liên tục các
bàn phím máy tính, tôi biết chắc rằng mọi thứ đang quay mòng mòng trong đầu bà khi
chứng kiến tầm cỡ và quy mô của công việc này. Cuối cùng, bà ghé sát tai tôi thì
thầm: “Ai trả nổi tiền cho từng này người vậy con?” điều đó vượt ngoài sức tưởng
tượng của bà.
Trong suốt quãng đời thời thơ ấu, tôi chưa bao giờ mơ có ngày mình sẽ làm kinh
doanh. Người doanh nhân duy nhất tôi biết là chú tôi, Bill Farber. Chú có một nhà
máy giấy nhỏ ở Bronx, nơi về sau chú thuê bố tôi làm đốc công. Tôi không biết chắc
rốt cuộc rồi mình sẽ làm công việc gì, nhưng tôi biết mình phải thoát khỏi sự vất vả
mà bố mẹ tôi phải chịu đựng hàng ngày. Tôi phải thoát khỏi Khu Quy Hoạch, thoát
khỏi Brooklyn. Tôi còn nhớ có lần nằm dài trên giường lúc giữa đêm và nghĩ: Sẽ thế
nào nếu mình có một quả cầu pha lê và có thể nhìn thấy tương lai nhỉ? Nhưng rồi tôi
nhanh chóng dập tắt suy nghĩ đó, vì tôi nhận ra mình sẽ sợ hãi đến mức không dám
nhìn vào nó.
Lúc đó tôi chỉ biết có một con đường duy nhất: thể thao. Như lũ trẻ trong bộ phim
Hoop Dreams, bạn bè tôi và cả tôi tin rằng thể thao chính là tấm vé đưa chúng tôi đến
với một cuộc sống sung sướng. Hồi trung học, tôi chỉ ép mình vào chuyện học hành
nếu bị bắt buộc, bởi vì tôi thấy những thứ thầy cô ra giảng ở lớp học chẳng ăn nhập
vào đâu cả. Thay vào đó tôi dành hầu hết thời gian để chơi bóng.
Tôi sẽ không bao giờ quên cái ngày tôi chính thức trở thành thành viên đội bóng.
Biểu trưng của niềm vinh dự này là một chữ C màu xanh lam thật to in trên áo jacket,
chữ C khẳng định tôi đã trở thành một vận động viên thực thụ. Nhưng mẹ tôi không
thể xoay nổi 29 đô-la để mua cho tôi cái áo jacket in chữ ấy, mẹ bảo tôi ráng đợi thêm
khoảng một tuần nữa chờ bố đến ngày nhận lương. Tôi thất vọng tràn trề. Mọi người ở
trường đều đã lên kế hoạch mặc đồng phục in chữ vào một ngày cố định rồi. Tôi
không thể xuất hiện mà không có cái áo jacket được, nhưng tôi cũng không muốn làm
mẹ tôi phiền lòng thêm nữa. Vậy là tôi mượn tiền của một người bạn để mua chiếc
jacket đó và mặc nó vào đúng ngày, nhưng tôi giữ kín không cho bố mẹ biết chuyện
này cho đến tận khi họ xoay xở đủ tiền.
Chiến thắng lớn nhất của tôi thời trung học là trở thành tiền vệ, điều này khiến tôi
thành ra nổi tiếng giữa 5.700 sinh viên ở Canarsie High. Trường tôi nghèo đến mức
chúng tôi chẳng có nổi một sân bóng riêng, và chúng tôi chưa bao giờ có khái niệm
chơi bóng trên sân nhà. Đội tôi chơi cực tệ, nhưng ít ra tôi cũng nằm trong nhóm
những tay khá khẳm nhất.
Rồi một ngày nọ, một người đàn ông đến theo dõi một trong số những trận đấu
của chúng tôi để chọn ra một cầu thủ chơi phòng ngự xuất sắc. Tôi không hề biết đến
sự có mặt của anh ta. Vài ngày sau, tôi nhận được một lá thư gửi từ trường Đại học
Bắc Michigan, nơi mà trong tâm trí tôi luôn coi như một hành tinh hoàn toàn khác cái
hành tinh tôi đang sống. Họ đang tuyển người cho đội bóng bầu dục. Bạn tự hỏi tôi có
thích không ư? Tôi hò hét và nhảy loạn cả lên. Cảm giác tuyệt vời như thể nhận được
lời mời vào nhóm biệt phái NFL (*Liên đoàn bóng đá Quốc gia Mỹ) vậy.
Trường Bắc Michigan rốt cuộc đã trao cho tôi một suất học bổng bóng bầu dục, đó
cũng là suất học bổng duy nhất mà tôi nhận được. Nếu không có nó, tôi chẳng biết
mình phải làm thế nào để biến giấc mơ của mẹ tôi thành sự thật, để tôi có thể đặt chân
vào cổng trường đại học.
Trong kỳ nghĩ xuân năm cuối cấp 3, bố mẹ đã lái xe đưa tôi đến một nơi tuyệt vời
ngoài sức tưởng tượng của tôi. Chúng tôi vượt gần một ngàn dặm đường để đến
Marquette, nằm ở vùng phần Thượng của bán đảo Michigan. Trước giờ chúng tôi chưa
hề đi đâu khỏi New York, nên bố mẹ tôi thực sự hứng khởi với chuyến phiêu lưu này.
Chúng tôi băng qua hết núi rừng rậm rạp đến đồng bằng mênh mông, qua những hồ
nước rộng lớn chẳng kém gì đại dương. Khi đến nơi, hình ảnh khu học xá của trường
ập vào mắt tôi, một hình ảnh nước Mỹ mà tôi chỉ thấy trên phim ảnh, với những cây
cao đang đâm chồi, những sinh viên cười nói pha trò vui vẻ, những chiếc đĩa nhựa
Frisbee bay khắp không trung.
Vậy là cuối cùng tôi đã rời khỏi Brooklyn.
Thật tình cờ, cũng chính năm đó Starbucks được thành lập tại Seattle, một thành
phố mà ngay cả trí tưởng tượng của tôi cũng không nghĩ tới.
Tôi mê rít sự tự do và phóng khoáng của cuộc sống đại học, tuy ban đầu tôi có
thấy hơi cô đơn và lạc lõng. Tôi thân được vài người bạn trong năm nhất và may mắn
được ở cùng phòng với họ trong suốt bốn năm đại học, và cả sau khi tốt nghiệp nữa.
Có hai lần tôi gọi em trai tôi và nó đã bay đến thăm tôi. Một năm nọ, vào Ngày Của
Mẹ, tôi bí mật xin quá giang xe về New York để khiến bà bất ngờ.
Hóa ra tôi không giỏi chơi bóng bầu dục như tôi tưởng và rốt cuộc chẳng được thi
đấu chính thức trong đội bóng. Để tiếp tục ở lại trường, tôi phải vay tiền và làm thêm
bán thời gian cũng như toàn bộ lỳ nghĩ hè để trang trãi mọi chi phí. Tôi từng làm nhân
viên quầy bar ca đêm cho một quán rượu, và thậm chí tôi còn đôi lần bán máu nữa.
Dù vậy, đó vẫn là những năm tháng vô cùng hạnh phúc, chẳng phải bận tâm với quá
nhiề...
 





