Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gió Đầu Mùa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:11' 03-12-2024
Dung lượng: 313.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:11' 03-12-2024
Dung lượng: 313.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Ðứa con đầu lòng. 5
Nhà mẹ Lê. 9
Những Ngày Mới 14
Duyên Số. 19
Một cơn giận. 22
Tiếng Chim Kêu. 28
Cái chân què. 31
Ðói 35
Cô Áo Lụa Hồng. 43
Một đời người 47
Người lính cũ. 52
Hai lần chết 56
Gió lạnh đầu mùa. 62
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Tựa
Viết truyện ngắn nào có khó gì đâu. Một sự xẩy ra ở ngoài phố làm rung động trái tim ta, một
câu truyện thuật trong phòng khách làm nở một nụ cười khoái trá trên môi ta, một khu rừng âm
u lạnh lẽo, một xóm nhà tranh rải rác dưới ven đồi, một cái quán bán nước, một cái xe với anh
phu kéo… Hay không cái gì cả, sự trống rỗng một phút, một giây của tâm hồn. Những cảnh tượng
ấy, dù trọng dù khinh đều là đầu đề câu truyện ngắn, đều kích thích trí nghĩ ta mà ngấm ngầm tự
cấu tạo nên một câu truyện ngắn. Ta chỉ việc viết lên giấy những điều trông thấy, nghe thấy và
những ý tưởng nẩy ra trong thâm tâm ta. Có thế thôi. Cái khó - nếu quả có cái khó - chỉ ở chỗ
phải biết có thế thôi.
Ðó là quan niệm về truyện ngắn của Thạch Lam, tác giả tập truyện “Gió đầu mùa”.
Một gia đình hai vợ chồng trẻ với đứa con đầu lòng mới ra đời, một dẫy phố chợ tồi tàn với
bọn ngụ cư nghèo đói, cái vui sướng của một người thất nghiệp về làng sống với dân quê, sự đùa
bỡn oái oăm của duyên số, cái kết quả tai hại của một cơn giận, sức áp bức quyết liệt của sự đói,
cái chết đau đớn của người bạn trẻ nghèo. Toàn truyện giản dị cả. Muốn tả những sự xẩy ra
hàng ngày ấy tác giả không cần đến những tình tiết ngoắt nghéo tối tăm, nhiều khi rất trẻ con
mà ta thấy nhan nhản trong những truyện kểu cách, loè loẹt của những nhà văn thiếu thành
thực.
Thành thực, đó là đức tính không có không được của nhà văn. Ở Thạch Lam, sự thành thực
lại trở nên sự can đảm. Ðọc nhiều đoạn văn của Thạch Lam, tôi rùng rợn cả tâm hồn vì sự thành
thực (những đoạn tả trong truyện “Ngày Mới” ).
Tôi xin thú thật rằng những điều xét nhận gay go về mình, và những người sống chung
quanh mình, tôi cũng thường có, song vị tất đã dám viết ra. Nhưng sao lại thế nhỉ? Ðúng lẽ bọn
nhà văn chúng ta ai ai cũng phải can đảm hơn người thường. Ðáng lẽ ta phải mạnh bạo viết
những điều mà mỗi người, mà ta, nhất là ta, giấu kỹ ở tận đáy linh hồn, những nỗi băn khoăn,
những sự vui mừng lo sợ, tức tối, thèm muốn, ghen ghét đang ẩn náu trong khối óc, trong trái tim
ta. Tôi vẫn ước ao cái can đảm mà tôi thấy ở tolstoi, mà trong đám văn sĩ mới nước ta tôi thấy ở
Thạch Lam.
Lòng ta là một thế giới mênh mông. Nếu ta để trí suy xét của ta len vào cách ngách, các nơi
kín tối, chăm chỉ tìm tòi ta sẽ thấy nhiều sự mới lạ. Tưởng sống tới trăm tuổi ta cũng không biết
thực rõ được lòng.
Phải tả chân thường khoe khoang chỉ suy xét theo phương diện khách quan, liệu có được
không? Tả một người giận dữ mà chỉ tả những hiện trạng của sự giận dữ thì bức tranh của ta
không thể đầy đủ được.
Muốn nó đầy đủ, ta phải hỏi lòng ta, ta phải hỏi ký ức ta xem khi ta giận thì trí nghĩ và tính
tình ra sao, thì cảm giác ta ra sao, hơn thế, ta phải sống lại một cơn giận. Người chủ động trong
truyện “một cơn giận” của Thạch Lam có thể chỉ là Thạch Lam. Ông tự vệ ông. Nhưng cũng có thể
là bức tranh tả chân hết thẩy ai ai trong một cơn giận vô lý giữa lúc ta thấy “lòng ta chán nản và
buồn bực, những ngày tự nhiên không hiểu sao ta thấy khó chịu và hay gắt gõng”.
Có lẽ vì không bao giờ rời bỏ phương diện chủ quan nên Thạch Lam dễ làm ta rung động:
trước ta, chính ông đã rung động. Tả cái lạnh đầu mùa, ông nhớ ngay cái cảm giác mà ông có
một đêm mưa rào, rồi bỗng trở ra gió bấc “Gió lạnh đầu mùa”. Ông tả cái ngõ hẻm ở một xóm quê
bằng cái cảm giác của ông đi qua nơi đó. (Một cái cảm giác mát lạnh bỗng tràn lên hai vai. Tân
ngửng đầu lên nhìn; chàng vừa đi vào dưới vòm tre xanh trong ngõ) “Trở về”.
Cả đến một buổi gặt, ông cũng tả bằng cảm giác của ông. (Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh
nhẹn, mỗi lần bông lúa rung động châm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất
với mùa rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu). “Những ngày mới”.
Nếu ta có thể chia ra hai hạng nhà văn. Nhà văn thiên về tư tưởng và nhà văn thiên về cảm
giác, thì tôi quả quyết đặt Thạch Lam vào hạng dưới. Ở chổ mà người khác dùng tư tưởng, dùng
lời có khi rất rậm để tả cảnh, tả tình, ông chỉ nói, nói một cách rất giản dị cái cảm giác của ông.
Các cảm giác ấy bao quát hết tư tưởng của tác giả và của độc giả, và của độc giả nhiều khi đi xa
hơn, sâu hơn trí, vì có cái cảm thấy mô tả không thể đúng tư tưởng để mô tả, để giải phân cái
cảm giác của ta ra được, dù là một cái cảm giác nhẹ nhàng, cái rung động khẽ như cánh bướm
non ấy là một tình cảm sâu xa.
Thực vậy, những cái cảm giác đạm mạc như thế mà ta thấy trong khắp các truyện của
Thạch Lamđều giấu một tình sâu xa. Tác giả, mà ta tưởng rất điềm tĩnh, kỳ thực là một người có
những tính tình mãnh liệt, quá khích nữa. Ðứng trước sự khốn khổ của bác Lê, tác giả chỉ thủ thỉ
nói:
“Giá cứ nó người mướn làm thì cũng không đến nỗi”. Nhưng trong cái thủ thỉ ấy ta cảmt hấy
lòng tức giẫn, lòng oán trách xã hội lên đến cực điểm. Sáu năm xa cách, người con giầu có về
thăm mẹ già nghèo ở nhà quê, khi hắn ta từ giã bà cụ ra đi, tác giả thản nhiên, lạnh lùng viết:
“Ra đến ngoài Tân nhẹ hẵn mình. Chàng tự cho đã làm xong bổn phận”. nhưng sự lạnh lùng
ấy giấu một tính tình khinh bỉ, một cảm tưởng chua chát không biết đến chừng nào. Những kẻ
giầu có huênh hoang trong bọn trưởng giả như người con trong truyện “Trở về”. Thạch Lam rất
ghét, cũng như ông rất yêu, rất thương bọn nghèo đói, bọn bác Lê, anh Sinh, anh Du… Ông đem
hết tâm hồn ra để ghét, tuy ông chỉ lãnh đạm nói đến họ. Lòng ghét âm thầm và dữ dội của ông có
khi làm cho ông thiên lệch. Một lần nghe tôi đọc đến tên một người bạn mới giầu sang, ông chàu
mày nói: “Ồ! Tôi ghét hắn ta lạ”. Tôi chưa kịp hỏi vì lẽ gì thì ông đã tiếp:
“Trông cái má hắn ta phinh phính, cái bụng hắn ta xệ xệ!”
Rồi ta sẽ thấy trong những tác phẩm của Thạch Lam rất nhiều nhân vật có cái bụng xệ.
Thạch Lam sẽ trút lên đầu hộ hết cả sự căm tức, oán trách một xã hội trưởng giả, bất công, tàn
ác đối với những khốn khổ đáng thương mà Thạch Lam tha thiết bênh vực an vi.
Khái Hưng
3 – 9 – 1937
Lời nói đầu
Khi nào thu bắt đầu hết, khi nắng vàng hanh dần mất vẻ rực rỡ trên các lá cây, ngọn gió heo
may sẽ từng cơn nhẹ lướt trên cánh đồng rộng, đem lại cho ta những cái rùng mình mới mẻ, như
đã lẫn cái buồn ảm đạm của ngày mùa đông.
Trước ngọn gió đầu mùa, tôi không khỏi ngăn được những cảm giác sâu xa và mới lạ. Tôi
đem tâm nghĩ ngợi đến những cơn gió đột khởi ở lòng người; báo trước những sự thay đổi trong
cái bí mật của tâm hồn. Tôi lại nghĩ đến những người nghèo khổ đang lầm than trong cái đói rét
cả một đời, gió heo may sẽ làm cho họ buồn rầu lo sợ, vì mùa đông sắp tới, mùa đông giá lạnh và
lầy lội phủ trên lưng họ cái màn lặng lẽ của sương mù và lòng tôi sẽ lại, khi nghĩ rằng chỉ một
chút âu yếm, một chút tình thương, cũng đả nâng đỡ an ủi những người cùng khốn ấy.
Ðó là những ý nghĩ mà gió đầu mùa đả gây nên trong trí tôi những câu truyện trong quyển
sách, tôi viết ra cũng như những cảm giác mới mẻ mà tôi đã thấy. Tôi hết sức diễn tả cho đúng
tất cả sự thực rung động và thú vị của cuộc đời. Tôi không có ý muốn kể những truyện thần tiên
hay lãng mạn, nhưng những cảm tưởng của tôi với đời kín đáo và giản dị quanh mình. Bởi vì đối
với tôi, văn chương không phải là một cách đêm đến cho người đọc sự thoát ly hay sư quên; trái
lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay
đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong
phú hơn.
Thạch Lam.
Ðứa con đầu lòng
Nhà mẹ Lê
Những Ngày Mới
Duyên Số
Một cơn giận
Tiếng Chim Kêu
Cái chân què
Ðói
Cô Áo Lụa Hồng
Một đời người
Người lính cũ
Hai lần chết
Gió lạnh đầu mùa
Ðứa con đầu lòng
Tân nhớ lại một cách rõ ràng những giờ chàng chờ đợi trong căn phòng ở hộ sinh viện. Thì
giờ lúc ấy sao hình như đi chậm thế! Tân tưởng cái buổi ấy kéo dài ra mãi không bao giờ hết.
Chàng nóng ruột như lửa đốt, đi đi lại lại trong phòng, ngồi xuống chiếc ghế ở bên tường một
lát rồi đứng dậy. Chàng đưa mắt nhìn qua những bàn ghế giản dị và sơn trắng, xếp đặt một
cách gọn ghẽ. Rồi chàng chăm chú nhìn cái cánh cửa đóng ở góc phòng. Bên kia cánh cửa, vợ
chàng đang chờ đợi cái bí mật lạ lùng của sự sinh nở. Thỉnh thoảng cửa phòng hé mở, một cô
đỡ mặc trắng rón rén bước ra. Tân thoáng nghe thấy những tiếng kêu khe khẽ và đau đớn.
Chàng để ý dò xét nét mặt của cô đỡ nhưng vẫn thấy cô ta bình tĩnh như thường, nhẹ nhàng đi
ra ngoài lấy chai nước, hai cái khăn mặt.
Rồi cuộc chờ đợi khó chịu ấy hết. Tân nghe thấy mấy tiếng kêu thét trong phòng bên đưa
sang, tiếp đến tiếng trẻ con khóc. Một lát, cánh cửa phòng mở rộng, một cô đỡ ghé đầu ra ngoài
mỉm cười:
- Mời ông vào. Xong cả rồi.
Tân theo cô ta bước vào trong phòng. Chàng thấy mấy cô đỡ xúm xít chung quanh cái nôi
mây và thoáng nhìn thấy giữa đống vải trắng một vật gì đỏ nõn đang động đậy. Tân đến gần
bên giường. Vợ chàng nằm ngả đầu trên gối trắng, nét mặt xanh xao và mệt nhọc. Nhưng hai
con mắt sáng lên như vui mừng khi nhận thấy chàng.
Trong gian phòng yên lặng vẫn phảng phất cái không khí của một sự bí mật gì quan trọng.
Các cô đỡ nói với nhau khe khẽ. Tân ngồi xuống cái ghế đầu giường, cầm lấy tay vợ. Chàng thấy
bàn tay lạnh và ướt đẫm mồ hôi.
Bà đỡ chính đã lót xong cho đứa bé, đưa đến trước mặt Tân, vui vẻ nói:
- Ông xem cô bé có khỏe mạnh không? Được hơn ba cân rưỡi đấy.
Trong khi vợ chàng giơ tay ra đón lấy đứa con một cách âu yếm và nâng niu, Tân tò mò
ngắm nhìn cái đầu bé phủ tóc đen và mượt. Chàng thấy một cảm tưởng lạ, không rõ rệt, nẩy nở
trong lòng. Nhưng cái dúm thịt động đậy, cái mầm sống nhỏ mọn và yếu ớt kia hình như không
có một chút liên lạc gì với chàng cả. Tân không thấy cảm động như chàng tưởng, và cũng không
thấy có một tình cảm gì đối với đứa con mới đẻ.
Một tuần lễ sau ở nhà, Tân thấy vợ và vú em bận rộn, rối rít như mỗi khi sắp đến ngày giỗ.
Hai người suốt cả buổi chỉ ngồi cắt và khâu những cái áo con con, đan những đôi tất xinh xinh
và sửa soạn cái nôi mây. Những công việc đó, Tân thấy hay hay, nhưng chàng không để tâm
đến. Thỉnh thoảng chàng mới thoáng chú ý một chút đến đứa bé mà chàng thấy lúc nào cũng
quấn kín trong miếng vải trắng và nhắm mắt ngủ kỹ.
Một buổi sáng khi sắp sửa đi làm, Tân thấy vợ gọi:
- Này cậu lại mà xem, hay quá.
Tân cúi xuống giường vợ chàng đương ngồi, và hai tay giữ chân đứa bé đặt nằm trước mặt.
Hai bàn tay nhỏ nhắn của đứa bé đang cọ quạy, giơ lên giơ xuống, hai con mắt bé lờ đờ, như
hơi ngạc nhiên nhìn.
Vợ chàng sung sướng hỏi:
- Có phải nó nhớn hơn hôm nọ nhiều không?
Nàng giơ ngón tay cho đứa bé nắm rồi tiếp:
- Này cậu xem nó nắm chặt chưa này!
Tân cũng cầm lấy tay đứa bé đáp:
- Ừ, nhưng sao cái đầu nó dài thế nhỉ. Tôi trông nó thế nào ấy.
- Nó còn bé thì nó thế chứ sao.
- Mà hình như một mắt to, một mắt nhỏ.
Vợ Tân ra ý không bằng lòng, cãi lại:
- Không, hai mắt nó bằng nhau đấy chứ. Cậu chỉ hay chê nó thôi.
Rồi nàng bế đứa con lên lòng, âu yếm cho bú.
Dần dần Tân cũng quen với đứa trẻ lặng lẽ sống bên mình. Mỗi lần đi về Tân lại đến cạnh
cái nôi, vén tấm màn trắng lên và nhìn một lát đứa bé nằm trong đó, vẫn hai tay cọ quạy và con
mắt lờ đờ nhìn mọi vật. Tuy vậy, Tân không nhận thấy rõ rệt có cái liên lạc gì với đứa trẻ. Vả lại
chàng cũng không nghĩ sâu xa gì về sự đó, chỉ thoáng qua trong trí mà thôi.
Một lần, chàng đang ngồi làm việc ở bàn giấy thì nghe tiếng vợ tắm cho đứa bé ở trong
buồng. Vợ chàng gọi:
- Cậu vào đây hộ tôi một tí.
Tân quay mặt vào phía buồng, đáp:
- Con sen đâu, sao không gọi nó?
- Nó còn bận giặt ngoài kia. Thì cậu vào hộ tôi một tí có làm sao. Giữ hộ tôi cái đầu để tôi
tắm cho nó thôi mà.
Tân ngần ngại bỏ giở công việc:
- Nào thì vào!
Rồi chàng vào trong buồng ngồi xuống bên cái chậu, hai tay giữ lấy đầu đứa bé. Vợ chàng
nói lấy lòng:
- Cậu chỉ cầm một tí thôi. Tôi tắm cho nó xong ngay bây giờ đây.
Tân nhìn đứa bé, không thích một chút nào. Cái thân hình ngắn ngủn và chân tay ngẳng
nghiu của nó làm chàng khó chịu không muốn để ý đến. Chàng càu nhàu mắng đứa bé:
- Nằm im! Mày cứ cọ quạy bắn cả nước lên tao đây này.
Cái đầu đứa bé bôi đầy xà phòng nên càng trơn khó giữ. Tân đã thấy mỏi tay. Chàng bảo vợ:
- Thôi, giữ lấy nó, tôi mỏi tay lắm rồi.
Vợ chàng hơi gắt:
- Hãy giữ một chút nữa. Mới có một tí thế đã kêu mỏi!
Cái giọng nói ấy làm cho Tân không bằng lòng. Chàng buông đứa trẻ đứng dậy, trả lời xẵng:
- Không phải công việc của tôi. Với lại tôi trông nó khó chịu lắm.
Tân không nhận thấy nét ngạc nhiên và buồn rầu của vợ, bước ra ngoài. Một chút hối hận,
đến cửa, làm chàng quay mặt lại: Vợ chàng đang ôm đứa bé trong lòng, khóc nức nở.
Ra ngoài, Tân mới nhận thấy cái cử chỉ vô lý của mình. Một tấm tình thương nảy nở trong
lòng chàng. Tân muốn trở vào an ủi vợ, xin lỗi nàng vì đã làm nàng phải buồn rầu. Chàng dừng
lại, định quay vào, nhưng không biết cái gì vẫn giữ chàng lại. Tân đến ngồi bên bàn, nghĩ ngợi.
Từ khi hai vợ chồng lấy nhau, những cuộc cãi cọ nhỏ mọn, không có nghĩa lý gì, vẫn thường
xảy ra luôn. Vì một câu nói, vì một cớ không đâu, hai vợ chồng lại giận nhau. Mà cũng như lần
này, Tân cảm thấy chàng chỉ nói một lời nói dịu ngọt, êm ái là đủ cho hai bên lại hòa hợp như
cũ. Nhưng những câu ấy tan đi trên miệng trước khi nói ra lời. Một ý xấu khiến chàng yên lặng,
và xui chàng giận dữ thêm lên để lấy phần phải về mình.
Khi Tân trở lại phòng, chàng thấy vợ đang ngồi cho con bú. Đứa bé chải rửa sạch sẽ trông
hồng hào như đánh phấn. Cái bàn tay mập mạp xinh xắn của nó nắm chặt lấy tay mẹ như để
cầu sự âu yếm và che chở. Thỉnh thoảng nó ậm ừ trong miệng có vẻ rất bằng lòng.
Tân lại gần, cúi nhìn đứa bé. Chàng thấy trong lòng một cảm động êm đềm và phiền phức.
Nhìn đứa trẻ ngây thơ nằm trong lòng mẹ, Tân cảm thấy lần đầu cái thiêng liêng sâu xa của sự
sống, và nhận thấy chính những cái bé nhỏ, hèn mọn hằng ngày nó phá hoại cuộc đời.
o0o
Từ đấy, đứa con như cái dây giữ sự hòa hợp trong hai vợ chồng. Tân và vợ chàng không cãi
nhau nữa. Mà nếu có xảy ra cuộc hờn giận, hai người chỉ cùng trông đứa trẻ mũm mĩm là lại
hòa hảo như cũ.
Thỉnh thoảng, vợ chàng bồng con đưa đến trước mặt Tân, chỉ cho chàng biết những cái
thay đổi trong đứa bé.
- Này cậu trông, cái thóp bây giờ đã nhỏ đi rồi đấy.
Tân cũng chăm chú xem, rồi nói chuyện với con. Lúc chàng ngửng lên nhìn, chàng thấy vợ
ngượng nghịu muốn giấu sự vui mừng làm ửng hồng đôi gò má. Tân cũng thấy trong tâm can
một sự vui vẻ khác thường.
Buổi sáng nay, vừa bước chân vào trong nhà, Tân đã hỏi vợ:
- Em đâu?
- Nó ngủ. Cái gì thế?
- Tôi có cái này hay lắm.
Tân giơ lên cho vợ xem một đôi bít tất len trắng xinh đẹp. Chàng bước lại bên cạnh cái nôi
rủ màu trắng sạch sẽ.
Vợ chàng vội nói:
- Ấy, khẽ chứ cậu, để nó ngủ. Tôi vừa mới đặt xong.
Tân rón rén, khe khẽ giở tấm màn tuyn nhìn thấy đứa trẻ nằm gọn gàng trong vải trắng.
Chàng cúi mình xuống, yên lặng đợi trên cặp môi nhỏ bé một nụ cười.
Và Tân thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ
chàng chưa từng thấy.
Nhà mẹ Lê
Đoàn Thôn là một cái phố chợ tồi tàn gần ngay một huyện lỵ nhỏ ở trung châu. Hai dãy nhà
lụp xụp, mái tranh xuống thấp gần đến thềm, che nửa những cái giại nứa đã mục nát. Gần đây
là những quán chợ xiêu vẹo đứng bao bọc một căn nhà gạch có gác, bưng bít như một cái tổ
chim, nhà của một người giầu trong làng làm ra để bán hàng.
Người ở phố chợ là bảy, tám gia đình nghèo khổ không biết quê quán ở đâu, mà người dân
trong huyện vẫn gọi một cách khinh bỉ: những kẻ ngụ cư. Họ ở những đâu đến đây kiếm ăn
trong mấy năm trời làm đói kém, làm những nghề lặt vặt: Người thì kéo xe, người thì đánh
dậm hay làm thuê, ở mướn cho những nhà giầu có trong làng. Người ta gọi mỗi gia đình bằng
tên người mẹ: nhà mẹ Hiền, nhà mẹ Đối, nhà mẹ Lê. Những gia đình này đều giống nhau ở chỗ
cùng nghèo nàn như nhau cả.
Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người
đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay dăn deo như một quả trám khô. Khi bác
mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: Mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười
bảy tuổi, đứa bé nhất hãy còn phải bế trên tay.
Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, một căn nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác.
Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc
giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông
như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở
như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn. Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày
cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét,
bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có
người mượn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy
đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi
các ruộng kia đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống ra dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc
khía vào da, bác Lê lo sợ; vì không ai mượn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy
đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hi mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có
cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê
ôm ấp lấy con trong ổ rơm để mong lấy cái hơi ấm của mình ấp ủ cho nó. Thằng con nhớn nhất
thì từ sáng đã cùng thằng Ba ra cánh đồng kiếm con cua con ốc, hay sau mùa gặt, đi mót những
bông lúa còn sót lại trong khe ruộng. Thật là sung sướng, nếu chúng mang về được một lượm,
trong những ngày may mắn. Vội vàng, bác Lê đẩy con ra vơ lấy bó lúa, đem để xuống dưới chân
vò nát, vét hột thóc, giã lấy gạo. Rồi là một bữa cơm nóng lúc buổi tối giá rét mẹ con ngồi xúm
quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh.
o0o
Cuộc đời của gia đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua, ngày no rồi lại ngày đói. Tuy vậy,
cũng có những ngày vui vẻ. Những ngày nắng ấm trong năm, hay những buổi chiều mùa hạ, mẹ
con bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước cửa nhà. Các người hàng xóm cũng làm như thế. Các bà
mẹ ngồi rủ rỉ với nhau những câu chuyện kín đáo, các trẻ con nô đùa dưới quán chợ, còn các bà
già thì ngồi rũ tóc tìm chấy ngoài bóng nắng. Bác Lê đem thằng Hi, con Phún ra gọt tóc cho
chúng nó bằng một cái mảnh chai sắc. Thằng cả ngồi đan lại cái lờ, còn những đứa khác chơi
quanh gần đấy. Trong ngày hè nóng nực, con bác Lê đứa nào cũng lở đầu - bác ta bảo là một cái
bệnh gia truyền từ đời ông tam đại - nên bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con
bác lại giống một mẹ con đà gà, mà những con gà con người ta bôi xanh lên đầu cho khỏi lẫn.
Người phố chợ vẫn thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấy. Bác Đối, kéo xe, người vui
tính nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo:
- Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.
Bác Lê bao giờ cũng trả lời một câu:
- Mất bớt đi cho nó đỡ tội!
Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công bằng, người ta cũng thấy
bác yêu thằng Hi hơn cả, nó là con thứ chín, và ốm yếu xanh xao nhất nhà. Bác thường bế nó
lên lòng, hôn hít, rồi khoe với hàng xóm: nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc. Rồi
bác ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại chuyện gì đã lâu lắm.
Những đêm sáng trăng mùa hạ, cả phố bắc chõng ngồi ngoài đường vì trong nhà nào cũng
nóng như một cái lò và hàng vạn con muỗi vo ve. Dưới bóng trăng, những đá rải đường trông
đen và lấp lánh sáng. Đất hãy còn giữ cái nóng buổi trưa và bốc lên một cái mùi riêng lẫn mùi
rác bẩn và mùi cát. Mọi người họp nhau nói chuyện, trẻ con nghịch chạy quanh các bà mẹ. Hình
như quên cái cảnh khổ sở, hèn mọn, ai ai cũng vui vẻ chuyện trò, tiếng cười to và dài của người
lớn xen lẫn với tiếng khúc khích của các cô gái chúm chụm sát nhau trong bóng tối. Người ta
thấy tiếng bác Hiền nói vang, tiếng bác Đối thuật lại buổi xe kiếm may mắn. Trong một căn nhà
đưa ra tiếng võng và tiếng hát lanh lảnh của bác Đối gái, đã đem hết tiền buổi xe kiếm được
của chồng vào hiệu Khách mua một cân táo tầu rồi nằm võng vừa nhai vừa hát bài trống quân:
"Ngày xưa, có anh Trương Chi"
o0o
Mấy năm sau, sự kiếm ăn ngày một thêm khó khăn. Buổi chợ họp không đông đúc như
trước và vãn sớm. Những tiếng nói chuyện trong sương lúc mờ sáng của các người hàng xáo
gánh gạo kĩu kịt trên đê để đem xuống huyện bán, người ta không nghe thấy nữa. Cái đói kém
đến chen lấn trong phố chợ. Bác Hiền ngày nào cũng gánh hàng đi rồi lại gánh hàng về; còn
thường thấy bác Đối kéo cái xe không lảng vảng trong huyện và vợ bác cũng không hay nằm
võng hát trống quân nữa. Bác Lê trong lúc ấy, đi khắp các nhà trong làng xin làm mướn, nhưng
các nhà có ruộng không ai mướn; bác có làm không công, người ta cũng chỉ cho có nửa bát gạo,
đùm bọc về không đủ cho ba đứa con ăn. Những ngày nhịn đói dần dần liên tiếp nhau luôn. Bác
Lê thấy đàn con ngày một gầy còm; buổi chiều, bác mệt nhọc chán nản trở về, hỏi thằng cả xem
có đánh được ít cá nào không, thì nó buồn rầu khẽ lắc đầu, trả lời rằng các hồ ao người ta đã
cấm không cho nó thả lờ nữa.
Mùa rét năm ấy đến, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau, rét run
trong căn nhà ẩm ướt và tối tăm, vì đèn đóm không có nữa. Mấy gia đình ở phố chợ đều đói rét,
khổ sở. Nhưng mỗi nhà đều lặng lẽ, âm thầm mà chịu khổ một mình, không than thở với láng
giềng hàng xóm, bởi vì ai nấy đều biết cũng nghèo khốn như nhau.
o0o
Một buổi chiều, mà đàn con nhịn đói đã suốt buổi, bác Lê vá lại manh áo rét, gọi đứa con cả
đến rồi bảo:
- Ở nhà trông các em, tao vào ông Bá xem có xin được ít gạo nào không.
- Ban sáng u đã vào mà người ta có cho đâu; cậu Phúc lại còn bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy
thả chó ra cắn.
Bác Lê đáp:
- Nhưng biết làm thế nào! Không có thì lấy gạo đâu ra mà ăn? Thôi, tao cứ liều vào lần nữa
xem sao.
Nói xong, bác Lê mở cửa liếp ra đi. Trong lòng bác vẫn có chút hy vọng, tuy buổi sáng, lúc
vào xin gạo, ông Bá đã đuổi mắng không cho. Bác nhớ lại cái cảnh sang trọng ấm cúng trong
nhà ông Bá: những chậu sứ, câu đối thiếp vàng sáng chói. Không lẽ ông Bá giàu có thế mà
không thí cho mẹ con bác được bát gạo hay sao?
Ở nhà, đàn con bác ngồi nhìn nhau, đợi trong ổ rơm. Bác đi đã lâu mà không thấy về. Thằng
Hi lắng tai nghe tiếng chó cắn trong làng, rồi bảo chị nó:
- Hình như u về đấy, chị ạ.
Thằng Lê đi lại bên cửa liếp nhìn ra ngoài.
Bỗng có tiếng chân người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ thấy bác Đối và một người nữa
khiêng bác Lê vào trong nhà. Trên bắp chân người mẹ, máu đỏ chảy ròng ròng.
Thằng Lê hiểu ngay mẹ nó bị chó ông Bá cắn. Bác Đối đặt người bị thương xuống chiếu rồi
ra đi, sau khi dặn:
- Bây giờ bác lấy lá lốt mà rịt cho nó cầm máu. Chó Tây cắn thì độc lắm đấy.
Khi bác đi khỏi, lũ trẻ xúm quanh lấy mẹ. Thằng Hi vừa mếu máo vừa hỏi:
- U làm sao thế u?
Bác Lê nén cái đau, giảng cho con biết:
- Thật cậu Phúc ác quá! Đã không cho thì thôi, lại còn thả chó ra đuổi; tao đã chạy mà
không kịp, nên nó cắn phải. May gặp bác Đối, chứ không biết bao giờ mới lê được về đến nhà.
Bác ngừng lại nhìn đàn con ốm yếu, rồi thở dài:
- Thế là mẹ con biết lấy gì mà ăn cho đỡ đói bây giờ?
Thằng Hi òa lên khóc, con Tý cũng khóc theo. Bác Lê giơ tay ra ôm chúng nó vào lòng, rồi
nghĩ thương thân phận mình, bác cũng ứa nước mắt.
Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Những cái rùng mình lạnh lẽo nối nhau lướt trên da bác, manh
chiếu rách không đủ đắp ấm thân. Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình,
từ lúc còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày khổ sở, nhọc nhằn. Cái nghèo nàn không biết tự
bao giờ đã vào nhà bác, lúc sinh ra bác đã thấy nó rồi; và từ đấy, nó cứ theo liền bác mãi.
Nhưng giá cứ có người mướn làm thì cũng không đến nỗi. Bác nhớ lại những buổi đi làm khó
nhọc, những lúc vui vẻ được lĩnh gạo về cho con, những bữa cơm nóng mùa rét, những lúc
thằng Hi và con Tý vui đùa giằng co chiếc bánh bác mua cho chúng.
Rồi đến những ngày đi mót lúa mỏi lưng trên cánh đồng, nhặt những bông lúa thơm, những
lúc vò lúa dưới chân... Bác Lê nhớ lại cái cảm giác vui mừng khi thấy cạnh bông lúa sắc xát vào
da thịt. Đấy còn là những ngày no đủ. Rồi đến những buổi chợ vắng, những ngày nhịn đói như
hôm nay. Bác mơ màng thấy vàng son chói lọi trong nhà ông Bá, thấy nét mặt gian ác và tinh
nghịch của cậu Phúc, con chó Tây nhe nanh chồm lên...
- Trời ơi! Sao tôi khổ thế này...
Tiếng kêu thất thanh của bác làm giật mình lũ trẻ, chúng nó ngồi dậy đưa mắt sợ hãi nhìn
người mẹ.
Hai hôm sau, bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết.
Người trong phố chợ gom góp nhau mua cho bác một số ván mọt, rồi đưa giúp bác ra cánh
đồng, chôn vào bãi tha ma nhỏ ở đầu làng.
Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ bác Lê ngồi ở vỉa hè, con Tý
đang dỗ cho thằng Hi nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi một lát sẽ về. Nhưng họ biết rằng bác Lê
không trở về nữa. Và họ thấy một cái cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những người ở lại,
những người còn sống mà cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không biết bao giờ dứt.
Những Ngày Mới
Những bông lúa vàng mới cắt xong đều xếp rải rác từng hàng trên bờ ruộng, trong đám cỏ
xanh mọc dầy. Mỗi khi gặt được vài lượm lúa người thợ hái ôm sát bó lúa thơm vào người,
đem ra xếp vào chỗ lúa trước. Rồi họ lại trở vào ruộng, đứng theo hàng những người bạn gặt.
Tiếng hái đưa vào gốc lúa xoàn xoạt như tiếng trâu bò ăn cỏ.
Chăm chú vào công việc làm, Tân không để ý gì đến cảnh vật chung quanh. Chàng cũng
không thấy mệt nữa, tuy ánh nắng chiếu trên lưng nóng rát, và mồ hôi từng giọt rỏ ở trên trán
xuống. Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn, mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào
người, mùi lúa chín thơm lại phản phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm cho chàng
say sưa như men rượu. Tân lại cố hết sức gặt, chỉ lo không theo kịp hàng những người thợï
khác.
Buổi sáng khi Tân ngỏ ý cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn đã mấy hôm nay đều
trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhí nhảnh dưới vành khăn vuông che
kín đầu, nói đùa:
- Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thế kia thì gặt được độ ba nẹn lúa.
Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.
Người già nhất trong bọn, một ông cụ râu tóc đã bạc, nhưng da xém đen và khỏe mạnh,
lẳng lặng đem một cây hái ra mài trên bờ ruộng. Khi mọi người sửa soạn xong, ông cụ đưa cho
Tân cây hái, lưỡi sáng loáng nói:
- Lưỡi sắc thế này thì cắt cứ ngọt như cắt cỏ.
Cắt được mấy lượm lúa, Tân thấy cánh tay mỏi rã rời. Chàng tưởng không thể nào gặt được
nữa. Tuy vậy, cố hết sức chàng cũng chưa theo kịp bọn thợ gặt. Nhưng được vài bước, Tân lại
phải dừng lại để thở. Chàng nhận thấy cô gái ban nãy, tuy tay đưa hái thoăn thoắt nhưng vẫn để
ý nhìn chàng. Còn ông cụ già cứ điềm đạm gặt, bên cạnh ông ta, những bông lúa đã xếp thành
đống. Tân lại cúi xuống làm việc. Dần dần mềm dẻo, Tân thấy dễ chịu. Chàng luôn đưa lưỡi hái,
vui vẻ khi thấy những bông lúa chắc, vàng ngả sát vào người. Tân thấy tâm hồn khoan khoái
như không bận một ý nghĩ gì.
Từ bờ ruộng đằng xa đi lại, một người đàn bà gánh hai gánh đầy. Ông cụ già thẳng người
đứng lên nói vơi các bạn gặt:
- Thôi, hãy nghỉ tay ăn quà đi.
Tân cũng ngừng tay lại. Chàng đương thích làm việc, nói: "Đã nghỉ rồi cơ à? Sao chống thế".
Chàng quên rằng bọn thợ đã gặt luôn bốn giờ đồng hồ chưa nghỉ, họ làm việc từ buổi sáng sớm,
trong lúc chàng còn ngủ.
Bọn thợ gặt tìm chỗ có bóng mát ở chân đồi nghỉ. Chung quanh đấy, ở các ruộng khác,
những thợ hái cũng đều nghỉ cả, mỗi người chọn một chỗ dưới gốc cây, tay cầm bát cơm nếp
ăn rất ngon lành. Đấy là bữa quà buổi trưa, vì sáng sớm trước khi ra đồng, người nào cũng ăn
cơm cả rồi.
Mấy người thợ Tân mượn nhìn chàng ra dáng cám ơn lắm vì Tân rộng rải, bữa cơm sáng đã
cho họ ăn một ít cá vụn mà em chàng mua của bọn đánh dậm. Đến lúc đổi đồng, chàng lại cho
phép họ được đem lúa đổi lấy một ít chả để ăn với xôi và bao diêm, gói thuốc cho mọi người.
Bởi vậy, họ rất sung sướng vì ngày công tám xu của họ còn nguyên không phải tiêu dùng đến.
Thấy Tân dễ dãi vui tính, họ cũng vui vẻ trò chuyện trước mặt chàng, không còn ngượng
nghịu hay giữ gìn gì nữa. Ông cụ già gọi chàng đến bên cạnh mời hút thuốc lào và uống nước.
Cụ rót trong cái vò sành ra một bát nước đỏ thẫm ra đưa cho Tân:
- Cậu thử uống bát nụ vối này mà xem. Không có thứ nước nào ngon hơn nữa.
Thật đúng như vậy, Tân chưa uống bát nước nào ngon hơn bát nước vối của ông cụ. Chàng
nghĩ đến khi còn ở Hà Nội, uống rượu bia và nước chanh ngâm đá, nhưng chưa thấy bao giờ
khoan khoái như bây giờ.
Ăn xong, trên ven đồi, bọn thợ gặt nằm dài trên cỏ ngủ. Các thợ đàn bà họp nhau lại một
chỗ ăn trầu và nói chuyện mùa màng còn ông cụ thì loay hoay buộc lại mấy cái hái để dùng đến
buổi gặt chiều.
Cánh đồng lúa chín lóe vàng dưới mặt trời buổi trưa. Từng chỗ, ở thửa ruộng nào đã gặt
rồi, gốc rạ lấp lánh như dát bạc. Phía xa, làng mạc ở chân trời rung động trong ánh nắng.
Tân nằm trên thảm cỏ, nhìn lên. Qua khe lá lung lay, chàng thấy trời xanh trong và mát. Mùi
cỏ và mùi lúa thơm bốc lên xung quanh, Tân cảm thấy cái sung sương của một người làm xong
công việc. Chàng thấy vui vẻ, một mối tình nảy nở giữa tâm hồn Tân với những người thợ gặt
giản dị và mộc mạc chung quanh chàng.
Họ làm việc xong cũng vui vẻ, sung sương tuy những lúa gặt không phải là của họ. Tân cũng
vậy, chàng biết rằng những bó lúa kia đem bán đi thì có lẽ không đủ tiền trả công người làm.
Song những bông lúa ấy đối với Tân quý lắm và như có một ý nghĩa thiêng liêng, đấy là kết quả
của cả một năm làm lụng khó nhọc và vất vả.
Tân nhìn xuống đồi, ngắm nghía những dải mây trắng lững thững ở phía xa. Từ khi trở về
quê, chàng quen nhìn xét những đám mây mà trước kia ở tỉnh chàng không bao giờ để ý đến.
Tân nhớ lại tất cả quãng đời niên thiếu của mình đã qua ở tỉnh thành. Ngay từ khi còn nhỏ tuổi,
cha mẹ chàng đã gởi chàng ở nhà ông chú làm việc trên Hà Nội. Nhà chàng cũng không lấy gì
làm giàu có, nhưng cũng vào bậc nhất nhì trong làng. Quanh năm cày cấy mươi mẫu ruộng ở
ven đồi vầ chăm bón mấ...
Ðứa con đầu lòng. 5
Nhà mẹ Lê. 9
Những Ngày Mới 14
Duyên Số. 19
Một cơn giận. 22
Tiếng Chim Kêu. 28
Cái chân què. 31
Ðói 35
Cô Áo Lụa Hồng. 43
Một đời người 47
Người lính cũ. 52
Hai lần chết 56
Gió lạnh đầu mùa. 62
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Tựa
Viết truyện ngắn nào có khó gì đâu. Một sự xẩy ra ở ngoài phố làm rung động trái tim ta, một
câu truyện thuật trong phòng khách làm nở một nụ cười khoái trá trên môi ta, một khu rừng âm
u lạnh lẽo, một xóm nhà tranh rải rác dưới ven đồi, một cái quán bán nước, một cái xe với anh
phu kéo… Hay không cái gì cả, sự trống rỗng một phút, một giây của tâm hồn. Những cảnh tượng
ấy, dù trọng dù khinh đều là đầu đề câu truyện ngắn, đều kích thích trí nghĩ ta mà ngấm ngầm tự
cấu tạo nên một câu truyện ngắn. Ta chỉ việc viết lên giấy những điều trông thấy, nghe thấy và
những ý tưởng nẩy ra trong thâm tâm ta. Có thế thôi. Cái khó - nếu quả có cái khó - chỉ ở chỗ
phải biết có thế thôi.
Ðó là quan niệm về truyện ngắn của Thạch Lam, tác giả tập truyện “Gió đầu mùa”.
Một gia đình hai vợ chồng trẻ với đứa con đầu lòng mới ra đời, một dẫy phố chợ tồi tàn với
bọn ngụ cư nghèo đói, cái vui sướng của một người thất nghiệp về làng sống với dân quê, sự đùa
bỡn oái oăm của duyên số, cái kết quả tai hại của một cơn giận, sức áp bức quyết liệt của sự đói,
cái chết đau đớn của người bạn trẻ nghèo. Toàn truyện giản dị cả. Muốn tả những sự xẩy ra
hàng ngày ấy tác giả không cần đến những tình tiết ngoắt nghéo tối tăm, nhiều khi rất trẻ con
mà ta thấy nhan nhản trong những truyện kểu cách, loè loẹt của những nhà văn thiếu thành
thực.
Thành thực, đó là đức tính không có không được của nhà văn. Ở Thạch Lam, sự thành thực
lại trở nên sự can đảm. Ðọc nhiều đoạn văn của Thạch Lam, tôi rùng rợn cả tâm hồn vì sự thành
thực (những đoạn tả trong truyện “Ngày Mới” ).
Tôi xin thú thật rằng những điều xét nhận gay go về mình, và những người sống chung
quanh mình, tôi cũng thường có, song vị tất đã dám viết ra. Nhưng sao lại thế nhỉ? Ðúng lẽ bọn
nhà văn chúng ta ai ai cũng phải can đảm hơn người thường. Ðáng lẽ ta phải mạnh bạo viết
những điều mà mỗi người, mà ta, nhất là ta, giấu kỹ ở tận đáy linh hồn, những nỗi băn khoăn,
những sự vui mừng lo sợ, tức tối, thèm muốn, ghen ghét đang ẩn náu trong khối óc, trong trái tim
ta. Tôi vẫn ước ao cái can đảm mà tôi thấy ở tolstoi, mà trong đám văn sĩ mới nước ta tôi thấy ở
Thạch Lam.
Lòng ta là một thế giới mênh mông. Nếu ta để trí suy xét của ta len vào cách ngách, các nơi
kín tối, chăm chỉ tìm tòi ta sẽ thấy nhiều sự mới lạ. Tưởng sống tới trăm tuổi ta cũng không biết
thực rõ được lòng.
Phải tả chân thường khoe khoang chỉ suy xét theo phương diện khách quan, liệu có được
không? Tả một người giận dữ mà chỉ tả những hiện trạng của sự giận dữ thì bức tranh của ta
không thể đầy đủ được.
Muốn nó đầy đủ, ta phải hỏi lòng ta, ta phải hỏi ký ức ta xem khi ta giận thì trí nghĩ và tính
tình ra sao, thì cảm giác ta ra sao, hơn thế, ta phải sống lại một cơn giận. Người chủ động trong
truyện “một cơn giận” của Thạch Lam có thể chỉ là Thạch Lam. Ông tự vệ ông. Nhưng cũng có thể
là bức tranh tả chân hết thẩy ai ai trong một cơn giận vô lý giữa lúc ta thấy “lòng ta chán nản và
buồn bực, những ngày tự nhiên không hiểu sao ta thấy khó chịu và hay gắt gõng”.
Có lẽ vì không bao giờ rời bỏ phương diện chủ quan nên Thạch Lam dễ làm ta rung động:
trước ta, chính ông đã rung động. Tả cái lạnh đầu mùa, ông nhớ ngay cái cảm giác mà ông có
một đêm mưa rào, rồi bỗng trở ra gió bấc “Gió lạnh đầu mùa”. Ông tả cái ngõ hẻm ở một xóm quê
bằng cái cảm giác của ông đi qua nơi đó. (Một cái cảm giác mát lạnh bỗng tràn lên hai vai. Tân
ngửng đầu lên nhìn; chàng vừa đi vào dưới vòm tre xanh trong ngõ) “Trở về”.
Cả đến một buổi gặt, ông cũng tả bằng cảm giác của ông. (Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh
nhẹn, mỗi lần bông lúa rung động châm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất
với mùa rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu). “Những ngày mới”.
Nếu ta có thể chia ra hai hạng nhà văn. Nhà văn thiên về tư tưởng và nhà văn thiên về cảm
giác, thì tôi quả quyết đặt Thạch Lam vào hạng dưới. Ở chổ mà người khác dùng tư tưởng, dùng
lời có khi rất rậm để tả cảnh, tả tình, ông chỉ nói, nói một cách rất giản dị cái cảm giác của ông.
Các cảm giác ấy bao quát hết tư tưởng của tác giả và của độc giả, và của độc giả nhiều khi đi xa
hơn, sâu hơn trí, vì có cái cảm thấy mô tả không thể đúng tư tưởng để mô tả, để giải phân cái
cảm giác của ta ra được, dù là một cái cảm giác nhẹ nhàng, cái rung động khẽ như cánh bướm
non ấy là một tình cảm sâu xa.
Thực vậy, những cái cảm giác đạm mạc như thế mà ta thấy trong khắp các truyện của
Thạch Lamđều giấu một tình sâu xa. Tác giả, mà ta tưởng rất điềm tĩnh, kỳ thực là một người có
những tính tình mãnh liệt, quá khích nữa. Ðứng trước sự khốn khổ của bác Lê, tác giả chỉ thủ thỉ
nói:
“Giá cứ nó người mướn làm thì cũng không đến nỗi”. Nhưng trong cái thủ thỉ ấy ta cảmt hấy
lòng tức giẫn, lòng oán trách xã hội lên đến cực điểm. Sáu năm xa cách, người con giầu có về
thăm mẹ già nghèo ở nhà quê, khi hắn ta từ giã bà cụ ra đi, tác giả thản nhiên, lạnh lùng viết:
“Ra đến ngoài Tân nhẹ hẵn mình. Chàng tự cho đã làm xong bổn phận”. nhưng sự lạnh lùng
ấy giấu một tính tình khinh bỉ, một cảm tưởng chua chát không biết đến chừng nào. Những kẻ
giầu có huênh hoang trong bọn trưởng giả như người con trong truyện “Trở về”. Thạch Lam rất
ghét, cũng như ông rất yêu, rất thương bọn nghèo đói, bọn bác Lê, anh Sinh, anh Du… Ông đem
hết tâm hồn ra để ghét, tuy ông chỉ lãnh đạm nói đến họ. Lòng ghét âm thầm và dữ dội của ông có
khi làm cho ông thiên lệch. Một lần nghe tôi đọc đến tên một người bạn mới giầu sang, ông chàu
mày nói: “Ồ! Tôi ghét hắn ta lạ”. Tôi chưa kịp hỏi vì lẽ gì thì ông đã tiếp:
“Trông cái má hắn ta phinh phính, cái bụng hắn ta xệ xệ!”
Rồi ta sẽ thấy trong những tác phẩm của Thạch Lam rất nhiều nhân vật có cái bụng xệ.
Thạch Lam sẽ trút lên đầu hộ hết cả sự căm tức, oán trách một xã hội trưởng giả, bất công, tàn
ác đối với những khốn khổ đáng thương mà Thạch Lam tha thiết bênh vực an vi.
Khái Hưng
3 – 9 – 1937
Lời nói đầu
Khi nào thu bắt đầu hết, khi nắng vàng hanh dần mất vẻ rực rỡ trên các lá cây, ngọn gió heo
may sẽ từng cơn nhẹ lướt trên cánh đồng rộng, đem lại cho ta những cái rùng mình mới mẻ, như
đã lẫn cái buồn ảm đạm của ngày mùa đông.
Trước ngọn gió đầu mùa, tôi không khỏi ngăn được những cảm giác sâu xa và mới lạ. Tôi
đem tâm nghĩ ngợi đến những cơn gió đột khởi ở lòng người; báo trước những sự thay đổi trong
cái bí mật của tâm hồn. Tôi lại nghĩ đến những người nghèo khổ đang lầm than trong cái đói rét
cả một đời, gió heo may sẽ làm cho họ buồn rầu lo sợ, vì mùa đông sắp tới, mùa đông giá lạnh và
lầy lội phủ trên lưng họ cái màn lặng lẽ của sương mù và lòng tôi sẽ lại, khi nghĩ rằng chỉ một
chút âu yếm, một chút tình thương, cũng đả nâng đỡ an ủi những người cùng khốn ấy.
Ðó là những ý nghĩ mà gió đầu mùa đả gây nên trong trí tôi những câu truyện trong quyển
sách, tôi viết ra cũng như những cảm giác mới mẻ mà tôi đã thấy. Tôi hết sức diễn tả cho đúng
tất cả sự thực rung động và thú vị của cuộc đời. Tôi không có ý muốn kể những truyện thần tiên
hay lãng mạn, nhưng những cảm tưởng của tôi với đời kín đáo và giản dị quanh mình. Bởi vì đối
với tôi, văn chương không phải là một cách đêm đến cho người đọc sự thoát ly hay sư quên; trái
lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay
đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong
phú hơn.
Thạch Lam.
Ðứa con đầu lòng
Nhà mẹ Lê
Những Ngày Mới
Duyên Số
Một cơn giận
Tiếng Chim Kêu
Cái chân què
Ðói
Cô Áo Lụa Hồng
Một đời người
Người lính cũ
Hai lần chết
Gió lạnh đầu mùa
Ðứa con đầu lòng
Tân nhớ lại một cách rõ ràng những giờ chàng chờ đợi trong căn phòng ở hộ sinh viện. Thì
giờ lúc ấy sao hình như đi chậm thế! Tân tưởng cái buổi ấy kéo dài ra mãi không bao giờ hết.
Chàng nóng ruột như lửa đốt, đi đi lại lại trong phòng, ngồi xuống chiếc ghế ở bên tường một
lát rồi đứng dậy. Chàng đưa mắt nhìn qua những bàn ghế giản dị và sơn trắng, xếp đặt một
cách gọn ghẽ. Rồi chàng chăm chú nhìn cái cánh cửa đóng ở góc phòng. Bên kia cánh cửa, vợ
chàng đang chờ đợi cái bí mật lạ lùng của sự sinh nở. Thỉnh thoảng cửa phòng hé mở, một cô
đỡ mặc trắng rón rén bước ra. Tân thoáng nghe thấy những tiếng kêu khe khẽ và đau đớn.
Chàng để ý dò xét nét mặt của cô đỡ nhưng vẫn thấy cô ta bình tĩnh như thường, nhẹ nhàng đi
ra ngoài lấy chai nước, hai cái khăn mặt.
Rồi cuộc chờ đợi khó chịu ấy hết. Tân nghe thấy mấy tiếng kêu thét trong phòng bên đưa
sang, tiếp đến tiếng trẻ con khóc. Một lát, cánh cửa phòng mở rộng, một cô đỡ ghé đầu ra ngoài
mỉm cười:
- Mời ông vào. Xong cả rồi.
Tân theo cô ta bước vào trong phòng. Chàng thấy mấy cô đỡ xúm xít chung quanh cái nôi
mây và thoáng nhìn thấy giữa đống vải trắng một vật gì đỏ nõn đang động đậy. Tân đến gần
bên giường. Vợ chàng nằm ngả đầu trên gối trắng, nét mặt xanh xao và mệt nhọc. Nhưng hai
con mắt sáng lên như vui mừng khi nhận thấy chàng.
Trong gian phòng yên lặng vẫn phảng phất cái không khí của một sự bí mật gì quan trọng.
Các cô đỡ nói với nhau khe khẽ. Tân ngồi xuống cái ghế đầu giường, cầm lấy tay vợ. Chàng thấy
bàn tay lạnh và ướt đẫm mồ hôi.
Bà đỡ chính đã lót xong cho đứa bé, đưa đến trước mặt Tân, vui vẻ nói:
- Ông xem cô bé có khỏe mạnh không? Được hơn ba cân rưỡi đấy.
Trong khi vợ chàng giơ tay ra đón lấy đứa con một cách âu yếm và nâng niu, Tân tò mò
ngắm nhìn cái đầu bé phủ tóc đen và mượt. Chàng thấy một cảm tưởng lạ, không rõ rệt, nẩy nở
trong lòng. Nhưng cái dúm thịt động đậy, cái mầm sống nhỏ mọn và yếu ớt kia hình như không
có một chút liên lạc gì với chàng cả. Tân không thấy cảm động như chàng tưởng, và cũng không
thấy có một tình cảm gì đối với đứa con mới đẻ.
Một tuần lễ sau ở nhà, Tân thấy vợ và vú em bận rộn, rối rít như mỗi khi sắp đến ngày giỗ.
Hai người suốt cả buổi chỉ ngồi cắt và khâu những cái áo con con, đan những đôi tất xinh xinh
và sửa soạn cái nôi mây. Những công việc đó, Tân thấy hay hay, nhưng chàng không để tâm
đến. Thỉnh thoảng chàng mới thoáng chú ý một chút đến đứa bé mà chàng thấy lúc nào cũng
quấn kín trong miếng vải trắng và nhắm mắt ngủ kỹ.
Một buổi sáng khi sắp sửa đi làm, Tân thấy vợ gọi:
- Này cậu lại mà xem, hay quá.
Tân cúi xuống giường vợ chàng đương ngồi, và hai tay giữ chân đứa bé đặt nằm trước mặt.
Hai bàn tay nhỏ nhắn của đứa bé đang cọ quạy, giơ lên giơ xuống, hai con mắt bé lờ đờ, như
hơi ngạc nhiên nhìn.
Vợ chàng sung sướng hỏi:
- Có phải nó nhớn hơn hôm nọ nhiều không?
Nàng giơ ngón tay cho đứa bé nắm rồi tiếp:
- Này cậu xem nó nắm chặt chưa này!
Tân cũng cầm lấy tay đứa bé đáp:
- Ừ, nhưng sao cái đầu nó dài thế nhỉ. Tôi trông nó thế nào ấy.
- Nó còn bé thì nó thế chứ sao.
- Mà hình như một mắt to, một mắt nhỏ.
Vợ Tân ra ý không bằng lòng, cãi lại:
- Không, hai mắt nó bằng nhau đấy chứ. Cậu chỉ hay chê nó thôi.
Rồi nàng bế đứa con lên lòng, âu yếm cho bú.
Dần dần Tân cũng quen với đứa trẻ lặng lẽ sống bên mình. Mỗi lần đi về Tân lại đến cạnh
cái nôi, vén tấm màn trắng lên và nhìn một lát đứa bé nằm trong đó, vẫn hai tay cọ quạy và con
mắt lờ đờ nhìn mọi vật. Tuy vậy, Tân không nhận thấy rõ rệt có cái liên lạc gì với đứa trẻ. Vả lại
chàng cũng không nghĩ sâu xa gì về sự đó, chỉ thoáng qua trong trí mà thôi.
Một lần, chàng đang ngồi làm việc ở bàn giấy thì nghe tiếng vợ tắm cho đứa bé ở trong
buồng. Vợ chàng gọi:
- Cậu vào đây hộ tôi một tí.
Tân quay mặt vào phía buồng, đáp:
- Con sen đâu, sao không gọi nó?
- Nó còn bận giặt ngoài kia. Thì cậu vào hộ tôi một tí có làm sao. Giữ hộ tôi cái đầu để tôi
tắm cho nó thôi mà.
Tân ngần ngại bỏ giở công việc:
- Nào thì vào!
Rồi chàng vào trong buồng ngồi xuống bên cái chậu, hai tay giữ lấy đầu đứa bé. Vợ chàng
nói lấy lòng:
- Cậu chỉ cầm một tí thôi. Tôi tắm cho nó xong ngay bây giờ đây.
Tân nhìn đứa bé, không thích một chút nào. Cái thân hình ngắn ngủn và chân tay ngẳng
nghiu của nó làm chàng khó chịu không muốn để ý đến. Chàng càu nhàu mắng đứa bé:
- Nằm im! Mày cứ cọ quạy bắn cả nước lên tao đây này.
Cái đầu đứa bé bôi đầy xà phòng nên càng trơn khó giữ. Tân đã thấy mỏi tay. Chàng bảo vợ:
- Thôi, giữ lấy nó, tôi mỏi tay lắm rồi.
Vợ chàng hơi gắt:
- Hãy giữ một chút nữa. Mới có một tí thế đã kêu mỏi!
Cái giọng nói ấy làm cho Tân không bằng lòng. Chàng buông đứa trẻ đứng dậy, trả lời xẵng:
- Không phải công việc của tôi. Với lại tôi trông nó khó chịu lắm.
Tân không nhận thấy nét ngạc nhiên và buồn rầu của vợ, bước ra ngoài. Một chút hối hận,
đến cửa, làm chàng quay mặt lại: Vợ chàng đang ôm đứa bé trong lòng, khóc nức nở.
Ra ngoài, Tân mới nhận thấy cái cử chỉ vô lý của mình. Một tấm tình thương nảy nở trong
lòng chàng. Tân muốn trở vào an ủi vợ, xin lỗi nàng vì đã làm nàng phải buồn rầu. Chàng dừng
lại, định quay vào, nhưng không biết cái gì vẫn giữ chàng lại. Tân đến ngồi bên bàn, nghĩ ngợi.
Từ khi hai vợ chồng lấy nhau, những cuộc cãi cọ nhỏ mọn, không có nghĩa lý gì, vẫn thường
xảy ra luôn. Vì một câu nói, vì một cớ không đâu, hai vợ chồng lại giận nhau. Mà cũng như lần
này, Tân cảm thấy chàng chỉ nói một lời nói dịu ngọt, êm ái là đủ cho hai bên lại hòa hợp như
cũ. Nhưng những câu ấy tan đi trên miệng trước khi nói ra lời. Một ý xấu khiến chàng yên lặng,
và xui chàng giận dữ thêm lên để lấy phần phải về mình.
Khi Tân trở lại phòng, chàng thấy vợ đang ngồi cho con bú. Đứa bé chải rửa sạch sẽ trông
hồng hào như đánh phấn. Cái bàn tay mập mạp xinh xắn của nó nắm chặt lấy tay mẹ như để
cầu sự âu yếm và che chở. Thỉnh thoảng nó ậm ừ trong miệng có vẻ rất bằng lòng.
Tân lại gần, cúi nhìn đứa bé. Chàng thấy trong lòng một cảm động êm đềm và phiền phức.
Nhìn đứa trẻ ngây thơ nằm trong lòng mẹ, Tân cảm thấy lần đầu cái thiêng liêng sâu xa của sự
sống, và nhận thấy chính những cái bé nhỏ, hèn mọn hằng ngày nó phá hoại cuộc đời.
o0o
Từ đấy, đứa con như cái dây giữ sự hòa hợp trong hai vợ chồng. Tân và vợ chàng không cãi
nhau nữa. Mà nếu có xảy ra cuộc hờn giận, hai người chỉ cùng trông đứa trẻ mũm mĩm là lại
hòa hảo như cũ.
Thỉnh thoảng, vợ chàng bồng con đưa đến trước mặt Tân, chỉ cho chàng biết những cái
thay đổi trong đứa bé.
- Này cậu trông, cái thóp bây giờ đã nhỏ đi rồi đấy.
Tân cũng chăm chú xem, rồi nói chuyện với con. Lúc chàng ngửng lên nhìn, chàng thấy vợ
ngượng nghịu muốn giấu sự vui mừng làm ửng hồng đôi gò má. Tân cũng thấy trong tâm can
một sự vui vẻ khác thường.
Buổi sáng nay, vừa bước chân vào trong nhà, Tân đã hỏi vợ:
- Em đâu?
- Nó ngủ. Cái gì thế?
- Tôi có cái này hay lắm.
Tân giơ lên cho vợ xem một đôi bít tất len trắng xinh đẹp. Chàng bước lại bên cạnh cái nôi
rủ màu trắng sạch sẽ.
Vợ chàng vội nói:
- Ấy, khẽ chứ cậu, để nó ngủ. Tôi vừa mới đặt xong.
Tân rón rén, khe khẽ giở tấm màn tuyn nhìn thấy đứa trẻ nằm gọn gàng trong vải trắng.
Chàng cúi mình xuống, yên lặng đợi trên cặp môi nhỏ bé một nụ cười.
Và Tân thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ
chàng chưa từng thấy.
Nhà mẹ Lê
Đoàn Thôn là một cái phố chợ tồi tàn gần ngay một huyện lỵ nhỏ ở trung châu. Hai dãy nhà
lụp xụp, mái tranh xuống thấp gần đến thềm, che nửa những cái giại nứa đã mục nát. Gần đây
là những quán chợ xiêu vẹo đứng bao bọc một căn nhà gạch có gác, bưng bít như một cái tổ
chim, nhà của một người giầu trong làng làm ra để bán hàng.
Người ở phố chợ là bảy, tám gia đình nghèo khổ không biết quê quán ở đâu, mà người dân
trong huyện vẫn gọi một cách khinh bỉ: những kẻ ngụ cư. Họ ở những đâu đến đây kiếm ăn
trong mấy năm trời làm đói kém, làm những nghề lặt vặt: Người thì kéo xe, người thì đánh
dậm hay làm thuê, ở mướn cho những nhà giầu có trong làng. Người ta gọi mỗi gia đình bằng
tên người mẹ: nhà mẹ Hiền, nhà mẹ Đối, nhà mẹ Lê. Những gia đình này đều giống nhau ở chỗ
cùng nghèo nàn như nhau cả.
Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người
đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay dăn deo như một quả trám khô. Khi bác
mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: Mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười
bảy tuổi, đứa bé nhất hãy còn phải bế trên tay.
Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, một căn nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác.
Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc
giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông
như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở
như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn. Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày
cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét,
bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có
người mượn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy
đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi
các ruộng kia đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống ra dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc
khía vào da, bác Lê lo sợ; vì không ai mượn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy
đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hi mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có
cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê
ôm ấp lấy con trong ổ rơm để mong lấy cái hơi ấm của mình ấp ủ cho nó. Thằng con nhớn nhất
thì từ sáng đã cùng thằng Ba ra cánh đồng kiếm con cua con ốc, hay sau mùa gặt, đi mót những
bông lúa còn sót lại trong khe ruộng. Thật là sung sướng, nếu chúng mang về được một lượm,
trong những ngày may mắn. Vội vàng, bác Lê đẩy con ra vơ lấy bó lúa, đem để xuống dưới chân
vò nát, vét hột thóc, giã lấy gạo. Rồi là một bữa cơm nóng lúc buổi tối giá rét mẹ con ngồi xúm
quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh.
o0o
Cuộc đời của gia đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua, ngày no rồi lại ngày đói. Tuy vậy,
cũng có những ngày vui vẻ. Những ngày nắng ấm trong năm, hay những buổi chiều mùa hạ, mẹ
con bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước cửa nhà. Các người hàng xóm cũng làm như thế. Các bà
mẹ ngồi rủ rỉ với nhau những câu chuyện kín đáo, các trẻ con nô đùa dưới quán chợ, còn các bà
già thì ngồi rũ tóc tìm chấy ngoài bóng nắng. Bác Lê đem thằng Hi, con Phún ra gọt tóc cho
chúng nó bằng một cái mảnh chai sắc. Thằng cả ngồi đan lại cái lờ, còn những đứa khác chơi
quanh gần đấy. Trong ngày hè nóng nực, con bác Lê đứa nào cũng lở đầu - bác ta bảo là một cái
bệnh gia truyền từ đời ông tam đại - nên bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con
bác lại giống một mẹ con đà gà, mà những con gà con người ta bôi xanh lên đầu cho khỏi lẫn.
Người phố chợ vẫn thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấy. Bác Đối, kéo xe, người vui
tính nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo:
- Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.
Bác Lê bao giờ cũng trả lời một câu:
- Mất bớt đi cho nó đỡ tội!
Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công bằng, người ta cũng thấy
bác yêu thằng Hi hơn cả, nó là con thứ chín, và ốm yếu xanh xao nhất nhà. Bác thường bế nó
lên lòng, hôn hít, rồi khoe với hàng xóm: nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc. Rồi
bác ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại chuyện gì đã lâu lắm.
Những đêm sáng trăng mùa hạ, cả phố bắc chõng ngồi ngoài đường vì trong nhà nào cũng
nóng như một cái lò và hàng vạn con muỗi vo ve. Dưới bóng trăng, những đá rải đường trông
đen và lấp lánh sáng. Đất hãy còn giữ cái nóng buổi trưa và bốc lên một cái mùi riêng lẫn mùi
rác bẩn và mùi cát. Mọi người họp nhau nói chuyện, trẻ con nghịch chạy quanh các bà mẹ. Hình
như quên cái cảnh khổ sở, hèn mọn, ai ai cũng vui vẻ chuyện trò, tiếng cười to và dài của người
lớn xen lẫn với tiếng khúc khích của các cô gái chúm chụm sát nhau trong bóng tối. Người ta
thấy tiếng bác Hiền nói vang, tiếng bác Đối thuật lại buổi xe kiếm may mắn. Trong một căn nhà
đưa ra tiếng võng và tiếng hát lanh lảnh của bác Đối gái, đã đem hết tiền buổi xe kiếm được
của chồng vào hiệu Khách mua một cân táo tầu rồi nằm võng vừa nhai vừa hát bài trống quân:
"Ngày xưa, có anh Trương Chi"
o0o
Mấy năm sau, sự kiếm ăn ngày một thêm khó khăn. Buổi chợ họp không đông đúc như
trước và vãn sớm. Những tiếng nói chuyện trong sương lúc mờ sáng của các người hàng xáo
gánh gạo kĩu kịt trên đê để đem xuống huyện bán, người ta không nghe thấy nữa. Cái đói kém
đến chen lấn trong phố chợ. Bác Hiền ngày nào cũng gánh hàng đi rồi lại gánh hàng về; còn
thường thấy bác Đối kéo cái xe không lảng vảng trong huyện và vợ bác cũng không hay nằm
võng hát trống quân nữa. Bác Lê trong lúc ấy, đi khắp các nhà trong làng xin làm mướn, nhưng
các nhà có ruộng không ai mướn; bác có làm không công, người ta cũng chỉ cho có nửa bát gạo,
đùm bọc về không đủ cho ba đứa con ăn. Những ngày nhịn đói dần dần liên tiếp nhau luôn. Bác
Lê thấy đàn con ngày một gầy còm; buổi chiều, bác mệt nhọc chán nản trở về, hỏi thằng cả xem
có đánh được ít cá nào không, thì nó buồn rầu khẽ lắc đầu, trả lời rằng các hồ ao người ta đã
cấm không cho nó thả lờ nữa.
Mùa rét năm ấy đến, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau, rét run
trong căn nhà ẩm ướt và tối tăm, vì đèn đóm không có nữa. Mấy gia đình ở phố chợ đều đói rét,
khổ sở. Nhưng mỗi nhà đều lặng lẽ, âm thầm mà chịu khổ một mình, không than thở với láng
giềng hàng xóm, bởi vì ai nấy đều biết cũng nghèo khốn như nhau.
o0o
Một buổi chiều, mà đàn con nhịn đói đã suốt buổi, bác Lê vá lại manh áo rét, gọi đứa con cả
đến rồi bảo:
- Ở nhà trông các em, tao vào ông Bá xem có xin được ít gạo nào không.
- Ban sáng u đã vào mà người ta có cho đâu; cậu Phúc lại còn bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy
thả chó ra cắn.
Bác Lê đáp:
- Nhưng biết làm thế nào! Không có thì lấy gạo đâu ra mà ăn? Thôi, tao cứ liều vào lần nữa
xem sao.
Nói xong, bác Lê mở cửa liếp ra đi. Trong lòng bác vẫn có chút hy vọng, tuy buổi sáng, lúc
vào xin gạo, ông Bá đã đuổi mắng không cho. Bác nhớ lại cái cảnh sang trọng ấm cúng trong
nhà ông Bá: những chậu sứ, câu đối thiếp vàng sáng chói. Không lẽ ông Bá giàu có thế mà
không thí cho mẹ con bác được bát gạo hay sao?
Ở nhà, đàn con bác ngồi nhìn nhau, đợi trong ổ rơm. Bác đi đã lâu mà không thấy về. Thằng
Hi lắng tai nghe tiếng chó cắn trong làng, rồi bảo chị nó:
- Hình như u về đấy, chị ạ.
Thằng Lê đi lại bên cửa liếp nhìn ra ngoài.
Bỗng có tiếng chân người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ thấy bác Đối và một người nữa
khiêng bác Lê vào trong nhà. Trên bắp chân người mẹ, máu đỏ chảy ròng ròng.
Thằng Lê hiểu ngay mẹ nó bị chó ông Bá cắn. Bác Đối đặt người bị thương xuống chiếu rồi
ra đi, sau khi dặn:
- Bây giờ bác lấy lá lốt mà rịt cho nó cầm máu. Chó Tây cắn thì độc lắm đấy.
Khi bác đi khỏi, lũ trẻ xúm quanh lấy mẹ. Thằng Hi vừa mếu máo vừa hỏi:
- U làm sao thế u?
Bác Lê nén cái đau, giảng cho con biết:
- Thật cậu Phúc ác quá! Đã không cho thì thôi, lại còn thả chó ra đuổi; tao đã chạy mà
không kịp, nên nó cắn phải. May gặp bác Đối, chứ không biết bao giờ mới lê được về đến nhà.
Bác ngừng lại nhìn đàn con ốm yếu, rồi thở dài:
- Thế là mẹ con biết lấy gì mà ăn cho đỡ đói bây giờ?
Thằng Hi òa lên khóc, con Tý cũng khóc theo. Bác Lê giơ tay ra ôm chúng nó vào lòng, rồi
nghĩ thương thân phận mình, bác cũng ứa nước mắt.
Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Những cái rùng mình lạnh lẽo nối nhau lướt trên da bác, manh
chiếu rách không đủ đắp ấm thân. Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình,
từ lúc còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày khổ sở, nhọc nhằn. Cái nghèo nàn không biết tự
bao giờ đã vào nhà bác, lúc sinh ra bác đã thấy nó rồi; và từ đấy, nó cứ theo liền bác mãi.
Nhưng giá cứ có người mướn làm thì cũng không đến nỗi. Bác nhớ lại những buổi đi làm khó
nhọc, những lúc vui vẻ được lĩnh gạo về cho con, những bữa cơm nóng mùa rét, những lúc
thằng Hi và con Tý vui đùa giằng co chiếc bánh bác mua cho chúng.
Rồi đến những ngày đi mót lúa mỏi lưng trên cánh đồng, nhặt những bông lúa thơm, những
lúc vò lúa dưới chân... Bác Lê nhớ lại cái cảm giác vui mừng khi thấy cạnh bông lúa sắc xát vào
da thịt. Đấy còn là những ngày no đủ. Rồi đến những buổi chợ vắng, những ngày nhịn đói như
hôm nay. Bác mơ màng thấy vàng son chói lọi trong nhà ông Bá, thấy nét mặt gian ác và tinh
nghịch của cậu Phúc, con chó Tây nhe nanh chồm lên...
- Trời ơi! Sao tôi khổ thế này...
Tiếng kêu thất thanh của bác làm giật mình lũ trẻ, chúng nó ngồi dậy đưa mắt sợ hãi nhìn
người mẹ.
Hai hôm sau, bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết.
Người trong phố chợ gom góp nhau mua cho bác một số ván mọt, rồi đưa giúp bác ra cánh
đồng, chôn vào bãi tha ma nhỏ ở đầu làng.
Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ bác Lê ngồi ở vỉa hè, con Tý
đang dỗ cho thằng Hi nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi một lát sẽ về. Nhưng họ biết rằng bác Lê
không trở về nữa. Và họ thấy một cái cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những người ở lại,
những người còn sống mà cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không biết bao giờ dứt.
Những Ngày Mới
Những bông lúa vàng mới cắt xong đều xếp rải rác từng hàng trên bờ ruộng, trong đám cỏ
xanh mọc dầy. Mỗi khi gặt được vài lượm lúa người thợ hái ôm sát bó lúa thơm vào người,
đem ra xếp vào chỗ lúa trước. Rồi họ lại trở vào ruộng, đứng theo hàng những người bạn gặt.
Tiếng hái đưa vào gốc lúa xoàn xoạt như tiếng trâu bò ăn cỏ.
Chăm chú vào công việc làm, Tân không để ý gì đến cảnh vật chung quanh. Chàng cũng
không thấy mệt nữa, tuy ánh nắng chiếu trên lưng nóng rát, và mồ hôi từng giọt rỏ ở trên trán
xuống. Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn, mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào
người, mùi lúa chín thơm lại phản phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm cho chàng
say sưa như men rượu. Tân lại cố hết sức gặt, chỉ lo không theo kịp hàng những người thợï
khác.
Buổi sáng khi Tân ngỏ ý cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn đã mấy hôm nay đều
trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhí nhảnh dưới vành khăn vuông che
kín đầu, nói đùa:
- Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thế kia thì gặt được độ ba nẹn lúa.
Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.
Người già nhất trong bọn, một ông cụ râu tóc đã bạc, nhưng da xém đen và khỏe mạnh,
lẳng lặng đem một cây hái ra mài trên bờ ruộng. Khi mọi người sửa soạn xong, ông cụ đưa cho
Tân cây hái, lưỡi sáng loáng nói:
- Lưỡi sắc thế này thì cắt cứ ngọt như cắt cỏ.
Cắt được mấy lượm lúa, Tân thấy cánh tay mỏi rã rời. Chàng tưởng không thể nào gặt được
nữa. Tuy vậy, cố hết sức chàng cũng chưa theo kịp bọn thợ gặt. Nhưng được vài bước, Tân lại
phải dừng lại để thở. Chàng nhận thấy cô gái ban nãy, tuy tay đưa hái thoăn thoắt nhưng vẫn để
ý nhìn chàng. Còn ông cụ già cứ điềm đạm gặt, bên cạnh ông ta, những bông lúa đã xếp thành
đống. Tân lại cúi xuống làm việc. Dần dần mềm dẻo, Tân thấy dễ chịu. Chàng luôn đưa lưỡi hái,
vui vẻ khi thấy những bông lúa chắc, vàng ngả sát vào người. Tân thấy tâm hồn khoan khoái
như không bận một ý nghĩ gì.
Từ bờ ruộng đằng xa đi lại, một người đàn bà gánh hai gánh đầy. Ông cụ già thẳng người
đứng lên nói vơi các bạn gặt:
- Thôi, hãy nghỉ tay ăn quà đi.
Tân cũng ngừng tay lại. Chàng đương thích làm việc, nói: "Đã nghỉ rồi cơ à? Sao chống thế".
Chàng quên rằng bọn thợ đã gặt luôn bốn giờ đồng hồ chưa nghỉ, họ làm việc từ buổi sáng sớm,
trong lúc chàng còn ngủ.
Bọn thợ gặt tìm chỗ có bóng mát ở chân đồi nghỉ. Chung quanh đấy, ở các ruộng khác,
những thợ hái cũng đều nghỉ cả, mỗi người chọn một chỗ dưới gốc cây, tay cầm bát cơm nếp
ăn rất ngon lành. Đấy là bữa quà buổi trưa, vì sáng sớm trước khi ra đồng, người nào cũng ăn
cơm cả rồi.
Mấy người thợ Tân mượn nhìn chàng ra dáng cám ơn lắm vì Tân rộng rải, bữa cơm sáng đã
cho họ ăn một ít cá vụn mà em chàng mua của bọn đánh dậm. Đến lúc đổi đồng, chàng lại cho
phép họ được đem lúa đổi lấy một ít chả để ăn với xôi và bao diêm, gói thuốc cho mọi người.
Bởi vậy, họ rất sung sướng vì ngày công tám xu của họ còn nguyên không phải tiêu dùng đến.
Thấy Tân dễ dãi vui tính, họ cũng vui vẻ trò chuyện trước mặt chàng, không còn ngượng
nghịu hay giữ gìn gì nữa. Ông cụ già gọi chàng đến bên cạnh mời hút thuốc lào và uống nước.
Cụ rót trong cái vò sành ra một bát nước đỏ thẫm ra đưa cho Tân:
- Cậu thử uống bát nụ vối này mà xem. Không có thứ nước nào ngon hơn nữa.
Thật đúng như vậy, Tân chưa uống bát nước nào ngon hơn bát nước vối của ông cụ. Chàng
nghĩ đến khi còn ở Hà Nội, uống rượu bia và nước chanh ngâm đá, nhưng chưa thấy bao giờ
khoan khoái như bây giờ.
Ăn xong, trên ven đồi, bọn thợ gặt nằm dài trên cỏ ngủ. Các thợ đàn bà họp nhau lại một
chỗ ăn trầu và nói chuyện mùa màng còn ông cụ thì loay hoay buộc lại mấy cái hái để dùng đến
buổi gặt chiều.
Cánh đồng lúa chín lóe vàng dưới mặt trời buổi trưa. Từng chỗ, ở thửa ruộng nào đã gặt
rồi, gốc rạ lấp lánh như dát bạc. Phía xa, làng mạc ở chân trời rung động trong ánh nắng.
Tân nằm trên thảm cỏ, nhìn lên. Qua khe lá lung lay, chàng thấy trời xanh trong và mát. Mùi
cỏ và mùi lúa thơm bốc lên xung quanh, Tân cảm thấy cái sung sương của một người làm xong
công việc. Chàng thấy vui vẻ, một mối tình nảy nở giữa tâm hồn Tân với những người thợ gặt
giản dị và mộc mạc chung quanh chàng.
Họ làm việc xong cũng vui vẻ, sung sương tuy những lúa gặt không phải là của họ. Tân cũng
vậy, chàng biết rằng những bó lúa kia đem bán đi thì có lẽ không đủ tiền trả công người làm.
Song những bông lúa ấy đối với Tân quý lắm và như có một ý nghĩa thiêng liêng, đấy là kết quả
của cả một năm làm lụng khó nhọc và vất vả.
Tân nhìn xuống đồi, ngắm nghía những dải mây trắng lững thững ở phía xa. Từ khi trở về
quê, chàng quen nhìn xét những đám mây mà trước kia ở tỉnh chàng không bao giờ để ý đến.
Tân nhớ lại tất cả quãng đời niên thiếu của mình đã qua ở tỉnh thành. Ngay từ khi còn nhỏ tuổi,
cha mẹ chàng đã gởi chàng ở nhà ông chú làm việc trên Hà Nội. Nhà chàng cũng không lấy gì
làm giàu có, nhưng cũng vào bậc nhất nhì trong làng. Quanh năm cày cấy mươi mẫu ruộng ở
ven đồi vầ chăm bón mấ...
 





