Bài giảng online: Tôi đi học

Tài nguyên thư viện

Ôn thi ôn lớp 10 THPT

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát: Bài ca thư viện

    Ảnh ngẫu nhiên

    C1.jpg B3.jpg C1.jpg QC.jpg He_tieu_hoa_o_nguoi_1.png So_do_mach_dien_cam_bien_nhiet_do_1.jpg Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat_2.png

    Sách điện tử sách Bác Hồ

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NINH SƠN - NINH BÌNH💕💕

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Hà Nội băm sáu phố phường

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
    Ngày gửi: 23h:11' 03-12-2024
    Dung lượng: 235.7 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường
    Thạch Lam

    Tựa
    Hà Nội – Thăng Long - chốn cố đô yêu dấu của chúng ta đã gần hai nghìn năm soi bóng trên dòng
    sông Nhị. Và nó sẽ mãi mãi soi bóng trong lòng người Nam Việt, khi mà mỗi thời còn có những trang
    phong lưu mặc khách đem ghi chép trong văn thơ, để truyền lại hậu thế cái đời sống của nó, cái lịch
    sử của nó.
    Lịch sử Thăng Long phải đâu chỉ là những lớp sóng phế hưng dồn dập từ đời vua này sang đời vua
    khác, kế tiếp nhau mà xây cung điện nguy nga ven hồ Trúc Bạch, bên hồ Hoàn Kiếm? Nó còn là cuộc
    sinh hoạt hằng ngày của dân thành thị, với tất cả những phong tục, tập quán, với tật cả những nhân vật
    kỳ khôi, với tất cả những cái vui, cái buồn,c ái tức, cái giận nho nhỏ sống trong xó tối, không tên,
    không tuổi, không tiếng tâm lưu lại đời sau.
    Mà những nhà biên tập pho sử ký bình dị này thường cũng không tên, không tuổi, không tiếng tăm lưu
    lại đời sau.
    Dù vô danh hay hữu danh, đều được công chúng yêu chuộng biết bao! Và những trang sử của họ có
    khi không cần đem in ra nhiều bản, chỉ truyền tụng từ miệng này sang miệng khác. thế mà đó đều là
    những tác phẩm bất hủ, vì đã thành chúng tadao, tục ngữ, hoặc những giai thoại trong dân gian.
    Long Biên, cái tên thứ nhất của Hà Nội. Long Biên mà một thi sĩ đã chúng tatụng trong một bài
    Ðường luật:
    Long Biên đã đắp tự đời nào?
    Chẳng thấp nhưng mà cũng chẳng cao.
    Chăm chăm ngoại thành xây cũng đẹp,
    Cồn cồn dòng nước chảy tuôn vào.
    Long Biên đã đắp tự đời Cao biền, nhà thơ Thăng Long cũng chẳng thèm biết. Ðến cả hai chữ Cao
    Biền, thử hỏi trong dân chúng, mấy ai còn nhớ, nếu đó không là một tên thầy địa lý cao tay mà mọi
    người khiếp sợ. Môn chính trị xa họ bao nhiêu thì môn địa lý gần họ bấy nhiếu, gần với tín ngưỡng và
    tập quán của họ. Nếu Cao Biền chỉ là một chính khách khôn khéo, một nhà tổ chức có đại tài, thì y đã
    chết từ lâu trong ký ức dân Hà Thành rồi. Phần dã sử hầu hoàn toàn chiếm lấy cái đời lạ lùng của nhà
    đô hộ. Mà phần dã sử ấy – nghĩa là thiên sử ký phong phú nhất, thật nhất vì sản thực, chất phác của
    dân - phần dã sử ấy không ra ngoài môn địa lý. Nào chuyện “Cao Biền dậy non” nào chuyện “Cao
    Biền cưỡi diều đi tìm đất”, nào chuyện “Thần Tô Lịch hiện lên mách đất cho Cao Biền”. Bao nhiêu
    chuyện kỳ dị biến đổi tùy theo tài tưởng tượng của từng người kể, mà trong đó, môn chính trị của Cao
    Biền không dấu hết.

    Cao Biền xa ta quá và đã hầu là một nhân vật hoang đường. Ðến như những nhân vật gần chúng ta
    hơn mà sử ta đã ghi chép tường tận những huôn công võ lược, cũng không còn có vang bóng gì trong
    trí nhớ dân chúng Hà Thành và Nam Việt. Dễ mấy ai biết rằng trên sôgn Nhị kia, dưới gầm cầu “Dốc
    gạch”, hàng trăm thuyền lớn của Chế Bồng Nga đã chen chúc đậu và từ đó hàng nghìn vạn quân Chiêm
    Thành, cởi trần, da nâu và bóng như đồng mắt cua, đã giương nỏ mạnh bắn những tên lửa lên các phố,
    các phường, đẩy dân thành thị tranh nhau chạy loạn?
    Rồi tới nhà Lê, họ Mạc, họ Trịnh kế tiếp nhau xây dựng lâu đài bên hồ Tây và hồ Hoàn Kiếm. Thì
    nay cũng chỉ:
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
    Trong lòng người vẫn ghi nhớ những điều muốn ghi nhớ, những điều thuộc phạm vi mỹ thuật, và tình
    cảm – Lòng người coi thường trận thủy chiến kinh thiên động địa. nhưng lòng người đã không quên cái
    tình cảnh đáng thương của một nàng công chúa nhà Trần lọt vào tay anh Chàm đen đủi:
    Công chúa lấy thằng bán than,
    Nó đưa lên ngàn cũng phải lên theo.
    Người Hà Thành đọc lại câu chúng tadao cổ gần nghìn năm, tác phẩm của một văn nhân Thăng Long
    đầy trắc ẩn còn như đứng bên bờ sông Cái mà nhỏ lệ trôgn theo nàng Huyền Trân sừng sững trên sân
    lái một chiếc thuyền bồng giương buồm, thuận gió chạy ra biền để xuôi Nam. Hình công chúa thon
    thon in bật lên nền trời sắc máu. Và dân Thăng Long chờ cho con thuyền lượn khuất sau cồn Phúc Xá
    mới chịu rời bước trở về nhà ngậm ngùi than tiếc:
    “Ngọc quí ngâu vầy!
    “Thương thay cây quế giữa rừng,
    Ðể cho thằng Mán thường Mường nó leo.”
    Ðối với dân Thăng Long, cũng như dod61i với dân Hà Thành ta ngày nay, rất mập mờ về khoa địa
    dư: người mạn ngược hay người Chàm, người Mên, họ đều cho là Mán là Mường cả.
    Vào thời giữa hai triều Trần và Lê dân Thăng Long hẳn là lao đao khổ sở hết chạy loạn Hồ đến chạy
    loạn Minh. Nhưng rồi người ta cũng chỉ ghi vào nhật ký, vào sử ký - sử ký đã gợi những việc tức cười
    đau đớn:
    - Cái nợ Liễu Thăng!
    - Và cái chết của Nguyễn Trãi gây nên – theo lời dã sử - do sự báo oán tiền kiếp của một cô gái Tây
    Hồ bán chiếu, một nữ thi sĩ tinh nghịch cười đùa như Xuân Hương:
    Em ở Tây Hồ bán chiếu gon,
    Chồng còn chưa có, hỏi chi con?

    Dân Hà Thành ta từ xưa vẫn thích cười; cười buồn cũng như cười vui. Thỉnh thoảng lại phá lên một
    tiếng cười bi ai chua chát hay tiếng cười lờm của Cống Quỳnh về thời hậu Lê dưới quyền hống hách
    của chúa Trịnh. Và không biết ai đã thốt ra một câu ca dao quá quắt để mỉa mai ông quan thị mà chúa
    Sầm giao cho cái trọng trách canh phòng một nàng công chúa yêu?
    Ðó là cách viết sử của chúng ta. Nếu nói được rằng nhà sử đích đáng là biết chép những điều đáng
    chép và bò những điều đáng bỏ, thì các sử gia Thăng Long thực đã làm tròn phận sự, đã chép những
    cái hoàn toàn có tích cách Thăng Long và Nam Việt. Còn gì Nam Việt hơn Truyện Tấm Cám hiện nay
    vẫn lưu truyền ở cửa miệng, từ thành thị cho chí thôn quê. Ðó là một truyện, một việc Thăng Long, đã
    xảy ra trên đất Thăng Long:
    Nhưng phải chờ hàng chục năm nữa, mới thấy được những nhà biên tập cho cuốn sử Hà Thành có tên
    có tuổi để lại hậu thế. Ðó là nàng Xuân Hương, rồi chàng Tú Xuất, chàng Ba Giai.
    Chúng ta đi qua chùa Quán Sứ, ai mà giữ được không thầm đọc bài thơ tuyệt tác của Xuân Hương,
    tuy chùa Quán Sứ ngày nay chẳng còn nữa cái cảnh vắng teo, cái cảnh:
    Sáng banh không kẻ khua tàng mít,
    Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
    Tôi chắc không nơi danh thắng Hà Thành nào lại không có vết tích các nhà văn yêu Thăng Long ấy,
    lại không được dự một phần vào cuốn sổ nhật ký, vào tập văn tùy bút của họ. Có lẽ chỉ vì không
    người gìn giữ cho nên những ông văn quý báu đã thất lạc mất cả, những áng văn và người đạo mạo
    đồng thời coi thường là văn chương đùa bỡn hay nhỏ mọn, không đáng kể, không đáng lưu lại hậu
    htế…
    Ðến thời chúng ta. Ðến Tú Mỡ và Thạch Lam…
    Như Ba Giai, Xuân Hương (cùng một họ Hồ với Tú Mỡ), Tú Mỡ đã giễu các nhân vật Hà Thành và
    khiến cho họ bất hủ. Tú Mỡ yêu Hà Thành chẳng kém bọn Tú Xuất và Xuân Hương, trở thành tinh quí,
    ranh mãnh, ngạo người yêu Hà Thành thấm thía hơn, âm thầm hơn là Thạch Lam.
    Cũng có lúc Thạch Lam mỉm cười thương hại như Cống Quỳnh, như Xuân Hương trước cái dốt Hà
    Thành, trước những cái biển bằng chữ Pháp rất lố lăng và dốt nát của các bác pho cạo, của các ông
    hàng vải. Thạch Lam lại cũng tức giận như Xuân Hương khi thấy người ta vô tâm hay hữu ý làm mất
    vẻ đẹp nơi thành phố xinh xắn của chúng ta.
    Xuân Hương viết:
    Ai về nhắn nhủ phường lối tôi,
    Muốn sống đem vôi quét trả đền.
    Và Thạch Lam thủ thỉ - bao giờ Thạch Lam cũng chỉ thủ thỉ, dù tức giận đến đâu:
    “Những thanh sắt ở đó (chùa Ngọc Sơn) cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa thấy ông bạn nào đó làm

    việc gì cả. Việc thì rất giản dị nghĩa là bỏ những cái đó đi là xong.”
    Nhưng Thạch Lam lưu tâm nhất đến cuốc sống hàng ngày của Hà Thành đến những cái thứ cõn con
    của dân thành phố, cùng là những nhân vật bé nhỏ, đã gây cho thành phố cái tính cách đặc biệt của nó.
    Ta hãy nghe Thạch Lam mở mục quà Hà Nội với một giọng yêu đương và tự phụ của một dân Hà
    Nội: “Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng là ngon lành và lịch sự. Ở các thôn quê, chút “quà Hà Nội” là
    của mong đợi, và tỏ được lòng quý hoá của người cho…”
    “… Nếu chúng ta về các tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Ðịnh nữa, chúng ta mới biết quà
    Hà Nội có vị ngon là chừng nào! Cũng là thứ bún chả chẳng hạn, cũng rau ấy, bún ấy thế sao mà bún
    chả của Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi”.
    Ta như nghe thấy tiếng nhai và tiếng xuýt xoa của người ăn bún chả. Ngon thật! Và cái ngon, cái đặc
    sắc của Hà Nội ấy đáng được người ta nói đến và chép lại như người ta đã nói, đã chép lịch sử bà Ba
    Tý, bà Tư Hồng, hai nhân vật Hà Nội nhất của thời nay.
    Và Thạch lam đã nói đến, đã ghi chép tường tận đầy đủ, tỉ mỉ với tất cả tấm lòng yêu của Thạch Lam.
    Thạch Lam yêu cũng như Thạch Lam ghét đều tha thiết tuy âm thầm.
    Thạch Lam thực là một nghệ sĩ, một thi sĩ về khoa thẩm vi. Nghệ sĩ muốnt ận hưởng. Thi sĩ tìm cảm
    hứng trong vi tế cũng như trong vĩ đại. Hiểu nổi Thạch Lam tất đã phải biết như Thạch Lam rằng: “Ăn
    quà là một nghệ thuật, ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán ấy mới là người sành ăn. Tất phải đứng
    ngắm nghía cô bán bánh cuốn Thanh Trì, dáng điệu uyển chuyển gánh hàng đi vào trong phố hay ngồi
    nhanh nhẹn bóc từng cái bánh mỏng như tờ giấy và trong như lụa.”
    Thạch Lam không quên một thứ quà rong nào, mỗi thứ Thạch Lam đều tả hết cái hương vị, cái hình
    thức đặc biệt của nó, hương vị và hình thức truyền lại không biết tự đời nào. Nếu Thạch Lam thích
    làm thơ thì hẳn đã viết những bài Ðường luật hay tứ tuyệt để vịnh chiếc bánh “bánh rán nóng một xu
    hai” hay “cô hàng cơm nắm lẳng lơ với hai quang thúng bỏ chùng trông cũng ngon mắt như quà của cô
    vậy”. Y như những bài thơ vịnh bánh nhồi, vịnh bánh trôi của Xuân Hương. Biết đâu Xuân Hương
    cũng không cảm hứng trong khi xơi quà Hà Nội mà đọc ra những bài thơ lưu truyền kia!
    Thạch lam không làm văn vần như Xuân Hương. Nhưng tứ thi phong phú, màu sắc sáng tươi, nét vế
    nhịp nhàng, đã khiến nhiều đoạn văn xuôi của Thạch Lam trở nên những bài thơ kháu khỉnh. Ðây ta hãy
    nghe Thạch Lam tả về quà bún ốc:
    “Có ai, buổi trưa vắng, hay lúc đêm khuya, đi qua nhà cô đào, nhà các chị thanh lâu, thấy họ ăn cái
    quà ấy một cách chăm chú và tha thiết đến đâu không? Nước ốc chua làm nhăn nét mặt tàn phấn và mệt
    lả: miếng ớt cay làm xoa xuýt những cặp môi héo hắt, và khiến đôi khi nhỏ những giọt lệ thật thà hơn
    cả những giọt lệ tình.
    “Cô hàng ốc có một cái dụng cụ, một đầu là búa, một đầu là dùi nhọn. Một cái gõ nhẹ và một cái trở
    tay, là con ốc nguyên cả ruột đã gọn gàng rơi mình vào bát nước chấm. Cô thoăn thoắt rút ốc không
    kịp. Trông thấy người ta ăn ngon lành, chính cô cũng sinh thèm: cô thú thật với tôi như thế.”

    Biết bao ghệ thuật trong một bức tranh nhỏ mọn nhưng tinh tế. Và đến được nghệ thuật ấy không phải
    chỉ có tài, mà còn phải có lòng yêu, yêu thành thực, yêu trong thâm tâm, yêu những cái bé bỏng của
    những đời bé bỏng, nghĩa là yêu Hà Nội, vì những cái bé bỏng ấy tức là tất cả Hà Nội.
    Thạch Lam vĩnh biệt Hà Nội giữa một công cuộc mà anh đã tỏ ra có đủ tài năng để theo đuổi tới
    đích: công cuộc soạn một pho Hà Nội du ký. Nếu anh còn rán ở lại với chúng ta, thì ngòi bút linh
    động của anh tả cái Hà Nội hiện thời này, hẳn phải làm chúng ta…
    Khái Hưng
    29-7-43

    Hà Nội băm sáu phố phường
    Người Pháp có Paris, người anh có London, người Tàu có Thượng Hải… Trong các sách vỡ, các
    báo chí, họ nói đến thành phố của họ một cách tha thiết, mến yêu… Ta phải nghe người Pháp nói đến
    Paris, người ở Paris mới hiểu được sự yêu quý ấy đến bực nào.
    Chúng ta cũng có Hà Nội, một thành phố rất nhiều vẻ đẹp, vì Hà Nội đẹp thật (chúng ta chỉ còn tìm
    những vẻ đẹp ấy ra), và cũng vì chúng ta yêu mến. Yêu mến Hà Nội với tâm hồn người Hà Nội , cũng
    như người Parisien chính hiệu yêu mến Paris… Trong những cuộc phiêu du - phiếm du ngoài các phố
    Hà Nội là một cái thú vô song chỉ người Hà Nội có – ta nên chú ý đến những nét thay đổi của thành
    phố , nên nhận xét những vẻ đẹp cũng như vẻ xấu của phố phường, thân mật với những thú vui chơi,
    hay những cảnh lầm than, với những người Hà Nội cũng như ta. Hà Nội có một sức quyến rũ đối với
    các người ở nơi khác… Ở những hang cùng ngõ hẻm của làng xa, hay những nương mật thẳm trong
    rừng núi, ban chiều vẫn có nhiều người ngóng về một phương trời để cố trôgn cái ánh sáng mờ của Hà
    Nội chiếu lên nền mây. Ðể cho những người mong ước kinh kỳ ấy, và để cho những người ở Hà Nội,
    chúng ta nói đến tất cả những vẻ riêng của Hà Nội, khiến mọi sự đổi thay trong ba mươi sáu phố
    phường đều có tiếng vang ra khắp mọi nơi.
    Thạch Lam

    Những Biển Hàng
    Ðã có nhiều người nhận ra rằng phố Hàng Ðào là của… loài vật. Ở đấy, có đủ để làm một gánh xiếc.
    Trước hết có hiệu trâu vàng, hẳn thế. Ấy là câu chuyện huyền thoạicủa ông Khổng Minh Không đã
    được hình tượng ra bằng hai cái biển. Rồi đến hiệu bò vàng, cá chép vàng (cá chép hóa long thì đúng
    hơn và con cá này đã trái tật chạy lên Hàng Ngang rồi), con lạc đà không biết đến đây để làm gì?, con
    gà sống kim kê hẳn thôi, con hươu sao, con kỳ lân, con phượng (lai hoàng), con rùa rùa (kim quy), con
    rùa rùa này về núi rồi, con vịt che ô, con voi (con này cũng về rừng), và con tê giác. Các nhà hàng
    còn lâu mới dùng hết được tên các loài vật. Và chúng ta nên nhận rằng trong các con vật đã dùng,
    không có con nào dữ cả. Con tê giác thì kể là vật dữ, nhưng con tê giác ở Hàng Đào thì lành lắm: nó
    không cắn ai bao giờ. Không có hổ vàng hay sư tử vàng, chẳng hạn. Vì những con vật trên kia là những
    con vật thần linh chăng, hay là những con vật chỉ lành có thể gợi lòng tin của khách mua? Con trâu,
    con hươu, con bò ... Những con vật này có làm hại được ai bao giờ đâu? Vào nhà con trâu, con hươu

    mua vải, lụa, chắc không bị hớ, chắc sẽ được nhà hàng tiếp đãi niềm nở và tử tế (như các bà bán hàng
    Việt Nam biết tiếp khi khách chỉ mặc cả mà không mua, hay muốn mua mà trả rẻ), và nếu họ có bị dại
    như một con bò thì cũng được an ủi rằng ít ra cũng là một con bò vàng.
    Tôi chỉ không hiểu tại sao bỗng dưng lại có con lạc đà. Con vật này hình như lạc loài vào đám ấy,
    giữa những con vật mà nó không quen bao giờ. Người phương Tây khinh ai thường gọi: cái anh lạc đà
    ấy ... Theo nghĩa đó thì con lạc đà ám chỉ nhà hàng hay khách mua hàng?
    Chúng ta còn phải hỏi tại sao con vật khác không được dùng, và tại sao địa phận chúng chỉ có phố
    Hàng Đào thôi. Lên đến Hàng Ngang, xuống đến Bờ Hồ, là đã không có loài vật rồi (con cá hóa long
    lên Hàng Ngang là trái với lẽ trời).
    Có một người kể chuyện với tôi rằng đó là tại nhà hàng ganh tị nhau. Nguyên hồi bấy giờ phố hàng
    Đào còn hẹp, nhà hai bên phố không cách nhau xa mấy. Có hai ông chủ hiệu to, ngẫu nhiên một hôm
    cùng có một ý, là lấy con hươu làm biểu hiệu. Hai con hươu cùng treo một lúc. Có nhiều sự nhầm lẫn
    xảy ra về sau, nhưng hai ông cùng ganh, không ông nào chịu đổi con khác. Như thế được một năm. Rồi
    bỗng nhiên, một ông lấy ngay con báo làm biểu hiện, và phao ngôn lên rằng chỉ ít lâu bữa làbáo sẽ cắn
    hươu chết. Ông chủ hiệu kia tức khí lấy biển hiệu con hổ và phao ngược lại.
    Ông chủ hiệu này chẳng chịu kém đổi ngay con báo ra con sư tử. Ông kia cũng lập tức đổi ra con voi.
    Đến con voi thì ông này tức quá: vì không có con nào khỏe hơn con nữa. Voi đứng đầu trong giống
    vật rồi. Chỉ có cách làm con voi hơn. Thế rồi ông làm con voi to hơn. Ông kia cũng chẳng chịu kém,
    lại làm con voi to hơn nữa. Hai con voi cứ thi nhau mà to mãi ra. Phố thì hẹp, cho nên một ngày kia
    hai con voi đụng vòi nhau, lấp cả lối đi.
    Việc đến cửa quan. Ông quan phân xử, bắt voi hai bên đều bé lại, và ra lệnh từ đấy chỉ được dùng
    những con vật hiền (như voi chẳng hạn) làm biển hàng mà thôi. Những con vật dữ như báo, hổ, gấu,
    mèo ... đều cấm tiệt.
    Ấy là người ta kể cho tôi nghe câu chuyện như thế. Chuyện chả biết có thật hay bịa, nhưng giảng tại
    sao người ta không dùng các thú vật dữ thì có (tuy vậy, con tê giác?), còn tại sao các vật chỉ có phạm
    vi phố Hàng Đào, không lên Hàng Ngang, không xuống Bờ Hồ, thì tuyệt nhiên không.

    Người Ta Viết Chữ Tây
    Cái biển hàng nào viết bằng chữ Pháp đầu tiên treo ở phố Hà Nội? Thật khó mà biết được. Nó là
    một điều thuộc về lịch sử cần phải tìm ra, để đánh dấu cái ngày mà một con người Việt Nam bắt đầu
    dùng thứ chữ phong phú nhất phương Tây.
    Từ bấy đến nay, ít ra cũng ngoài sáu chục năm. Sáu chục năm người mình học chữ Pháp, tưởng đã
    đến lúc thâu thái được hoàn toàn. Bây giờ các biển hàng viết chữ Pháp chiếm đến chín phần mười
    trong các biển hàng. Nhiều hàng, tuy chỉ giao thiệp với khách hàng Việt Nam thôi, cũng để toàn chữ
    Pháp, cũng như ngày xưa họ toàn dùng chữ nho.
    Ngày tôi còn nhỏ, ông thầy dạy vẽ của tôi bỏ nghề ra mở một xưởng vẽ ở phố Bờ Hồ. Ngoài cửa

    hàng treo một cái biển vẽ một cái gái rất xinh chỉ tay vào mấy dòng chữ. Vì cô gái, tôi đi học về lần
    nào cũng đứng lại nhìn, và vì vậy mới thuộc mấy dòng chữ đó đế bây giờ. Mấy dòng chữ như thế này:
    "Ici, il existe un dessinateur portraitiste, aquarelliste et architecture".
    Đã hơn mười năm rồi, mà mỗi lần nhớ đến câu chữ Pháp ấy tôi cũng không khỏi buồn cười. Nhân thế
    hôm nay tôi nẩy ra cái ý muốn dạo qua tất cả Ba mươi sáu phố của chốn "nghìn năm văn vật" này để
    đọc các biển hàng chữ Pháp, và xem người mình dùng chữ Pháp đã tiến bộ đến bậc nào.
    Thì quả thực đã tiến bộ rất nhiều:
    Này đây những biển: Salon de coiffeur, X ... bon coiffure, T.D. Coiffeur de Beauté, hay; M. librairie,
    mercerie, relieur, M.S. Prothèse dentaire, Beauté hygiénique de la bouche, M.S dorure et dargenture,
    T.T fabricateur de pousse pousse, T.O vente et réperateur de machine de tout sorte, D.T. Ferronnerie,
    quinconnerie, H. Vanerie, O. Serée, Filets de sports. Chữ Élégant hình như được nhiều người yêu
    chuộng nhất: vì tỏ ra élégant có phải không?
    P.T. Coiffeur élégant (Bạch Mai), Boulangerie élégant (Hàng Bông), A la coupe de Paris - D.M.
    tailleur élégant (Hàng Quạt), Aux paradis des élégant ... (Lê Quý Đôn), hiệu này đâu trước là: Au
    gout des élégant ... P.T. Tailleur des élégants (Hàng Quạt) ...
    Toàn những Élégancel à Élégance, thật xứng đáng với (Hà thành hoa lệ).
    Và tôi nhận thấy, nội trong các hiệu dùng nhiều chữ tây nhất, và dùng một cách đáng yêu nhất là hiệu
    thợ may. Có lẽ vì các ông chủ hiệu đó may quần áo cho thiên hạ nên họ tự nghĩ như bắt buộc phải dùng
    chữ Tây mới họp thời.
    Một hiệu khoe các hàng: "Dernìeres nouveautés de Paris: laine Elboeuf, laine Red Star, laine
    Dormeuse ..." (qui fait bien dormir - hẳn thế).
    Hiệu kia: "lanine pieds de poule Prince de gales".
    Một hiệu khác tham bác cả Tây lẫn ta, và tạo nên một cái tiếng thần tình này: Satin súp.
    Nhưng đến tên các hiệu thì sự văn hóa và cầu kỳ thực đã đến cực điểm: "Au parfait tailleur" (Hàng
    Bông), "Maitre tailleur", "Paris tailleur" (Hàng Quạt). Chữ luxe, chắc hẳn trong trí các ông chủ hiệu
    thợ may, là biểu hiện của cái tuyệt đích trong sự sang trọng, nên có đến ba ông dùng: La Mode,
    tailleur de luxe, D.P.T tailleur de luxe (Hàng Gai), Tr. tailleur de luxe (Lê Quý Đôn), (ông này viết là
    luxe không có e, ý chừng tỏ ra luxe một bậc nữa). Nhiều ông khác ưa tỏ ra biết tiếng ngoại quốc hơn.
    Modern tailor (chợ Hôm), Gentlemens modern tailor (hiệu chỉ có một cái máy khâu cũ và tấm vải
    xanh che bên ngoài) và CH. R Gents? tailor (Hàng Trống) ...
    Thế cứ tưởng đã đủ rồi. Ca va, taileur! (Hàng Trống), De la tenue, tailleur et de la frantaisie, tailleur
    (Hàng Trống).
    Rồi lại còn: D.T. Spécialist des chemises et des pyjamas; T.L. Coupe incroyable aux pyjamas
    dirigée par S ...

    Nếu một ngày kia chúngta thấy đề: X. Tailleur, prix, soigne, trvail impeceable, coupe modérée, thì
    cũng chẳn nên ngạc nhiên tý nào.
    Nhưng hòn ngọc đẹp nhất có lẽ phải dành riêng cho hiệu này ở phố Hàng Buồm: L.S. photographe,
    marchande de Chinoiserie.
    Ấy là mới dạo qua một vài phố đông đúc, chúng ta đã được đọc nhiều câu chữ Pháp lạ lùng như thế
    rồi. Ở các hang cùng ngõ hẻm, đối với người tò mò, hẳn còn tìm thấy nhiều cách áp dụng chữ Pháp
    một cách thần tình hơn nữa.
    Nhưng ngẫm kỹ ra thì cũng chẳng nên lấy làm lạ, vì ở một xứ có tờ báo (nghĩa là do hạng trí thức
    viết), dịch Hôtel de ville là khách sạn của thành phố và Stars à Hollywood là dân tộc Star ở Mỹ châu,
    thì các ông chủ hiệu trên kia kể còn là giỏi nhiều.
    Mà, có phải không, tờ bao Phụ nữ tân văn ở trong Nam đã treo biển "Le Journal des Dames", và tờ
    Phụ nữ thời đàm ở ngoài Bắc, "La premìere organe de la femme Annamite"? .

    Hàng Mứt, Hàng Đường, Hàng Muối Trắng Tinh
    Hà Nội đã thay đổi nhiều lắm. Những phố cũ, hẹp và khuất khúc, với những nhà thò ra thụt vào,
    những mái tường đi xuống từng bậc như cầu thang, những cửa sổ gác nhỏ bé và kín đáo, đã nhường
    chổ cho những phố gạch thẳng và rộng rãi, với từng dãy nhà giống nhau đứng xếp hàng. Thẳng và đứng
    hàng, đó là biểu hiện của văn minh. Khi ông cầm lái chiếc ô tô thì ông lấy làm dễ chịu vì đường rộng,
    vì phố thẳng lắm. Nhưng đối với người tản bộ đi chơi, lòng thư thả và mải tìm sự đẹp, thì phố xá mới
    không có thú vị gì. Không có những cái khuất khúc dành cho ta nhiều cái bất ngờ, không có một ngọn
    cây hoa nhô sau bức tường thấp, khiến chúng ta đoán được cả một thửa vườn nhỏ bên trong, ở đấy biết
    đâu lại không thướt tha một vài thiếu nữ khuê các như xưa.
    Chỉ còn một vài cái ngõ con ... ngõ Phất Lộc, ngõ Trung Yên ... mấy ngọn cỏ trên mảnh tường cổng ô
    Quan Chưởng, là gợi dấu vết của Hà Nội cũ. Ngày ấy, đường hẹp, chắc hàng xóm láng giềng ăn ở với
    nhau thân mật hơn. Người cùng hàng phố tự coi như có một liên lạc cùng nhau. Bên này một cửa hàng
    tạp hoá có đầy đủ quả sơn đen, có chồng giấy bản và ống bút nho, có cô hàng thuỳ mị mà hàng phố vẫn
    khen là gái đảm đang. Bên kia, nhà một ông cụ Tú, có tiếng trẻ học vang, có cậu học trò xinh trai đứng
    hầu chè thầy bên tràng kỷ.
    Những nhà cũ của ta có một lối kiến trúc riêng. Ở các phố Hà Nội hiện giờ, thỉnh thỏang cũng còn
    được một vài nhà. Giữa nhà, mảnh sân vuông lộ thiên, có bể non bộ và cá vàng, có dãy chậu lan, có
    bể đựng nước, và trên tường có câu đối chữ nho. Đôi khi đi qua, một cánh cửa hé mở, chúng ta được
    thoáng nhìn vào; bóng một thiếu nữ nhẹ qua sân, hình dáng một ông cụ giàcúi mình trên cây cảnh. Tất
    cả cuộc đời của những kẻ bên trong, cuộc đời xưa, những ý nghĩ cũ, những hy vọng và mong ước khác
    bây giờ.
    Không còn gì của Hà Nội ngoài năm sáu mươi năm trở về trước. Thăng Long của vua Lê, của chúa
    Trịnh không còn dấu vết nào: đâu còn những cung điện ngày xưa, những phụ đế của các bậc công hầu
    khanh tướng? Thỉnh thỏang một vài tên gọi còn nhắc lại, một vài đống đất còn ghi dấu, thế thôi. Chúng
    ta không biết được mấy về dĩ vãng, về cảnh phố xá kinh kỳ hồi cụ Lãn Ông, một túi thơ, một bồ thuốc,

    đi từ Bát Tràng đến Hồ Tây để chữa cho hoàng tử.
    Trong một bài báo, tôi đã nói (Hà Nội XVII ẻ sìecle) rằng cái "nghệ thuật biển hàng" ở Hà Nội đã
    mất. Ngày xưa, cái biển hàng còn là một cái gì hơn không chỉ là một cái biển hàng mà thôi. Đó là một
    bộ gì liền với cơ nghiệp và số vận của người buôn, cái biển hiệu thực hiện của những cố công nhẫn
    nại và những đức tính ngay thật của chủ hàng. Đề biển phải chọn ngày tốt, phải xin chữ của những
    người viết giỏi có tiếng, và người ta thận trọng giữ gìn như một thứ của gia bảo ở những cái biển cũ
    đã tróc sơn, mà gió mưa bao nhiêu năm đã làm lạt cả vàng son, những nét chữ mạnh mẽ và rắn rỏi vẫn
    còn như nguyên mới. Tôi không khỏi bao giờ đi qua không dừng bước lại ngắm ngía ba chữ đại. "Vạn
    Thảo Đường" trên cái biển cũ kỹ của hiệu thuốc ấy ở đầu phố Hàng Đường.
    Ba chữ "Đông Hưng Viên" cũng sắc nét và còn mới hơn. Ngày trước còn mấy chữ "Cộng Hòa
    Đường" viết bằng son đỏ tươi, lối nửa chân nửa lệ, chữ bay bướm, trông đến thích cả mắt.
    Nhưng bây giờ người ta đã xóa đi để thay vào bắng lối chữ "vuông tân thời" trong các quảng cáo ở
    báo Tàu hay bằng những chữ điện tím hoa cà, xanh lá mạ đêm đêm sáng ngời một góc trời. Tất cả cái
    gì cũng thay mới người ta không những thấy có biển hàng, người ta thấy cả bề mặt cái cửa hàng nữa.
    Và sự thay đổi bề ngoài ấy đem đến cho phố xá Hà Nội một vẻ mới riêng, hơi lạ lùng và đột ngột.
    Trong đêm khuya, chúng ta thử dạo chơi các phố, lúc đó không bị những ánh sáng và thức hàng làm
    lóe mắt. Lúc đó những cửa hàng mới mẻ đã đóng cả, và cái phố với căn nhà đều phô bày vẻ thật. Các
    nhà chỉ thay đổi có phía dưới sự thay đổi ít khi lên đến tầng trên. Và bây giờ, nếu người ta có phép gì
    cắt bỏ các tầng dưới và đặt các tầng trên xuống đất, chúng ta sẽ có một hàng phố cũ kỹ với những hàng
    bát quái, mảnh gương và dơi bay một phố từa tựa như phố của kinh kỳ xưa, chắc thế.
    Có một bạn nào trông coi về vẻ đẹp của thành phố Hà Nội không? Hình như có thì phải, tuy rằng bạn
    đó không thấy làm cho người ta nói đến mình. Nhưng cái đó không hề gì, miễn là bạn đó cứ làm việc
    là đủ.
    Ngày trước, ở trước cửa phủ toàn quyền, còn có một nhóm tường mà người ta đã phá đi rồi, cách đây
    đâu mười năm gì đó. Nhóm tường đó trông xa giống như mâm xôi; ở đỉnh có những hình thù gì, tôi
    không nhớ, nhưng ở phía dưới, có tượng hai người đàn bà nằm choài ra như bơi, tóc buông xõa và lẩn
    mình vào thành bể. Hai người đàn bà đó người ta bảo là hình dung hai con sông Nhị Hà và Mêkông.
    Chúng ta tưởng tượng phong cảnh hồ Hoàn Kiếm với cái mâm xôi bằng đá lù lù ấy. May thay không
    biết có ai phản đối, người ta bỏ cái dự định ấy, và đem nhóm tường dựng ở trước cửa phủ Toàn
    quyền, để rồi sau đó ít lâu phá đi.
    Sự phản đối ít lợi ấy có lẽ là công việc của ủy ban coi về vẻ đẹp của thành phố hẳn?
    Sau đó ít lâu, một dạo, ngay bên cổng của đền Ngọc Sơn, chúng ta được trông thấy đứng sừng sững
    và thẳng tấp một cái cột dây điện chằng chịt và cả đèn điện với những cái "bình tích" bằng sứ trắng,
    khiến cho cái cột sắt sơn hắc ín đó như một thứ cây già mọi rợ vụng về. Cái cây đó làm cho vẻ đẹp
    của cổng đền Ngọc Sơn giảm mất đến chín phần mười.
    Nhưng lại may thay, cũng cách sau ít lâu, cái cột đó không còn nữa. Công việc của ủy ban kia chắc

    thôi.
    Sau đó ít lâu nữa, cảnh đền Ngọc Sơn lại chịu phải một sự thêm thắt xấu xa khác.
    Có lẽ theo lời yêu cầu của những ai trông nom cái đền đó, người ta đã cho bắc suốt từ ngoài cổng,
    qua đầu, vào đến trong đền, những vòng sắt nền, có những đường uốn lượn ngoằn ngoèo, cũng sơn hắc
    ín, và để mắc đèn.
    Mắc đèn cho sáng, cho tiện những người đi lễ đền. Một ý tốt, rất tốt. Nhưng sao lại phải trả bằng một
    cách bôi nhọ vẻ đẹp của đền thế? Muốn sáng cổng và sáng cầu thì thiếu gì cách: mắc đèn vào những
    chỗ lõm khuất khúc của cổng và của cầu: đèn để như thế vừa được kín đáo, vừa không làm giảm vẻ
    đẹp, không kể cái lối ánh sáng đập lại ấy dịu dàng và làm tôn cảnh đền hơn lên.
    Đằng này, mắc những võng sắt với cánh hoa hoét rẻ tiền kia vào cái cổng đẹp đẽ có lối kiến trúc
    riêng, có vẻ cổ sơ ấy, thực là một cách đập phá mỹ thuật tai hại không gì bằng.
    Cho cả đến ba chữ "Ngọc Sơn Tự" bằng sắt dán trên một tấm lưới cũng sắt, và có hoa lá cũng sắt
    nốt, cả cái biển ấy cũng chướng mắt không kém.
    Những thanh sắt ấy ở đó cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa thấy cái ủy ban nào đó nếu ủy ban ấy có
    làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị: nghĩa là bỏ những cái đó là xong.
    Dạo này, người ta đã xây nhiều bóp cảnh sát phụ ở lác đác khắp Hà Nội, Yên Phụ, Cửa Nam, Bờ Hồ,
    Quan Thánh ...
    Kiểu bóp như là một cái hòm vuông bốn góc thẳng cạnh, có cửa vào (tất nhiên) và cửa sổ. Việc xây
    các bóp ấy chắc là ít lợi nhiều cho việc trị an của thành phố. Chúng tôi xin cũng nhận thế. Và chỗ đặt
    bóp chắc cũng đã lựa chọn rất tiện lợi nữa.
    Những bóp khác, chả nói làm gì. Duy chỉ có cái bóp ở Quan Thánh, là làm giảm mất vẻ đẹp của ngôi
    đền đẹp đẽ ấy.
    Tuy rằng người ta đã cẩn thận cho cái bóp ấy đại để vẫn hình vuông một hình dáng muốn giống chùa
    chiền bằng cái mái cong cong, bằng vài cái trang điểm theo lối cũ. Nhưng mà cái chùa giả ấy trong đó
    thấy cảnh sát thay nhà sư không đánh lừa được ai hết, nhất là người yêu mỹ thuật, yêu Hà Nội, yêu cái
    vẻ cổ kính của đền chùa.
    Chỉ quá một ít nữa, làm xa ra một tý nữa ở phía đường bên kia, hay ở ngay vườn hoa đầu đường
    Quan Thánh, vườn hoa Eckert nếu tôi không nhầm, thì có phải hay biết bao không. Gia chi dĩ, những
    đường vạch thẳng ngay ngắn của vườn hoa ấy lại hòa hợp với cái hình thù vuông vắn của nhà bóp lắm.

    Quà Hà Nội
    Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng ngon lành và lịch sự. Ở các thôn quê, chút "quà Hà Nội" là của
    mong đợi, và tỏ được lòng quý hóa của người cho. Con cháu ngày giỗ ky đưa về dâng cha mẹ, hay các
    bà mẹ ra tỉnh mua về cho các con, và chồng đi làm Nhà nước ngày nghỉ mua tặng cho cô vợ mới cưới

    ... Bao nhiêu ý tốt tình hay gửi vào trong chút quà nơi đô hội, món quà đem đến cho khắp nơi các vị
    sành và trang nhã của băm sáu phố phường.

    Hàng Quà Rong
    Người Hà Nội, ăn thì ngày nào cũng ăn, nhưng thường không để ý. Nếu chúng ta về ở tỉnh nhỏ ít lâu,
    hay ở ngay Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng ta mới biết quà ở Hà Nội ngon là chừng nào. Cũng là thứ
    bún chả chẳng hạn, cũng rau ấy, thế mà sao bún chả của Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái mùi
    thơm, từ cái nước chấm ngon đi.
    Trong một ngày, không lúc nào là không có hàng quà. Mỗi giờ là một thứ khác nhau; ăn quà cũng là
    một nghệ thuật: ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán ấy, mới là người sánh ăn.
    Tang tảng sáng, tiếng bánh Tây đã rao, lẫn với tiếng chổi quét đường. Đó là quà của những người thợ
    đi làm sớm. Rồi, có từng độ, phố xá vang lên tiếng rao "bánh rán nóng, trinh một, xu đôi" của một lũ
    trẻ con. Cái bánh rán vừa cứng và xấu, thật làm giảm thanh thế của quà Hà Nội, do một cửa hàng nào
    đó muốn kiếm lời, cứ muốn bắt thiên hạ ăn bánh rán lúc còn ngái ngủ.
    Này đây mới là quà chính tông: bánh cuốn, ăn với chả lợn béo, hay với đậu rán nóng. Nhưng là bánh
    cuốn Thanh Trì mỏng như tờ giấy và trong như lụa. Vị bánh thơm bột mịn và dẻo. Bánh chay thì thanh
    đạm, bánh mặn đậm vì chút mỡ hành. Người bán bánh cuốn Thanh Trì đội mẹt và rổ trên đầu, từng tụm
    năm, bảy người từ phía Lò Lợn đi vào trong phố, dáng điệu uyển chuyển và nhanh nhẹn.
    Rồi mùa nực thì hàng xôi cháo: cháo hoa quánh mùi gạo thơm, xôi nồng mùi gạo nếp. Xôi đậu, xôi
    lạc, xôi vừng mỡ và dừa. Ở, cái xôi vừng mỡ, nắm từng nắm con, ăn vừa gậy vừa bùi. Mà có đắt gì
    đâu! Ăn một, hai xu là đủ rồi. Mùa rét thì xôi nóng, hãy còn hơi bốc lên như sương mù, ăn vừa nóng
    người vừa chắc dạ.
    Và có ai ngẫm nghĩ kỹ cái vị hành khô chưng mỡ ở trong bát ngô nếp bung non; hàng giòn và thơm
    phức, những hạt ngô béo rưới chút nước mỡ trong ... Ngô bung (xôi lúa) thì có nhiều hàng ngon, nhưng
    ngon nhất và đậm nhất là ngô bung của một bà già trên Yên Phụ. Cứ mỗi sáng, bà từ ô xuống phố, theo
    một đường đi nhất định, đã ngoài hai mươi năm nay, để các nhà muốn ăn cứ việc sai người ra đừng
    chờ. Bà đội thúng ngô, tay thủ vào cái áo cánh bông, và cất lên cái tiếng rao, tựa như không phải tiếng
    người, một tiếng rao đặc biệt và kỳ lạ: "Eéé ...éc", "Eé ...ééc ...".
    Đối với các bà, các cô đi chợ, cô hàng vải, cô hàng rau v.v ... là những người ưa món quà gì vừa rẻ
    vừa ngon, lại vừa no lâu các cô khó tính, sành ăn và...
     
    Gửi ý kiến