Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hà Nội Trong Mắt Tôi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:12' 03-12-2024
Dung lượng: 525.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:12' 03-12-2024
Dung lượng: 525.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Nếp nhà
Chúng tôi và bọn hắn
Đất kinh kỳ
Người vợ
Người của ngày xưa
Tiền
Danh phận
Nghệ nhân ở làng
Một người Hà Nội
Nắng chiều
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
NGUYỄN KHẢI
Hà Nội
trong mắt tôi
Tập truyện ngắn
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Nếp nhà
1.
Mỗi lần ra Hà Nội việc đầu tiên là tôi phải tới thăm bà cô tôi. Chẳng có quà cáp gì cả, đến
tay không, nhưng vẫn cứ phải đến. Vì bà là cái túi khôn của tôi mà. Năm nay các con bà sẽ làm lễ
mừng thọ mẹ tám mươi tuổi. Các cụ nói: Năm mươi tuổi hiểu được mệnh trời. Người tám mươi tuổi
lại vẫn minh mẫn, khôn ngoan, không chừng hiểu được cả then máy của Tạo hóa. Nói chuyện với bà tôi
vẫn trờn trợn như ngày nào được hầu chuyện cụ Nguyễn. Nghĩa là vẫn phải uốn lưỡi trước khi hỏi,
trước khi trả lời. Một ngôi nhà đẹp, một cửa hàng tuyệt vời ngay giữa một đại lộ trung tâm trông thẳng
ra hồ Hoàn Kiếm mà chỉ bày bán lèo tèo mấy mặt hàng sơn mài, tượng gỗ thì uổng quá, coi khinh thiên
hạ quá. Bà cụ cười: “Anh đã bắt đầu có con mắt thương mại rồi đấy nhỉ?”. Con mắt thương mại thì chả
dám nhưng với con mắt của người bây giờ thì ngôi nhà, nói cho chính xác hơn là miếng đất, của bà cô
tôi cũng phải đáng giá một triệu…, tất nhiên là triệu đô. Cũng chả phải do mình đặt giá mà là đại diện
các công ty nước ngoài tới trả giá. Ngày nào cũng có vài nhóm người tới hỏi nhưng bà cụ chỉ nhã nhặn
trả lời: “Tôi không có ý định bán hoặc cho thuê cái nhà này”. Cho thuê cũng nhiều tiền lắm. Đã có
người hỏi thuê chỉ mấy chục mét vuông của gian ngoài thôi, mỗi tháng trả năm ngàn đô, trên mười cây
vàng. Vẫn là không, không bán mà cũng không cho thuê. Tại sao cụ lại gàn thế? Vì các em anh không
muốn thế, cho đến hôm nay chúng nói vẫn đi làm cho nhà nước, không buôn bán gì cả, không mánh
mung gì cả. Lương tiêu không đủ thì tôi bù. Bán các mặt hàng vớ vẩn như anh nói nhưng mỗi tháng
cũng kiếm được khoảng trên dưới dăm triệu. Này, dăm triệu không phải là ít đâu anh nhá! Theo tôi
được biết từ trẻ đến già cô tôi sống theo một số nguyên tắc, thời thế có thể thay đổi nhưng cách sống
của bà dứt khoát không thay đổi. Đó là: sống thẳng thắn, sống lương thiện và sống theo pháp luật hiện
hành. Những năm Pháp tạm chiếm Hà Nội, chú tôi vẫn mở trường dạy học tư như thời trước, còn cô
tôi ấn hành sách giáo khoa cấp tiểu học do chú tôi soạn. Có một tác giả đưa tập thơ “Đồi thông hai
mộ” bán cho bà. In tập thơ đó chắc chắn sẽ thu lãi nhiều, bà biết thế nhưng vẫn từ chối. Vì nhà xuất
bản Nguyễn Du do bà chủ trương chỉ in có sách giáo khoa, đúng như trong giấy phép. Năm 56, cán bộ
thuế tới kiểm tra kho giấy của bà để đánh thuế tồn kho, khoảng hai chục triệu. Chú tôi tính vốn nhát,
vui vẻ bằng lòng ngay. Cho đỡ phiền. Nhưng bà vợ không chịu vì giấy in sách giáo khoa xưa nay
không phải đóng thuế. Đã được miễn thuế thì làm gì có thuế tồn kho. Bà bướng bỉnh đến nguy hiểm, ai
cũng sợ nhưng bà vẫn thản nhiên: “Lý của mình đúng, việc gì phải sợ”. Quả nhiên bà đúng thật. Bà
luôn luôn đúng vì bà rất tỉnh táo trong mọi mối quan hệ, chỉ nhận những gì đáng có, có quyền được có,
tuyệt đối không để bị dụ hoặc về tiền bạc cũng như về tình cảm. Một cái đầu hơi lạnh, lắm lúc tôi đã
nghĩ về bà như thế. Nói cho ngay, nếu không có cái đầu lạnh làm sao bà giữ nổi một ngôi nhà quá ngon
lành, quá quyến rũ trong bấy nhiêu năm, không gặp một chuyện rắc rối nào. Cho đến bây giờ đã sang
tuổi tám mươi bà vẫn biết từ chối những đồng tiền rất hợp pháp ắt hẳn phải có một tính toán khôn
ngoan nào đó. Cái khôn ngoan cao siêu chứ không phải là khôn vặt.
2.
Mùa xuân ở Hà Nội bao giờ cũng đẹp. Với tôi đã nhiều năm không được sống ở Hà Nội vào mùa
xuân lại càng thấy đẹp. Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt. Một chút mưa bụi bay lây rây như có
như không. Trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm nhưng mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên
những màu sắc tươi tắn. Đã có mùi son phấn và nước hoa bất chợt thoảng qua ở một góc phố, trong
một đám đông. Nói nhỏ đi, cười nhỏ hơn, ít nghe những câu chửi tục, những tiếng đệm tục. Giàu hơn
trước nhiều, sang hơn trước nhiều, cứ cho là bề ngoài thì cũng vẫn rất đáng mừng. Chỉ có bà cô tôi là
ít thay đổi, hầu như không thay đổi. Vẫn mấy chiếc xe máy đã cũ, và vẫn còn nhiều xe đạp, loại xe đạp
cà tàng từ những năm nào. Trời nắng các em đi xe máy, trời mưa đi xe đạp, đỡ phải rửa xe. Ăn mặc
của bà cụ, của các em cũng chả có gì sang hơn, như trước đây, ngày trước với Hà Nội đã là sang, bây
giờ là quá thường. Bây giờ con gái Hà Nội mặc quần chẽn đen, gót xẻ, có dải buộc dưới bàn chân,
mặc măng tô lửng, hoặc đi bít tất đen dài, quần cộc, áo vét trùm qua mông. Đàn ông cũng diện lắm, áo
vét tông các kiểu, thắt cà vạt đủ màu, giầy đen, cứ như họ từ các đại sảnh bước ra. Không phải đâu,
chỉ là quần áo thường ngày thôi, cũng giống như trước kia họ mặc áo bông xanh, quần kaki vàng và đi
dép nhựa. Chưa bao giờ tôi thấy người Hà Nội ăn mặc sang trọng như bây giờ. Chưa bao giờ tôi thấy
phố xá chói lòa những tủ kính, những bảng hiệu và ánh sáng như bây giờ. Vậy mà một nhà giàu của Hà
Nội có dư điều kiện để thay đổi lại không chịu thay đổi. Một đại gia đình gồm hai con trai, hai con
dâu, một gái, một rể và những đứa con của họ vẫn sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp ăn.
Thiên hạ thì chia ra, bà cụ lại gom vào. Vẫn rất êm thấm mới lạ chứ. Nếp nhà đã thắng được tự do của
cá nhân sao? Phải nói thêm, cái nếp nhà này cũng ít ai theo kịp. Người con dâu cả vốn là con gái Hàng
Bồ, đỗ đại học, là một cô gái kiêu hãnh, tự tin, không dễ nhân nhượng. Ai cũng nghĩ hai người đàn bà,
một già một trẻ, cùng sắc sảo sẽ rất khó chấp nhận nhau. Vậy mà họ ăn ở với nhau đã mười lăm năm
chả có điều tiếng gì. Người chị của cô con dâu đến nói với bà cô tôi: “Bác chịu được tính nó thì con
cũng phục thật đấy”. Bà cải chính: “Đúng là tôi có phần phải chịu nó nhưng nó cũng có phần phải chịu
tôi, mỗi bên chịu một nửa”. Bà bảo, con dâu là vàng trời cho, mình không có công đẻ ra nó, cũng
không nuôi nó ăn học ngày nào, bỗng dưng nó về nhận mình là mẹ, sinh con đẻ cái cho dòng họ, cáng
đáng mọi việc từ trẻ đến già, không lễ sống nó thì thôi còn hoạnh họe nỗi gì. Bà chiều quý và tôn trọng
các con dâu thật lòng nên cả hai nàng dâu đều tâm sự với mẹ chồng: “Con ở với mẹ còn thoải mái hơn
ở nhà với mẹ con”. Con rể và con gái được nhận nhà ở một khu tập thể, nhà chật, lại xa, con còn nhỏ.
Nhưng anh con rể không muốn nhờ vả mẹ vợ, tự mình cũng thấy không tiện mà người ngoài nhìn vào
càng không tiện. Bà biết thế nên bảo con rể: “Trong cái nhà của tôi có một phòng dành cho vợ anh.
Của vợ anh tức là của anh. Cũng như mọi thứ của anh tức là của vợ anh. Chẳng lẽ anh bảo không
phải”. Năm ngoái khu phố có yêu cầu bà cụ báo cáo về nếp sống gia đình cho hàng phố học tập. Bà từ
chối, khi tôi lại thăm bà nói riêng: “Cái chuyện ấy ai cũng biết cả, chỉ khó học thôi”. Tôi cười: “Lại
khó đến thế sao?”. Bà cụ nói: “Trong nhà này, ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao. Anh
có học được không?” À, thế thì khó thật. Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không
phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người,
phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm mà
cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống, một quan niệm sống, là nếp nhà, ở trong tay mình nhưng nhận
được ra nó, có ý thức vun trồng nó lại hoàn toàn không dễ.
3.
Trở lại câu chuyện cũ, tại sao bà cụ không chịu bán nhà, chia tiền cho các con để họ lập cơ nghiệp
riêng? Lớn rồi thì phải ở riêng, nó thuận với sự phát triển. Con cái đã trưởng thành vẫn bắt ở chung ăn
chung như trại lính, đâu có phải là chuyện tính toán khôn ngoan. Bà cụ nghe tôi nói cười tít cả mắt, ra
cái vẻ mọi sự bà đã tính cả rồi, đâu có đợi một thằng nhà văn ngây ngô mách nước. Bà nói, hiện nay
các con bà vẫn thích đi làm cho nhà nước bằng cái nghề chuyên môn đã được đào tạo của mình. Ngoài
giờ đi làm thì bọn nó đọc sách, dạy con học, bù khú với bạn bè. Họ thích sống như thế và có điều kiện
để sống nhàn nhã như thế. Họ không có óc kinh doanh, không có nhu cầu phải kinh doanh. Không cần
đến tiền thì không nên một lúc cầm quá nhiều tiền. Đồng tiền do may mắn mà có, do thời thế đổi thay
mà có rất dễ là mầm mống của nhiều tai họa. Vì người có tiền chưa kịp học cách tôn trọng đồng tiền,
sai khiến đồng tiền. Ở cái nhà này, theo tôi biết, chưa bao giờ họ mua vé số. Cũng không thờ cúng ông
thần bà thánh nào, ngoại trừ ngày giỗ để anh em con cháu có dịp gặp gỡ nhau. Họ không cầu gặp may
mắn, không săn đón may mắn. Họ chỉ nhận những cái đáng nhận. Bà cụ vẫn đi lễ các chùa miếu đền
phủ với bạn bè nhưng bà không khấn. Bà cũng chưa từng xem tướng, xem bói, xin xăm. Ngày chú tôi
mất mọi việc hậu sự chỉ một mình cô tôi lo liệu, không hỏi han bất cứ ai, không xem giờ xem ngày gì
cả. Việc cưới xin của các con cũng thế. Đưa con gái đi, đón con dâu về tuyệt đối không có xem tháng
xem ngày. Trong một lần trò chuyện, bà hỏi tôi: “Anh có phân biệt được người giàu lương thiện và kẻ
giàu bất lương không?” - “Trong bao lâu?” - “Trong một lần tiếp xúc”. - “Thế thì khó!”. Bà bảo, bà
vẫn phân biệt được. Những đứa giàu lên do cướp đoạt, lừa đảo nói chuyện một lúc là biết. Bọn họ
khinh người rẻ của lắm. Họ không tin một ai cả, càng không tin còn có lòng tốt ở đời. Họ chỉ tin có
tiền. Tiền là quân của họ. Một đội quân giặc cướp, sẵn sàng tàn phá tất cả, tiêu diệt tất cả để đạt được
những cái đích phù phiếm của chủ nó. Bà nói, bà là người biết quý trọng đồng tiền từ trẻ tới già, nhưng
mấy năm gần đây bà lại sợ tiền. Nghe chuyện của thiên hạ mà sợ. Càng ít sờ mó tới tiền càng tốt. Nó
có độc đấy! Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của bạn bè đếm mãi tiền nhiễm
độc lúc nào không hay, sẽ không còn là bàn tay của người nữa. Vì lẽ đó mà bà chưa muốn bán nhà.
Các con bà cũng không ỷ eo, nài ép bà phải bán nhà. Thế là may. Nhưng cái may này còn kéo dài được
bao lâu? Bà vốn không tin vào sự may rủi. Bà chỉ tin vào sự chuẩn bị của mình, chuẩn bị trong cái khả
năng có thể, chứ liệu hết thế nào được những việc của chục năm sau.
4.
Bữa tôi sắp trở vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi có lại chào bà. Cũng như mọi lần tôi nói nửa vui
nửa buồn: “Mong cô khỏe mạnh mãi để mỗi lần ra, cô cháu mình có dịp bàn chuyện thế sự, văn
chương”. Bà cụ cười rất hồn nhiên: “Nếu được sống thêm mươi năm nữa thì vui lắm đấy. Nhưng mà
khó”. Vì biết là khó nên ngay từ năm ngoái bà đã làm chúc thư, phòng khi đột nhiên phải ra đi thì các
con đã có cẩm nang hành động. Làm chúc thư là khó lắm, sống làm sao chia của làm vậy. Chia khéo thì
trai gái dâu rể mãi mãi là con của mình, mãi mãi là anh em ruột thịt của nhau. Chia vụng thì xẻ đàn tan
nghé ngay tức khắc, càng đông con cháu càng lắm mối họa. Trước hết bà gặp riêng năm người con của
mình vào một buổi chiều, con dâu con rể không được tham dự. Nguyên tắc làm chúc thư của bà là
công khai và công bằng, không phân biệt trai gái, trưởng thứ. Tài sản chia làm sáu phần bằng nhau,
năm con năm phần, mẹ một phần. Phần của mẹ hoặc gửi ngân hàng, hoặc đem kinh doanh, tùy, số lãi
hàng năm lại chia làm sáu. Con trai đầu phải giữ việc hương khói được nhận hai phần. Bốn phần còn
lại sẽ bỏ vào một quỹ riêng để chi các việc: tu bổ nhà thờ, sửa sang phần mộ, góp giỗ tết với các chi
khác và cấp đỡ cho bà con nghèo của hai họ nội ngoại. Đồ gỗ và đồ sứ trong nhà thì cho hai con trai.
Đồ trang sức của mẹ thì cho ba con gái. Sau buổi họp bà cụ phân công cho con gái lớn viết lại chúc
thư làm sáu bản, viết tay không đánh máy, cả sáu người đều ký, mỗi người giữ một bản, có giá trị
trước pháp luật. Từ nay bán nhà hay cho thuê nhà bà cụ coi như không biết, đám thừa kế cứ theo
nguyên tắc chia sáu mà xử sự. Bà cụ nói xong, nhìn tôi một lúc lâu rồi bà cười rất ý nhị:
- Con người ta ai cũng có phần thiện phần ác. Muốn dưỡng thiện diệt ác thì trong nhà phải có gia
pháp, ngoài xã hội phải có luật pháp. Trong gia pháp có phần truyền thống và danh dự của dòng họ, có
phần đạo đức của người trên và nghĩa vụ của kẻ dưới. Gia pháp cũng phải theo thời mà điều chỉnh,
quá ngược với thời thế thì con cháu khó theo, quá xu mị thời thế thì bỏ mất gốc rễ. Theo chỗ tôi biết
gia pháp của nhiều danh gia vọng tộc ở Hà Nội đang gặp hồi khủng hoảng. Suốt mấy chục năm anh dạy
các con anh khinh miệt đồng tiền, lên án tư hữu và những người giàu có đều là phần tử bất hảo. Bây
giờ anh tính sao? Bây giờ các con anh đều lao vào kiếm tiền, đều nuôi mộng làm triệu phú tỷ phú trong
chớp mắt. Khốn một nỗi chúng lại chưa từng được ai dạy bảo cái cách ăn ở với đồng tiền. Đồng tiền
vừa là đày tớ vừa là ông chủ, vừa là bạn đường vừa là giặc cướp, các con anh biết chọn cách nào?
Chúng chỉ biết lựa chọn theo trực giác, theo kinh nghiệm tức thì, theo lợi ích trước mắt. Anh nghĩ xem,
đã đến thế thì con người và nền văn minh của con người đã bị chúng gạt khỏi mọi sự tính toán rồi.
5.
Mấy hôm trước trời ấm nhưng hơi nồm, chỗ nào cũng lép nhép nhầy nhụa đến khó chịu. Đêm như
có mưa, hơi nặng hạt thì phải, hạt mưa gõ trên mái ngói nghe rất rõ. Sáng ra tất cả đã ráo khô, mảnh
sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh. Cái lạnh của mùa xuân thật dịu dàng, thở rất dễ,
người rất nhẹ, mặc một cái áo len mỏng, khoác thêm một cái áo ngoài, đạp xe ra đường nhìn vào cái gì
cũng đẹp. Huống hồ bây giờ Hà Nội lại đang đẹp, mỗi ngày một đẹp ra, trẻ ra. Lắm lúc nghĩ cũng tiếc
đã trót đưa vợ con vào sống trong Sài Gòn. Tiếc thì tiếc chứ không thể làm lại được. Một chân đã
thõng vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa. Không còn cả thì giờ để ganh ghét,
để hờn giận. Chỉ còn đủ thời gian để làm lành, có thua thiệt vẫn cứ nên làm lành. Văn chương làm lành
cố nhiên là không hay rồi, thôi kệ, vì cũng chả còn hơi sức đâu gây sự, dầu chỉ là gây sự vặt.
Tôi đạp xe thong thả dọc đường Phan Đình Phùng bất chợt gặp một ông già khoảng tuổi tôi chạy bộ
buổi sáng từ đường Cổ Ngư về. Ông chạy bên kia đường, tôi đạp xe bên này đường, lại có một thằng
cha cưỡi xe Dream chạy chậm cùng chiều với tôi. Bỗng thấy hắn hét lên: “Chạy lộn đường rồi! Văn
Điển đi lối kia cụ ơi!”. Ông già đứng sững lại, thằng cha vừa hét quay mặt lại nhìn tôi nhăn răng cười.
Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy! Hàng hóa nhiều tất nhiên rác rưởi phải nhiều chứ nghèo quá,
đói quá lấy đâu ra rác.
Chúng tôi và bọn hắn
1.
Tôi và Phúc là bạn của nhau từ năm tôi mười bốn tuổi. Hai nhà sát cạnh nhau ở phố Résident
Miribel nay là phố Trần Nhân Tông, đi vài bước là ra phố Huế, nhìn sang bên kia đường là Chợ Hôm.
Nói là bạn cũng chưa hẳn đúng, anh hơi tôi hai tuổi, học trên hai lớp, tính cách phóng khoáng, mạnh
mẽ như một chàng trai đã trưởng thành. Mỗi lần gặp nhau ở cửa, anh mặc quần soọc trắng, áo sơ mi
cộc tay trắng, tóc cúp bốc, đi giầy thể thao, đứng dạng chân, hai tay thọc túi quần, hất hàm hỏi tôi
chuyện này chuyện kia, mày mày tao tao, ra dáng ông anh lắm. Tôi vốn là người tính cách mềm yếu, dễ
bị ngợp trước những người mạnh, tõn tẽn trả lời lúc xưng tôi, lúc xưng em. Cuối năm 44, đột nhiên
Phúc bỏ nhà ra đi. Vì sao mà đi và đi đâu thì không được biết. Bọn trẻ con trong phố nói thầm với
nhau cái tin đó một cách kính trọng và bí mật. Sau này mới biết Phúc đã là Việt Minh từ cái ngày ấy.
Rồi gia đình tôi dọn nhà lên phố Đỗ Hữu Vị, sau lại về Vân Hồ nên không biết tin tức gì về gia đình
Phúc nữa. Cuối năm 1949, tôi làm phóng viên cho báo Dân quân Hưng Yên bất chợt gặp Phúc ở Kim
Động. Anh ăn mặc giống hệt một cán bộ cấp đại đội hay tiểu đoàn tôi thường gặp, quần áo nâu, áo trấn
thủ mặc ngoài, đeo xà cột, túi áo cài bút Oerơvơ, tay đeo đồng hồ và sau đít cộm lên một khẩu súng
ngắn. Anh nói đã là chính trị viên đại đội đang trên đường lên Việt Bắc dự hội nghị bí thư chi bộ toàn
quốc. Năm 61 tôi lại gặp anh, cùng là cán bộ của Tổng cục Chính trị, cấp bậc như nhau, đại úy. Rồi
anh lại đưa vợ con về ở cùng một dãy nhà với tôi trong một khu tập thể của quân đội sát bờ sông
Hồng. Anh ở gian đầu, tôi ở gian giữa, sáng tối đều gặp nhau như xưa kia nhưng mối quan hệ đã bình
đẳng hơn. Phúc là người rất có tài nhưng cái tài của anh chưa đúng thời, có khi còn nghịch thời nên chỉ
được làm anh trợ lý quèn của một phòng vô danh. Nghĩ cũng tội nghiệp. Năm 65 anh được điều vào
chiến trường Trị Thiên. Năm 70, anh ốm quá nên lại được gọi ra Hà Nội, người chỉ còn da với xương,
nhăn nheo như ông già, hai tay chống hai gậy. Bà vợ bỏ cả việc làm để nuôi chồng lúc ở bệnh viện, lúc
ở nhà, mặt mũi sầu não, đi lại hớt hải. Mà lại nghèo quá. Chồng là thiếu tá quân đội, vợ làm ở xí
nghiệp may quốc phòng, lương chỉ đủ ăn chứ không đủ tiêu vì họ có những ba con đang ăn học. Lại ốm
đau, chồng ốm, vợ cũng hay ốm vì chị mắc bệnh suyễn. Vay hàng xóm từng bơ gạo, từng đồng bạc.
Nhìn chị vất vả lắm lúc tôi cũng ngượng. Tôi thì hầu như không đi đâu xa và cũng không đi dài ngày.
Đi xa nhất là Vĩnh Linh, ở lâu nhất là một tháng. Viết bài cho các báo thì có tiền nhuận bút. Vài năm
lại được một chuyến đi nước ngoài. Đã thế quân hàm mỗi cấp tôi cũng đều được phong trước anh. Có
thể cách sống của tôi hợp với thời thế hơn anh. Tôi khuôn mình vào cái trật tự chung vừa vặn, lại có
phần thoải mái. Còn anh? Con người anh, cách nghĩ của anh, lối sống của anh hình như hơi rộng hơn
cái mẫu đã được quy định thì phải. Cứ sục sặc thế nào ấy. Cứ ngang ngang thế nào ấy. Cứ như người bị
ngạt. Có lần đứng với nhau ở vườn ngoài, anh nói một chuyện gì đó, một chuyện không nên nói to, cũng
không nên đứng nói ở ngoài đường, tôi đưa mắt nhìn xung quanh theo thói quen rồi bảo nhỏ: “Ông nói
be bé chứ”. Anh nhìn tôi với cái vẻ khinh miệt rồi cười khẩy: “Nhà văn chó gì mà nhát thế! Đã nhát thì
không nên cầm bút nữa!”. Ờ, mình cũng hèn thật nhưng cái hèn đã ngấm vào máu rồi, làm sao mà sửa.
2.
Vợ Phúc là con gái Hà Nội, con một gia đình công chức nhỏ. Khi bộ đội tiến vào giải phóng thủ
đô, chị cùng các bạn gái xô nhau ra đường vẫy cờ vẫy hoa, hoan hô những người chiến thắng vừa đẹp
vừa hùng như trong các truyện cổ tích bước ra. Rồi chị gặp chàng Phúc của tôi, anh đang ở tuổi 25, là
hoàng tử của nhiều cô gái dậy thì vào cái thời ấy. Họ quen nhau, yêu nhau được nửa năm thì cưới nhau.
Ngày ấy chị đã nghĩ, được lấy Phúc là may mắn lớn nhất của đời chị. Chứ ai ngờ chị sẽ phải chịu bao
nhiêu cay đắng với ông hoàng tử đời thường suốt mấy chục năm sau. Phúc sinh ra là để hoạt động xã
hội, xã hội không dùng anh thành kẻ bất đắc chí. Chưa bao giờ anh là người của gia đình, anh gắn vào
nó một cách hờ hững, gắng gượng. Anh thích ăn ngon, lại thích mời bạn bè đến nhà ăn những bữa cơm
rất ngon, khổ cho người vợ lắm nhưng chị vẫn cố xoay xở được. Khốn nỗi, ông anh tôi còn thích cả bồ
bịch nữa, cái tật ấy từ trẻ đến già vẫn chưa sửa được. Thời ấy còn ăn gạo sổ, mỗi lần chỉ lĩnh được
dăm cân, mười cân, xếp hàng mất cả buổi, thiếu gạo thì phải mua chợ đen, tiền đâu mà dám ăn gạo chợ
đen. Suất gạo của Phúc được mua đủ một lần ở bếp quân đội nhưng anh không đưa về nhà mà lại đưa
đến nhà người tình. Hình như người tình của anh cũng đông con. Con trai anh nhìn thấy và nói lại với
tôi. Nó rất buồn, tôi cũng buồn, vợ anh chỉ còn biết khóc thầm khóc lén. Chị là con nhà gia giáo, được
giáo dục theo kiểu cổ, chồng phụ chỉ biết khóc chứ không dám đến cơ quan chồng tố cáo, kiện tụng.
Chị thì một ngày một gầy yếu vì bệnh suyễn, vì hầu hạ con cái, vì lo tiền. Còn ông chồng càng già càng
to lớn, dềnh dàng, khỏe khoắn về đủ mọi phương diện. Hai nhà ở cùng một dãy, thỉnh thoảng đi qua đi
lại, chưa lúc nào tôi thấy chị ngơi tay. Làm ở xí nghiệp may về nhà có máy khâu, để có thêm chút ít
tiền cho các con ăn học. Năm con gái lớn sinh đứa con đầu nhưng đẻ khó, phải mổ rồi băng huyết, cứu
được con, con trai, nhưng người mẹ gần như đã rơi vào tình trạng hấp hối. Chị ôm lấy đứa con gái bất
hạnh, gào lên: “Trời ơi, người ta thì được cháu còn tôi thì mất con!” Trong ba tháng chị giành giật lại
con trong tay thần chết bằng quyết tâm sắt đá của mình. Chị không nghe thấy gì, không nhìn thấy gì,
không còn biết gì, chỉ gầm gào có một câu: “Mẹ sẽ cứu con! Nhất định mẹ sẽ cứu được con!”. Chị bán
hết những gì có thể bán được, bỏ việc làm, thức cả ngày và cả đêm, quên ăn quên uống, người khô đét,
mắt ngầu đỏ, môi trắng lợt, ngón tay dài ra như móng vuốt để níu giữ bằng được con gái lại. Và chị đã
thắng. Rồi chị nghỉ hưu để hầu hạ một ông chồng lúc hiện lúc biến như một ông khách và ba con, một
rể, thêm một cháu ngoại được mấy tháng tuổi. Cuộc sống ổn định dần, các con đều có việc làm, cháu
ngoài đã đi mẫu giáo. Tất cả đều béo tốt, khỏe mạnh nhưng bà mẹ kiêm vú già, kiêm vú em thì không
còn ra hồn người, đi lại lêu nghêu mà vẫn cười rất tươi, lại còn hãnh diện nữa, nhân một lần chị gặp
tôi: “Độ này nhàn lắm rồi ông ạ, bây giờ chúng nó đã nuôi được tôi rồi”. Tôi nghe chị nói mà muốn ứa
nước mắt. Chị là vàng mười, là kim cương, là báu vật, là sự may mắn lớn nhất mà chồng con chị đã có
được ở cõi đời này. Các con thì biết, tôi nghĩ thế, nhưng anh Phúc của tôi liệu có biết không? Nghe nói
vẫn có bồ. Ông đã ngoài sáu mươi thì tình nhân của ông là 50 hay 20. Chịu!
Ra Hà Nội lần này tôi khao khát được gặp Lộc, con trai của anh chị, nghe nói đã là giám đốc một
xí nghiệp của một Bộ trong chính phủ. Vợ chồng nó có nhà riêng, có điện thoại riêng. Nhưng quay số
gọi mãi không thấy ai trả lời, lại gọi đến nhà thằng rể út là thư ký tòa soạn một tờ báo ở Hà Nội để hỏi
tin tức. Người bốc máy lại chính là chị Phúc. Tôi ngạc nhiên: “Nghe nói bà đến ở với vợ chồng thằng
Lộc kia mà?”. Chị cười: “Từ lúc vợ nó đẻ là tôi đã xin đến bế con cho chúng nó ngay nhưng tôi mới
bị bà chủ đuổi việc”. - “Là thế nào?” Chị vẫn cười: “Là bị đuổi chứ còn thế nào”. - “Chắc mẹ chồng
lắm lời quá?” - “Không ạ, tôi biết phận tôi lắm ạ, bảo gì làm nấy, trung thành, tận tụi, tuyệt đối không
cãi một lời mà vẫn bị vợ nó ghét. Trông con nó đã được gần một năm bỗng dưng một hôm nó thuê đâu
một con bé đem về, bảo bà đưa cháu cho con bé kia bế, rồi tự nó đi làm cơm, cho bà ngồi chơi, hỏi
không nói, gọi không thưa, thành thử tôi biến thành cái hồn ma trong nhà, ông bảo không đi thì còn biết
làm gì”. Lại cười nhưng giọng cười lòe nhòe như có nước mắt. Tội nghiệp chị, tội nghiệp cô gái Hà
Nội, tội nghiệp cho người vợ một anh bộ đội, bà mẹ của mấy đứa con một thời nghĩ lại vẫn còn kinh.
Chị lại nói: “Bữa nọ tôi về ngủ với thằng cháu ngoại, nó lên mười rồi, học lớp bốn rồi, mà khôn lắm.
Nó bảo: “Cậu ấy đuổi bà thì bà về cháu nuôi”. Tôi lại hỏi: “Thằng Lộc nói sao?” Chị ngập ngừng một
lát rồi nói: “Nó chả bảo sao cả”. Bây giờ chị lại có việc làm rồi. Đứa con gái út sắp đẻ, chồng nó liền
mời bà mẹ vợ đang thất nghiệp tới trông nom giùm. Cũng mới được vài ngày nay. Hỡi ôi!…
3.
Cứ nhìn vào con mình và con cái của bạn bè là biết ngay thời thế đã thay đổi. Chúng là những nhân
vật chính của một vận hội mới, một thời buổi mới, thời mở cửa, thời làm giàu, làm giàu cho mình và
làm giàu cho nước, cái sự riêng chung này ly kỳ lắm, còn phải nói nhiều. Là thời mà các giá trị cũ đã
mất tính tuyệt đối. Còn những giá trị mới thì lòe nhòe, bảo là phải cũng được, bảo là trái cũng được.
Nó là những giá trị của buổi giao thời. Nghĩa là còn phải gạn lọc chán những giá trị ấy mới trở thành
giá trị thật để chấn hưng một dân tộc. Cuộc sống sẽ chọn lọc, sự phát triển sẽ chọn lọc, nên nó sẽ lâu,
không thể sốt ruột. Mọi sự nóng vội từ trước đến nay nói chung là hỏng cả. Ví dụ, con một ông anh tôi
là giám đốc một công ty liên doanh của nhà nước. Nhưng đó chỉ là một vế hay chỉ là một tay, tay phải.
Còn tay trái nó cũng ôm một công ty riêng, vốn của nó, gọi là công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ tổng
hợp. Gọi tắt là công ty Divutôhô. Bố nó đã tám mươi tuổi, vốn là một viên chức của nhà nước, đã nghỉ
hưu từ hai chục năm nay, làm chủ tịch hội đồng quản trị, còn em ruột nó làm giám đốc. Ông chủ lớn là
nó thì ngồi phía sau điều hành. Nó buôn một phần còn một phần thì cho mượn bảng hiệu để người khác
buôn. Thượng vàng hạ cám nó buôn tất. Nó nói với tôi, đã đội cái mũ ấy cứ tha hồ mà múa. Cái sự
múa của nó thì rùng rợn lắm, còn hơn cả truyện trinh thám. Bảo là phải ư? Hình như là không phải, lắm
trò ma quỷ quá. Bảo là trái ư? Cũng chưa hẳn, nó nộp thuế đầy đủ, buôn bán lương thiện, đúng pháp
luật hiện hành. Thế thì là gì? Chịu! Nó chỉ là một cách làm ăn của lúc giao thời. Tôi đến chơi nhà một
người bạn, anh chị đã ngót nghét bảy mươi nên coi tôi như em. Mỗi lần đến thăm anh chị đều giữ lại
ăn cơm, gặp đúng bữa chỉ thêm bát thêm đũa là đủ. Người nhà mà. Lần này tôi đến vào lúc 10 giờ
sáng. Ngồi đến 10 giờ 30 chả thấy ông bà bảo sao. Tôi đã tính cứ ngồi gan cho đến 11 giờ xem họ có
mời cơm mình không nào. Không phải vì bữa cơm, cơm bụi Hà Nội rẻ lắm, ăn phè phỡn cũng chỉ hết
dăm nghìn, mà tự do. Chỉ là muốn gây khó chơi, xem họ phản ứng thế nào, vì sao mà thay đổi. Mà tội
lắm, ông liếc mắt nhìn bà, bà cúi mặt đưa mắt nhìn tôi, rồi lại nhìn chồng, như người có lỗi. Tôi nhìn
họ thích thú một cách độc ác, có chuyện rồi, chỉ chưa hiểu nó là chuyện gì. Đúng 11 giờ, nghe có tiếng
còi xe hơi ngoài cổng, bà vợ chạy vội ra. Một lát sau ông con trai lớn của họ, bạn vong niên của tôi,
nhon nhón bước vào, comlê đen sọc, cavát, kính màu, chân râu xanh mướt như một thương nhân ngoại
quốc. Nó chào tôi rồi bảo ngay: “Chú ở đây dùng cơm với bố mẹ cháu. Có rượu rất ngon. À, mà chú
đâu có biết uống rượu”. Lúc ấy cả hai ông bà già mới dám mời tôi ở lại. Trong lúc ăn, với người thân
tình tôi hay nói sỗ nên vừa cười vừa bảo: “Khi nãy tao thấy thương hại bố mẹ mày quá”. - “Sao vậy?”
- “Ông bà muốn mời tao ăn cơm nhưng vì chưa có lệnh của mày nên chưa dám mời. Tao cứ ngồi gan
trêu hai cụ chơi”. Bà mẹ cười gượng: “Chú cứ nói quá, làm gì đến thế”. Nó cũng cười: “Mấy ông nhà
văn cũng đểu thật”. Rồi nó nói ngay: “Đúng là cháu không muốn bố mẹ cháu mời bất chợt bạn của các
cụ cùng ăn với gia đình. Muốn mời phải báo trước để cháu còn tránh”. Tôi hỏi: “Anh không thích nói
chuyện với bọn tôi à?”. Nó nhè miếng xương, nhăn mặt: “Toàn chuyện ông này ra ông kia vào, ông này
lên ông kia xuống, chuyện của các cơ quan quyền lực dính líu gì đến bọn cháu”. - “Quyền lực vẫn chỉ
huy kinh tế đấy anh ạ”. Nó cười: “Danh nghĩa là thế, còn thực chất vẫn là tiền chỉ huy. Đồng tiền lớn
chỉ huy đồng tiền bé”. Nó uống một ngụm rượu, vè mắt đã rần rần đỏ: “Chúng cháu chỉ có một ông chủ
thôi, đó là thị trường, mà quy luật của thị trường thì bất biến nên dễ ứng xử lắm”. Rồi nó hỏi, giọng xỏ
xiên: “Ông chủ của chú là ai?” Tôi nói cũng hơi huênh hoang: “Tôi cũng chỉ có một ông chủ như anh,
đó là bạn đọc”. Nó cười rất đểu, trong hai chúng tôi nó mới là thằng đểu: “Bạn đọc bây giờ đâu có
thích văn của chú nữa. Toàn là né, nói gì thì nói vẫn cứ là một cách né. Chú được tiếng là khôn, nhưng
cái khôn của chú chỉ có lợi cho một mình chú chứ lợi gì cho dân cho nước, có phải không?”. Vâng, nó
nói đúng thế, tôi là một nhà văn, kể ra cũng có chút ít tên tuổi, một tí chút thôi, mà vẫn bị bọn trẻ ranh
mắng vặt. Nó mắng cũng chả oan lắm đâu.
4.
Tôi biết Lộc, thằng con trai duy nhất của anh chị Phúc từ nhỏ, từ lúc nó được mấy tháng khi bố mẹ
nó ẵm về ở cùng một khu tập thể. Từ nhỏ tới lớn nó sống ra sao, học ra sao tôi cũng chả chú ý. Vì nó
không thuộc loại phá. Nghịch ngầm chắc là có. Nên bạn nó mới đặt tên là Lộc cáo. Bố như thế, mẹ như
thế, gia cảnh như thế mà Lộc vẫn học được hết trung học phổ thông, mỗi năm một lớp kể cũng là ngoan
lắm. Nhưng thi vào đại học Xây dựng thì cậu trượt. Rồi hắn đi bộ đội mấy năm. Hết nghĩa vụ quân sự
Lộc thi vào đại học Ngân hàng đang còn là trường hèn mọn lúc bấy giờ, đỗ thủ khoa. Tốt nghiệp đại
học năm 82, nhà trường điều Lộc vào Đắc Lắc nhưng hắn không đi, quyết chí ở lại Hà Nội, không bằng
cấp, không hồ sơ, dấn mình vào cuộc phiêu lưu mới để cứu gỡ tình trạng cùng quẫn của gia đình.
Không việc gì không làm, tất nhiên là những việc làm lương thiện, không phân biệt việc sang hay hèn
cho tới năm 84 mới xin được vào làm nhân viên Phòng Kế toán Tài vụ của một xí nghiệp nhà nước.
Năm 88 vào biên chế chính thức và được đề bạt ngay làm phó phòng. Năm 89 là trưởng phòng. Cuối
năm 89, tôi ra Hà Nội họp được Lộc mời về nhà riêng của hắn ăn cơm và ngủ lại một đêm. Nhà của xí
nghiệp cấp trong một cao ốc tập thể, ba buồng, đã có sửa chữa lại, trang bị lại, là nhà ở của những
năm 90, khác xa với căn nhà đầu tiên của chúng tôi được quân đội cấp. Xưa kia đâu phải là nhà, là
chuồng trại thì đúng hơn, bếp tập thể, vệ sinh tập thể, giặt giũ cũng tập thể. Tôi hỏi Lộc: “Tài năng của
anh ra sao mà được lên chức vùn vụt thế?” Hắn cười mủm mỉm, vốn cũng là người ít nói, chỉ hay cười
mỉm thôi: “Cũng chẳng có tài cán gì đặc biệt, chỉ là thay đổi lại cách làm. Làm kế toán phải trùm lên
mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của một doanh nghiệp chứ kế toán không phải là thằng đầy tớ, là
anh cộng sổ. Bắt đầu từ đấy…” Từ đấy phòng kế toán tài vụ là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xử lý
đồng vốn, quyết định mọi vấn đề tài chính của xí nghiệp, tháo gỡ mọi khó khăn về tài chính để phục vụ
sản xuất, kinh doanh. Nó chính là ông chủ thật sự. Năm 91, Lộc được đề bạt làm phó giám đốc phụ
trách kinh doanh. Tháng 1 năm 92, làm quyền giám đốc vì giám đốc cũ phải nghỉ hưu. Tháng 3 năm 92
xí nghiệp họp bầu tín nhiệm một giám đốc có tài cầm cương, nâng xí nghiệp lên cho kịp với sự phát
triển vũ bão của nền kinh tế thị trường. Có ba ứng cử viên đều là phó giám đốc, hai cũ, một mới. Lộc
trúng cử với số phiếu áp đảo, có một trăm phiếu hắn được 95 phiếu, 5 phiếu còn lại chia cho hai
người kia. Những chuyện vui đó tôi đều có biết, nghe bạn hắn kể lại. Tôi cũng vui, nhưng vẫn chưa hết
ngạc nhiên. Cái thằng nhóc ấy, cái thằng tôi ẵm bế nó từ thuở mới có mấy tháng lại ghê gớm đến thế à?
Nó được đào tạo từ bao giờ, hả? Bố Phúc nó chưa dễ đã làm được huống chi nó. Còn nó… thì nó đã
làm rồi đấy. Cái xí nghiệp của nó đã có tiếng tăm rồi đấy. Chẳng gì nó cũng là một ông tỷ phú, tỷ phú
nhà nước thôi, của cái thời bây giờ.
Ra Hà Nội là tôi gọi điện gặp Lộc ngay. Hắn hẹn sẽ đón tôi tại tạp chí Văn nghệ quân đội là nơi tôi
đang ở nhờ. Tôi hỏi: “Đi bằng gì thế?” Hắn cười khẽ: “Tất nhiên là bằng xe hơi của cháu”. Hắn mặc
một cái áo len xám mỏng cổ rộng, thắt cavát và đi đôi giầy da cực đắt. Xe hơi Đài L...
Nếp nhà
Chúng tôi và bọn hắn
Đất kinh kỳ
Người vợ
Người của ngày xưa
Tiền
Danh phận
Nghệ nhân ở làng
Một người Hà Nội
Nắng chiều
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
NGUYỄN KHẢI
Hà Nội
trong mắt tôi
Tập truyện ngắn
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Nếp nhà
1.
Mỗi lần ra Hà Nội việc đầu tiên là tôi phải tới thăm bà cô tôi. Chẳng có quà cáp gì cả, đến
tay không, nhưng vẫn cứ phải đến. Vì bà là cái túi khôn của tôi mà. Năm nay các con bà sẽ làm lễ
mừng thọ mẹ tám mươi tuổi. Các cụ nói: Năm mươi tuổi hiểu được mệnh trời. Người tám mươi tuổi
lại vẫn minh mẫn, khôn ngoan, không chừng hiểu được cả then máy của Tạo hóa. Nói chuyện với bà tôi
vẫn trờn trợn như ngày nào được hầu chuyện cụ Nguyễn. Nghĩa là vẫn phải uốn lưỡi trước khi hỏi,
trước khi trả lời. Một ngôi nhà đẹp, một cửa hàng tuyệt vời ngay giữa một đại lộ trung tâm trông thẳng
ra hồ Hoàn Kiếm mà chỉ bày bán lèo tèo mấy mặt hàng sơn mài, tượng gỗ thì uổng quá, coi khinh thiên
hạ quá. Bà cụ cười: “Anh đã bắt đầu có con mắt thương mại rồi đấy nhỉ?”. Con mắt thương mại thì chả
dám nhưng với con mắt của người bây giờ thì ngôi nhà, nói cho chính xác hơn là miếng đất, của bà cô
tôi cũng phải đáng giá một triệu…, tất nhiên là triệu đô. Cũng chả phải do mình đặt giá mà là đại diện
các công ty nước ngoài tới trả giá. Ngày nào cũng có vài nhóm người tới hỏi nhưng bà cụ chỉ nhã nhặn
trả lời: “Tôi không có ý định bán hoặc cho thuê cái nhà này”. Cho thuê cũng nhiều tiền lắm. Đã có
người hỏi thuê chỉ mấy chục mét vuông của gian ngoài thôi, mỗi tháng trả năm ngàn đô, trên mười cây
vàng. Vẫn là không, không bán mà cũng không cho thuê. Tại sao cụ lại gàn thế? Vì các em anh không
muốn thế, cho đến hôm nay chúng nói vẫn đi làm cho nhà nước, không buôn bán gì cả, không mánh
mung gì cả. Lương tiêu không đủ thì tôi bù. Bán các mặt hàng vớ vẩn như anh nói nhưng mỗi tháng
cũng kiếm được khoảng trên dưới dăm triệu. Này, dăm triệu không phải là ít đâu anh nhá! Theo tôi
được biết từ trẻ đến già cô tôi sống theo một số nguyên tắc, thời thế có thể thay đổi nhưng cách sống
của bà dứt khoát không thay đổi. Đó là: sống thẳng thắn, sống lương thiện và sống theo pháp luật hiện
hành. Những năm Pháp tạm chiếm Hà Nội, chú tôi vẫn mở trường dạy học tư như thời trước, còn cô
tôi ấn hành sách giáo khoa cấp tiểu học do chú tôi soạn. Có một tác giả đưa tập thơ “Đồi thông hai
mộ” bán cho bà. In tập thơ đó chắc chắn sẽ thu lãi nhiều, bà biết thế nhưng vẫn từ chối. Vì nhà xuất
bản Nguyễn Du do bà chủ trương chỉ in có sách giáo khoa, đúng như trong giấy phép. Năm 56, cán bộ
thuế tới kiểm tra kho giấy của bà để đánh thuế tồn kho, khoảng hai chục triệu. Chú tôi tính vốn nhát,
vui vẻ bằng lòng ngay. Cho đỡ phiền. Nhưng bà vợ không chịu vì giấy in sách giáo khoa xưa nay
không phải đóng thuế. Đã được miễn thuế thì làm gì có thuế tồn kho. Bà bướng bỉnh đến nguy hiểm, ai
cũng sợ nhưng bà vẫn thản nhiên: “Lý của mình đúng, việc gì phải sợ”. Quả nhiên bà đúng thật. Bà
luôn luôn đúng vì bà rất tỉnh táo trong mọi mối quan hệ, chỉ nhận những gì đáng có, có quyền được có,
tuyệt đối không để bị dụ hoặc về tiền bạc cũng như về tình cảm. Một cái đầu hơi lạnh, lắm lúc tôi đã
nghĩ về bà như thế. Nói cho ngay, nếu không có cái đầu lạnh làm sao bà giữ nổi một ngôi nhà quá ngon
lành, quá quyến rũ trong bấy nhiêu năm, không gặp một chuyện rắc rối nào. Cho đến bây giờ đã sang
tuổi tám mươi bà vẫn biết từ chối những đồng tiền rất hợp pháp ắt hẳn phải có một tính toán khôn
ngoan nào đó. Cái khôn ngoan cao siêu chứ không phải là khôn vặt.
2.
Mùa xuân ở Hà Nội bao giờ cũng đẹp. Với tôi đã nhiều năm không được sống ở Hà Nội vào mùa
xuân lại càng thấy đẹp. Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt. Một chút mưa bụi bay lây rây như có
như không. Trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm nhưng mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên
những màu sắc tươi tắn. Đã có mùi son phấn và nước hoa bất chợt thoảng qua ở một góc phố, trong
một đám đông. Nói nhỏ đi, cười nhỏ hơn, ít nghe những câu chửi tục, những tiếng đệm tục. Giàu hơn
trước nhiều, sang hơn trước nhiều, cứ cho là bề ngoài thì cũng vẫn rất đáng mừng. Chỉ có bà cô tôi là
ít thay đổi, hầu như không thay đổi. Vẫn mấy chiếc xe máy đã cũ, và vẫn còn nhiều xe đạp, loại xe đạp
cà tàng từ những năm nào. Trời nắng các em đi xe máy, trời mưa đi xe đạp, đỡ phải rửa xe. Ăn mặc
của bà cụ, của các em cũng chả có gì sang hơn, như trước đây, ngày trước với Hà Nội đã là sang, bây
giờ là quá thường. Bây giờ con gái Hà Nội mặc quần chẽn đen, gót xẻ, có dải buộc dưới bàn chân,
mặc măng tô lửng, hoặc đi bít tất đen dài, quần cộc, áo vét trùm qua mông. Đàn ông cũng diện lắm, áo
vét tông các kiểu, thắt cà vạt đủ màu, giầy đen, cứ như họ từ các đại sảnh bước ra. Không phải đâu,
chỉ là quần áo thường ngày thôi, cũng giống như trước kia họ mặc áo bông xanh, quần kaki vàng và đi
dép nhựa. Chưa bao giờ tôi thấy người Hà Nội ăn mặc sang trọng như bây giờ. Chưa bao giờ tôi thấy
phố xá chói lòa những tủ kính, những bảng hiệu và ánh sáng như bây giờ. Vậy mà một nhà giàu của Hà
Nội có dư điều kiện để thay đổi lại không chịu thay đổi. Một đại gia đình gồm hai con trai, hai con
dâu, một gái, một rể và những đứa con của họ vẫn sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp ăn.
Thiên hạ thì chia ra, bà cụ lại gom vào. Vẫn rất êm thấm mới lạ chứ. Nếp nhà đã thắng được tự do của
cá nhân sao? Phải nói thêm, cái nếp nhà này cũng ít ai theo kịp. Người con dâu cả vốn là con gái Hàng
Bồ, đỗ đại học, là một cô gái kiêu hãnh, tự tin, không dễ nhân nhượng. Ai cũng nghĩ hai người đàn bà,
một già một trẻ, cùng sắc sảo sẽ rất khó chấp nhận nhau. Vậy mà họ ăn ở với nhau đã mười lăm năm
chả có điều tiếng gì. Người chị của cô con dâu đến nói với bà cô tôi: “Bác chịu được tính nó thì con
cũng phục thật đấy”. Bà cải chính: “Đúng là tôi có phần phải chịu nó nhưng nó cũng có phần phải chịu
tôi, mỗi bên chịu một nửa”. Bà bảo, con dâu là vàng trời cho, mình không có công đẻ ra nó, cũng
không nuôi nó ăn học ngày nào, bỗng dưng nó về nhận mình là mẹ, sinh con đẻ cái cho dòng họ, cáng
đáng mọi việc từ trẻ đến già, không lễ sống nó thì thôi còn hoạnh họe nỗi gì. Bà chiều quý và tôn trọng
các con dâu thật lòng nên cả hai nàng dâu đều tâm sự với mẹ chồng: “Con ở với mẹ còn thoải mái hơn
ở nhà với mẹ con”. Con rể và con gái được nhận nhà ở một khu tập thể, nhà chật, lại xa, con còn nhỏ.
Nhưng anh con rể không muốn nhờ vả mẹ vợ, tự mình cũng thấy không tiện mà người ngoài nhìn vào
càng không tiện. Bà biết thế nên bảo con rể: “Trong cái nhà của tôi có một phòng dành cho vợ anh.
Của vợ anh tức là của anh. Cũng như mọi thứ của anh tức là của vợ anh. Chẳng lẽ anh bảo không
phải”. Năm ngoái khu phố có yêu cầu bà cụ báo cáo về nếp sống gia đình cho hàng phố học tập. Bà từ
chối, khi tôi lại thăm bà nói riêng: “Cái chuyện ấy ai cũng biết cả, chỉ khó học thôi”. Tôi cười: “Lại
khó đến thế sao?”. Bà cụ nói: “Trong nhà này, ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao. Anh
có học được không?” À, thế thì khó thật. Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không
phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người,
phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm mà
cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống, một quan niệm sống, là nếp nhà, ở trong tay mình nhưng nhận
được ra nó, có ý thức vun trồng nó lại hoàn toàn không dễ.
3.
Trở lại câu chuyện cũ, tại sao bà cụ không chịu bán nhà, chia tiền cho các con để họ lập cơ nghiệp
riêng? Lớn rồi thì phải ở riêng, nó thuận với sự phát triển. Con cái đã trưởng thành vẫn bắt ở chung ăn
chung như trại lính, đâu có phải là chuyện tính toán khôn ngoan. Bà cụ nghe tôi nói cười tít cả mắt, ra
cái vẻ mọi sự bà đã tính cả rồi, đâu có đợi một thằng nhà văn ngây ngô mách nước. Bà nói, hiện nay
các con bà vẫn thích đi làm cho nhà nước bằng cái nghề chuyên môn đã được đào tạo của mình. Ngoài
giờ đi làm thì bọn nó đọc sách, dạy con học, bù khú với bạn bè. Họ thích sống như thế và có điều kiện
để sống nhàn nhã như thế. Họ không có óc kinh doanh, không có nhu cầu phải kinh doanh. Không cần
đến tiền thì không nên một lúc cầm quá nhiều tiền. Đồng tiền do may mắn mà có, do thời thế đổi thay
mà có rất dễ là mầm mống của nhiều tai họa. Vì người có tiền chưa kịp học cách tôn trọng đồng tiền,
sai khiến đồng tiền. Ở cái nhà này, theo tôi biết, chưa bao giờ họ mua vé số. Cũng không thờ cúng ông
thần bà thánh nào, ngoại trừ ngày giỗ để anh em con cháu có dịp gặp gỡ nhau. Họ không cầu gặp may
mắn, không săn đón may mắn. Họ chỉ nhận những cái đáng nhận. Bà cụ vẫn đi lễ các chùa miếu đền
phủ với bạn bè nhưng bà không khấn. Bà cũng chưa từng xem tướng, xem bói, xin xăm. Ngày chú tôi
mất mọi việc hậu sự chỉ một mình cô tôi lo liệu, không hỏi han bất cứ ai, không xem giờ xem ngày gì
cả. Việc cưới xin của các con cũng thế. Đưa con gái đi, đón con dâu về tuyệt đối không có xem tháng
xem ngày. Trong một lần trò chuyện, bà hỏi tôi: “Anh có phân biệt được người giàu lương thiện và kẻ
giàu bất lương không?” - “Trong bao lâu?” - “Trong một lần tiếp xúc”. - “Thế thì khó!”. Bà bảo, bà
vẫn phân biệt được. Những đứa giàu lên do cướp đoạt, lừa đảo nói chuyện một lúc là biết. Bọn họ
khinh người rẻ của lắm. Họ không tin một ai cả, càng không tin còn có lòng tốt ở đời. Họ chỉ tin có
tiền. Tiền là quân của họ. Một đội quân giặc cướp, sẵn sàng tàn phá tất cả, tiêu diệt tất cả để đạt được
những cái đích phù phiếm của chủ nó. Bà nói, bà là người biết quý trọng đồng tiền từ trẻ tới già, nhưng
mấy năm gần đây bà lại sợ tiền. Nghe chuyện của thiên hạ mà sợ. Càng ít sờ mó tới tiền càng tốt. Nó
có độc đấy! Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của bạn bè đếm mãi tiền nhiễm
độc lúc nào không hay, sẽ không còn là bàn tay của người nữa. Vì lẽ đó mà bà chưa muốn bán nhà.
Các con bà cũng không ỷ eo, nài ép bà phải bán nhà. Thế là may. Nhưng cái may này còn kéo dài được
bao lâu? Bà vốn không tin vào sự may rủi. Bà chỉ tin vào sự chuẩn bị của mình, chuẩn bị trong cái khả
năng có thể, chứ liệu hết thế nào được những việc của chục năm sau.
4.
Bữa tôi sắp trở vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi có lại chào bà. Cũng như mọi lần tôi nói nửa vui
nửa buồn: “Mong cô khỏe mạnh mãi để mỗi lần ra, cô cháu mình có dịp bàn chuyện thế sự, văn
chương”. Bà cụ cười rất hồn nhiên: “Nếu được sống thêm mươi năm nữa thì vui lắm đấy. Nhưng mà
khó”. Vì biết là khó nên ngay từ năm ngoái bà đã làm chúc thư, phòng khi đột nhiên phải ra đi thì các
con đã có cẩm nang hành động. Làm chúc thư là khó lắm, sống làm sao chia của làm vậy. Chia khéo thì
trai gái dâu rể mãi mãi là con của mình, mãi mãi là anh em ruột thịt của nhau. Chia vụng thì xẻ đàn tan
nghé ngay tức khắc, càng đông con cháu càng lắm mối họa. Trước hết bà gặp riêng năm người con của
mình vào một buổi chiều, con dâu con rể không được tham dự. Nguyên tắc làm chúc thư của bà là
công khai và công bằng, không phân biệt trai gái, trưởng thứ. Tài sản chia làm sáu phần bằng nhau,
năm con năm phần, mẹ một phần. Phần của mẹ hoặc gửi ngân hàng, hoặc đem kinh doanh, tùy, số lãi
hàng năm lại chia làm sáu. Con trai đầu phải giữ việc hương khói được nhận hai phần. Bốn phần còn
lại sẽ bỏ vào một quỹ riêng để chi các việc: tu bổ nhà thờ, sửa sang phần mộ, góp giỗ tết với các chi
khác và cấp đỡ cho bà con nghèo của hai họ nội ngoại. Đồ gỗ và đồ sứ trong nhà thì cho hai con trai.
Đồ trang sức của mẹ thì cho ba con gái. Sau buổi họp bà cụ phân công cho con gái lớn viết lại chúc
thư làm sáu bản, viết tay không đánh máy, cả sáu người đều ký, mỗi người giữ một bản, có giá trị
trước pháp luật. Từ nay bán nhà hay cho thuê nhà bà cụ coi như không biết, đám thừa kế cứ theo
nguyên tắc chia sáu mà xử sự. Bà cụ nói xong, nhìn tôi một lúc lâu rồi bà cười rất ý nhị:
- Con người ta ai cũng có phần thiện phần ác. Muốn dưỡng thiện diệt ác thì trong nhà phải có gia
pháp, ngoài xã hội phải có luật pháp. Trong gia pháp có phần truyền thống và danh dự của dòng họ, có
phần đạo đức của người trên và nghĩa vụ của kẻ dưới. Gia pháp cũng phải theo thời mà điều chỉnh,
quá ngược với thời thế thì con cháu khó theo, quá xu mị thời thế thì bỏ mất gốc rễ. Theo chỗ tôi biết
gia pháp của nhiều danh gia vọng tộc ở Hà Nội đang gặp hồi khủng hoảng. Suốt mấy chục năm anh dạy
các con anh khinh miệt đồng tiền, lên án tư hữu và những người giàu có đều là phần tử bất hảo. Bây
giờ anh tính sao? Bây giờ các con anh đều lao vào kiếm tiền, đều nuôi mộng làm triệu phú tỷ phú trong
chớp mắt. Khốn một nỗi chúng lại chưa từng được ai dạy bảo cái cách ăn ở với đồng tiền. Đồng tiền
vừa là đày tớ vừa là ông chủ, vừa là bạn đường vừa là giặc cướp, các con anh biết chọn cách nào?
Chúng chỉ biết lựa chọn theo trực giác, theo kinh nghiệm tức thì, theo lợi ích trước mắt. Anh nghĩ xem,
đã đến thế thì con người và nền văn minh của con người đã bị chúng gạt khỏi mọi sự tính toán rồi.
5.
Mấy hôm trước trời ấm nhưng hơi nồm, chỗ nào cũng lép nhép nhầy nhụa đến khó chịu. Đêm như
có mưa, hơi nặng hạt thì phải, hạt mưa gõ trên mái ngói nghe rất rõ. Sáng ra tất cả đã ráo khô, mảnh
sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh. Cái lạnh của mùa xuân thật dịu dàng, thở rất dễ,
người rất nhẹ, mặc một cái áo len mỏng, khoác thêm một cái áo ngoài, đạp xe ra đường nhìn vào cái gì
cũng đẹp. Huống hồ bây giờ Hà Nội lại đang đẹp, mỗi ngày một đẹp ra, trẻ ra. Lắm lúc nghĩ cũng tiếc
đã trót đưa vợ con vào sống trong Sài Gòn. Tiếc thì tiếc chứ không thể làm lại được. Một chân đã
thõng vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa. Không còn cả thì giờ để ganh ghét,
để hờn giận. Chỉ còn đủ thời gian để làm lành, có thua thiệt vẫn cứ nên làm lành. Văn chương làm lành
cố nhiên là không hay rồi, thôi kệ, vì cũng chả còn hơi sức đâu gây sự, dầu chỉ là gây sự vặt.
Tôi đạp xe thong thả dọc đường Phan Đình Phùng bất chợt gặp một ông già khoảng tuổi tôi chạy bộ
buổi sáng từ đường Cổ Ngư về. Ông chạy bên kia đường, tôi đạp xe bên này đường, lại có một thằng
cha cưỡi xe Dream chạy chậm cùng chiều với tôi. Bỗng thấy hắn hét lên: “Chạy lộn đường rồi! Văn
Điển đi lối kia cụ ơi!”. Ông già đứng sững lại, thằng cha vừa hét quay mặt lại nhìn tôi nhăn răng cười.
Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy! Hàng hóa nhiều tất nhiên rác rưởi phải nhiều chứ nghèo quá,
đói quá lấy đâu ra rác.
Chúng tôi và bọn hắn
1.
Tôi và Phúc là bạn của nhau từ năm tôi mười bốn tuổi. Hai nhà sát cạnh nhau ở phố Résident
Miribel nay là phố Trần Nhân Tông, đi vài bước là ra phố Huế, nhìn sang bên kia đường là Chợ Hôm.
Nói là bạn cũng chưa hẳn đúng, anh hơi tôi hai tuổi, học trên hai lớp, tính cách phóng khoáng, mạnh
mẽ như một chàng trai đã trưởng thành. Mỗi lần gặp nhau ở cửa, anh mặc quần soọc trắng, áo sơ mi
cộc tay trắng, tóc cúp bốc, đi giầy thể thao, đứng dạng chân, hai tay thọc túi quần, hất hàm hỏi tôi
chuyện này chuyện kia, mày mày tao tao, ra dáng ông anh lắm. Tôi vốn là người tính cách mềm yếu, dễ
bị ngợp trước những người mạnh, tõn tẽn trả lời lúc xưng tôi, lúc xưng em. Cuối năm 44, đột nhiên
Phúc bỏ nhà ra đi. Vì sao mà đi và đi đâu thì không được biết. Bọn trẻ con trong phố nói thầm với
nhau cái tin đó một cách kính trọng và bí mật. Sau này mới biết Phúc đã là Việt Minh từ cái ngày ấy.
Rồi gia đình tôi dọn nhà lên phố Đỗ Hữu Vị, sau lại về Vân Hồ nên không biết tin tức gì về gia đình
Phúc nữa. Cuối năm 1949, tôi làm phóng viên cho báo Dân quân Hưng Yên bất chợt gặp Phúc ở Kim
Động. Anh ăn mặc giống hệt một cán bộ cấp đại đội hay tiểu đoàn tôi thường gặp, quần áo nâu, áo trấn
thủ mặc ngoài, đeo xà cột, túi áo cài bút Oerơvơ, tay đeo đồng hồ và sau đít cộm lên một khẩu súng
ngắn. Anh nói đã là chính trị viên đại đội đang trên đường lên Việt Bắc dự hội nghị bí thư chi bộ toàn
quốc. Năm 61 tôi lại gặp anh, cùng là cán bộ của Tổng cục Chính trị, cấp bậc như nhau, đại úy. Rồi
anh lại đưa vợ con về ở cùng một dãy nhà với tôi trong một khu tập thể của quân đội sát bờ sông
Hồng. Anh ở gian đầu, tôi ở gian giữa, sáng tối đều gặp nhau như xưa kia nhưng mối quan hệ đã bình
đẳng hơn. Phúc là người rất có tài nhưng cái tài của anh chưa đúng thời, có khi còn nghịch thời nên chỉ
được làm anh trợ lý quèn của một phòng vô danh. Nghĩ cũng tội nghiệp. Năm 65 anh được điều vào
chiến trường Trị Thiên. Năm 70, anh ốm quá nên lại được gọi ra Hà Nội, người chỉ còn da với xương,
nhăn nheo như ông già, hai tay chống hai gậy. Bà vợ bỏ cả việc làm để nuôi chồng lúc ở bệnh viện, lúc
ở nhà, mặt mũi sầu não, đi lại hớt hải. Mà lại nghèo quá. Chồng là thiếu tá quân đội, vợ làm ở xí
nghiệp may quốc phòng, lương chỉ đủ ăn chứ không đủ tiêu vì họ có những ba con đang ăn học. Lại ốm
đau, chồng ốm, vợ cũng hay ốm vì chị mắc bệnh suyễn. Vay hàng xóm từng bơ gạo, từng đồng bạc.
Nhìn chị vất vả lắm lúc tôi cũng ngượng. Tôi thì hầu như không đi đâu xa và cũng không đi dài ngày.
Đi xa nhất là Vĩnh Linh, ở lâu nhất là một tháng. Viết bài cho các báo thì có tiền nhuận bút. Vài năm
lại được một chuyến đi nước ngoài. Đã thế quân hàm mỗi cấp tôi cũng đều được phong trước anh. Có
thể cách sống của tôi hợp với thời thế hơn anh. Tôi khuôn mình vào cái trật tự chung vừa vặn, lại có
phần thoải mái. Còn anh? Con người anh, cách nghĩ của anh, lối sống của anh hình như hơi rộng hơn
cái mẫu đã được quy định thì phải. Cứ sục sặc thế nào ấy. Cứ ngang ngang thế nào ấy. Cứ như người bị
ngạt. Có lần đứng với nhau ở vườn ngoài, anh nói một chuyện gì đó, một chuyện không nên nói to, cũng
không nên đứng nói ở ngoài đường, tôi đưa mắt nhìn xung quanh theo thói quen rồi bảo nhỏ: “Ông nói
be bé chứ”. Anh nhìn tôi với cái vẻ khinh miệt rồi cười khẩy: “Nhà văn chó gì mà nhát thế! Đã nhát thì
không nên cầm bút nữa!”. Ờ, mình cũng hèn thật nhưng cái hèn đã ngấm vào máu rồi, làm sao mà sửa.
2.
Vợ Phúc là con gái Hà Nội, con một gia đình công chức nhỏ. Khi bộ đội tiến vào giải phóng thủ
đô, chị cùng các bạn gái xô nhau ra đường vẫy cờ vẫy hoa, hoan hô những người chiến thắng vừa đẹp
vừa hùng như trong các truyện cổ tích bước ra. Rồi chị gặp chàng Phúc của tôi, anh đang ở tuổi 25, là
hoàng tử của nhiều cô gái dậy thì vào cái thời ấy. Họ quen nhau, yêu nhau được nửa năm thì cưới nhau.
Ngày ấy chị đã nghĩ, được lấy Phúc là may mắn lớn nhất của đời chị. Chứ ai ngờ chị sẽ phải chịu bao
nhiêu cay đắng với ông hoàng tử đời thường suốt mấy chục năm sau. Phúc sinh ra là để hoạt động xã
hội, xã hội không dùng anh thành kẻ bất đắc chí. Chưa bao giờ anh là người của gia đình, anh gắn vào
nó một cách hờ hững, gắng gượng. Anh thích ăn ngon, lại thích mời bạn bè đến nhà ăn những bữa cơm
rất ngon, khổ cho người vợ lắm nhưng chị vẫn cố xoay xở được. Khốn nỗi, ông anh tôi còn thích cả bồ
bịch nữa, cái tật ấy từ trẻ đến già vẫn chưa sửa được. Thời ấy còn ăn gạo sổ, mỗi lần chỉ lĩnh được
dăm cân, mười cân, xếp hàng mất cả buổi, thiếu gạo thì phải mua chợ đen, tiền đâu mà dám ăn gạo chợ
đen. Suất gạo của Phúc được mua đủ một lần ở bếp quân đội nhưng anh không đưa về nhà mà lại đưa
đến nhà người tình. Hình như người tình của anh cũng đông con. Con trai anh nhìn thấy và nói lại với
tôi. Nó rất buồn, tôi cũng buồn, vợ anh chỉ còn biết khóc thầm khóc lén. Chị là con nhà gia giáo, được
giáo dục theo kiểu cổ, chồng phụ chỉ biết khóc chứ không dám đến cơ quan chồng tố cáo, kiện tụng.
Chị thì một ngày một gầy yếu vì bệnh suyễn, vì hầu hạ con cái, vì lo tiền. Còn ông chồng càng già càng
to lớn, dềnh dàng, khỏe khoắn về đủ mọi phương diện. Hai nhà ở cùng một dãy, thỉnh thoảng đi qua đi
lại, chưa lúc nào tôi thấy chị ngơi tay. Làm ở xí nghiệp may về nhà có máy khâu, để có thêm chút ít
tiền cho các con ăn học. Năm con gái lớn sinh đứa con đầu nhưng đẻ khó, phải mổ rồi băng huyết, cứu
được con, con trai, nhưng người mẹ gần như đã rơi vào tình trạng hấp hối. Chị ôm lấy đứa con gái bất
hạnh, gào lên: “Trời ơi, người ta thì được cháu còn tôi thì mất con!” Trong ba tháng chị giành giật lại
con trong tay thần chết bằng quyết tâm sắt đá của mình. Chị không nghe thấy gì, không nhìn thấy gì,
không còn biết gì, chỉ gầm gào có một câu: “Mẹ sẽ cứu con! Nhất định mẹ sẽ cứu được con!”. Chị bán
hết những gì có thể bán được, bỏ việc làm, thức cả ngày và cả đêm, quên ăn quên uống, người khô đét,
mắt ngầu đỏ, môi trắng lợt, ngón tay dài ra như móng vuốt để níu giữ bằng được con gái lại. Và chị đã
thắng. Rồi chị nghỉ hưu để hầu hạ một ông chồng lúc hiện lúc biến như một ông khách và ba con, một
rể, thêm một cháu ngoại được mấy tháng tuổi. Cuộc sống ổn định dần, các con đều có việc làm, cháu
ngoài đã đi mẫu giáo. Tất cả đều béo tốt, khỏe mạnh nhưng bà mẹ kiêm vú già, kiêm vú em thì không
còn ra hồn người, đi lại lêu nghêu mà vẫn cười rất tươi, lại còn hãnh diện nữa, nhân một lần chị gặp
tôi: “Độ này nhàn lắm rồi ông ạ, bây giờ chúng nó đã nuôi được tôi rồi”. Tôi nghe chị nói mà muốn ứa
nước mắt. Chị là vàng mười, là kim cương, là báu vật, là sự may mắn lớn nhất mà chồng con chị đã có
được ở cõi đời này. Các con thì biết, tôi nghĩ thế, nhưng anh Phúc của tôi liệu có biết không? Nghe nói
vẫn có bồ. Ông đã ngoài sáu mươi thì tình nhân của ông là 50 hay 20. Chịu!
Ra Hà Nội lần này tôi khao khát được gặp Lộc, con trai của anh chị, nghe nói đã là giám đốc một
xí nghiệp của một Bộ trong chính phủ. Vợ chồng nó có nhà riêng, có điện thoại riêng. Nhưng quay số
gọi mãi không thấy ai trả lời, lại gọi đến nhà thằng rể út là thư ký tòa soạn một tờ báo ở Hà Nội để hỏi
tin tức. Người bốc máy lại chính là chị Phúc. Tôi ngạc nhiên: “Nghe nói bà đến ở với vợ chồng thằng
Lộc kia mà?”. Chị cười: “Từ lúc vợ nó đẻ là tôi đã xin đến bế con cho chúng nó ngay nhưng tôi mới
bị bà chủ đuổi việc”. - “Là thế nào?” Chị vẫn cười: “Là bị đuổi chứ còn thế nào”. - “Chắc mẹ chồng
lắm lời quá?” - “Không ạ, tôi biết phận tôi lắm ạ, bảo gì làm nấy, trung thành, tận tụi, tuyệt đối không
cãi một lời mà vẫn bị vợ nó ghét. Trông con nó đã được gần một năm bỗng dưng một hôm nó thuê đâu
một con bé đem về, bảo bà đưa cháu cho con bé kia bế, rồi tự nó đi làm cơm, cho bà ngồi chơi, hỏi
không nói, gọi không thưa, thành thử tôi biến thành cái hồn ma trong nhà, ông bảo không đi thì còn biết
làm gì”. Lại cười nhưng giọng cười lòe nhòe như có nước mắt. Tội nghiệp chị, tội nghiệp cô gái Hà
Nội, tội nghiệp cho người vợ một anh bộ đội, bà mẹ của mấy đứa con một thời nghĩ lại vẫn còn kinh.
Chị lại nói: “Bữa nọ tôi về ngủ với thằng cháu ngoại, nó lên mười rồi, học lớp bốn rồi, mà khôn lắm.
Nó bảo: “Cậu ấy đuổi bà thì bà về cháu nuôi”. Tôi lại hỏi: “Thằng Lộc nói sao?” Chị ngập ngừng một
lát rồi nói: “Nó chả bảo sao cả”. Bây giờ chị lại có việc làm rồi. Đứa con gái út sắp đẻ, chồng nó liền
mời bà mẹ vợ đang thất nghiệp tới trông nom giùm. Cũng mới được vài ngày nay. Hỡi ôi!…
3.
Cứ nhìn vào con mình và con cái của bạn bè là biết ngay thời thế đã thay đổi. Chúng là những nhân
vật chính của một vận hội mới, một thời buổi mới, thời mở cửa, thời làm giàu, làm giàu cho mình và
làm giàu cho nước, cái sự riêng chung này ly kỳ lắm, còn phải nói nhiều. Là thời mà các giá trị cũ đã
mất tính tuyệt đối. Còn những giá trị mới thì lòe nhòe, bảo là phải cũng được, bảo là trái cũng được.
Nó là những giá trị của buổi giao thời. Nghĩa là còn phải gạn lọc chán những giá trị ấy mới trở thành
giá trị thật để chấn hưng một dân tộc. Cuộc sống sẽ chọn lọc, sự phát triển sẽ chọn lọc, nên nó sẽ lâu,
không thể sốt ruột. Mọi sự nóng vội từ trước đến nay nói chung là hỏng cả. Ví dụ, con một ông anh tôi
là giám đốc một công ty liên doanh của nhà nước. Nhưng đó chỉ là một vế hay chỉ là một tay, tay phải.
Còn tay trái nó cũng ôm một công ty riêng, vốn của nó, gọi là công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ tổng
hợp. Gọi tắt là công ty Divutôhô. Bố nó đã tám mươi tuổi, vốn là một viên chức của nhà nước, đã nghỉ
hưu từ hai chục năm nay, làm chủ tịch hội đồng quản trị, còn em ruột nó làm giám đốc. Ông chủ lớn là
nó thì ngồi phía sau điều hành. Nó buôn một phần còn một phần thì cho mượn bảng hiệu để người khác
buôn. Thượng vàng hạ cám nó buôn tất. Nó nói với tôi, đã đội cái mũ ấy cứ tha hồ mà múa. Cái sự
múa của nó thì rùng rợn lắm, còn hơn cả truyện trinh thám. Bảo là phải ư? Hình như là không phải, lắm
trò ma quỷ quá. Bảo là trái ư? Cũng chưa hẳn, nó nộp thuế đầy đủ, buôn bán lương thiện, đúng pháp
luật hiện hành. Thế thì là gì? Chịu! Nó chỉ là một cách làm ăn của lúc giao thời. Tôi đến chơi nhà một
người bạn, anh chị đã ngót nghét bảy mươi nên coi tôi như em. Mỗi lần đến thăm anh chị đều giữ lại
ăn cơm, gặp đúng bữa chỉ thêm bát thêm đũa là đủ. Người nhà mà. Lần này tôi đến vào lúc 10 giờ
sáng. Ngồi đến 10 giờ 30 chả thấy ông bà bảo sao. Tôi đã tính cứ ngồi gan cho đến 11 giờ xem họ có
mời cơm mình không nào. Không phải vì bữa cơm, cơm bụi Hà Nội rẻ lắm, ăn phè phỡn cũng chỉ hết
dăm nghìn, mà tự do. Chỉ là muốn gây khó chơi, xem họ phản ứng thế nào, vì sao mà thay đổi. Mà tội
lắm, ông liếc mắt nhìn bà, bà cúi mặt đưa mắt nhìn tôi, rồi lại nhìn chồng, như người có lỗi. Tôi nhìn
họ thích thú một cách độc ác, có chuyện rồi, chỉ chưa hiểu nó là chuyện gì. Đúng 11 giờ, nghe có tiếng
còi xe hơi ngoài cổng, bà vợ chạy vội ra. Một lát sau ông con trai lớn của họ, bạn vong niên của tôi,
nhon nhón bước vào, comlê đen sọc, cavát, kính màu, chân râu xanh mướt như một thương nhân ngoại
quốc. Nó chào tôi rồi bảo ngay: “Chú ở đây dùng cơm với bố mẹ cháu. Có rượu rất ngon. À, mà chú
đâu có biết uống rượu”. Lúc ấy cả hai ông bà già mới dám mời tôi ở lại. Trong lúc ăn, với người thân
tình tôi hay nói sỗ nên vừa cười vừa bảo: “Khi nãy tao thấy thương hại bố mẹ mày quá”. - “Sao vậy?”
- “Ông bà muốn mời tao ăn cơm nhưng vì chưa có lệnh của mày nên chưa dám mời. Tao cứ ngồi gan
trêu hai cụ chơi”. Bà mẹ cười gượng: “Chú cứ nói quá, làm gì đến thế”. Nó cũng cười: “Mấy ông nhà
văn cũng đểu thật”. Rồi nó nói ngay: “Đúng là cháu không muốn bố mẹ cháu mời bất chợt bạn của các
cụ cùng ăn với gia đình. Muốn mời phải báo trước để cháu còn tránh”. Tôi hỏi: “Anh không thích nói
chuyện với bọn tôi à?”. Nó nhè miếng xương, nhăn mặt: “Toàn chuyện ông này ra ông kia vào, ông này
lên ông kia xuống, chuyện của các cơ quan quyền lực dính líu gì đến bọn cháu”. - “Quyền lực vẫn chỉ
huy kinh tế đấy anh ạ”. Nó cười: “Danh nghĩa là thế, còn thực chất vẫn là tiền chỉ huy. Đồng tiền lớn
chỉ huy đồng tiền bé”. Nó uống một ngụm rượu, vè mắt đã rần rần đỏ: “Chúng cháu chỉ có một ông chủ
thôi, đó là thị trường, mà quy luật của thị trường thì bất biến nên dễ ứng xử lắm”. Rồi nó hỏi, giọng xỏ
xiên: “Ông chủ của chú là ai?” Tôi nói cũng hơi huênh hoang: “Tôi cũng chỉ có một ông chủ như anh,
đó là bạn đọc”. Nó cười rất đểu, trong hai chúng tôi nó mới là thằng đểu: “Bạn đọc bây giờ đâu có
thích văn của chú nữa. Toàn là né, nói gì thì nói vẫn cứ là một cách né. Chú được tiếng là khôn, nhưng
cái khôn của chú chỉ có lợi cho một mình chú chứ lợi gì cho dân cho nước, có phải không?”. Vâng, nó
nói đúng thế, tôi là một nhà văn, kể ra cũng có chút ít tên tuổi, một tí chút thôi, mà vẫn bị bọn trẻ ranh
mắng vặt. Nó mắng cũng chả oan lắm đâu.
4.
Tôi biết Lộc, thằng con trai duy nhất của anh chị Phúc từ nhỏ, từ lúc nó được mấy tháng khi bố mẹ
nó ẵm về ở cùng một khu tập thể. Từ nhỏ tới lớn nó sống ra sao, học ra sao tôi cũng chả chú ý. Vì nó
không thuộc loại phá. Nghịch ngầm chắc là có. Nên bạn nó mới đặt tên là Lộc cáo. Bố như thế, mẹ như
thế, gia cảnh như thế mà Lộc vẫn học được hết trung học phổ thông, mỗi năm một lớp kể cũng là ngoan
lắm. Nhưng thi vào đại học Xây dựng thì cậu trượt. Rồi hắn đi bộ đội mấy năm. Hết nghĩa vụ quân sự
Lộc thi vào đại học Ngân hàng đang còn là trường hèn mọn lúc bấy giờ, đỗ thủ khoa. Tốt nghiệp đại
học năm 82, nhà trường điều Lộc vào Đắc Lắc nhưng hắn không đi, quyết chí ở lại Hà Nội, không bằng
cấp, không hồ sơ, dấn mình vào cuộc phiêu lưu mới để cứu gỡ tình trạng cùng quẫn của gia đình.
Không việc gì không làm, tất nhiên là những việc làm lương thiện, không phân biệt việc sang hay hèn
cho tới năm 84 mới xin được vào làm nhân viên Phòng Kế toán Tài vụ của một xí nghiệp nhà nước.
Năm 88 vào biên chế chính thức và được đề bạt ngay làm phó phòng. Năm 89 là trưởng phòng. Cuối
năm 89, tôi ra Hà Nội họp được Lộc mời về nhà riêng của hắn ăn cơm và ngủ lại một đêm. Nhà của xí
nghiệp cấp trong một cao ốc tập thể, ba buồng, đã có sửa chữa lại, trang bị lại, là nhà ở của những
năm 90, khác xa với căn nhà đầu tiên của chúng tôi được quân đội cấp. Xưa kia đâu phải là nhà, là
chuồng trại thì đúng hơn, bếp tập thể, vệ sinh tập thể, giặt giũ cũng tập thể. Tôi hỏi Lộc: “Tài năng của
anh ra sao mà được lên chức vùn vụt thế?” Hắn cười mủm mỉm, vốn cũng là người ít nói, chỉ hay cười
mỉm thôi: “Cũng chẳng có tài cán gì đặc biệt, chỉ là thay đổi lại cách làm. Làm kế toán phải trùm lên
mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của một doanh nghiệp chứ kế toán không phải là thằng đầy tớ, là
anh cộng sổ. Bắt đầu từ đấy…” Từ đấy phòng kế toán tài vụ là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xử lý
đồng vốn, quyết định mọi vấn đề tài chính của xí nghiệp, tháo gỡ mọi khó khăn về tài chính để phục vụ
sản xuất, kinh doanh. Nó chính là ông chủ thật sự. Năm 91, Lộc được đề bạt làm phó giám đốc phụ
trách kinh doanh. Tháng 1 năm 92, làm quyền giám đốc vì giám đốc cũ phải nghỉ hưu. Tháng 3 năm 92
xí nghiệp họp bầu tín nhiệm một giám đốc có tài cầm cương, nâng xí nghiệp lên cho kịp với sự phát
triển vũ bão của nền kinh tế thị trường. Có ba ứng cử viên đều là phó giám đốc, hai cũ, một mới. Lộc
trúng cử với số phiếu áp đảo, có một trăm phiếu hắn được 95 phiếu, 5 phiếu còn lại chia cho hai
người kia. Những chuyện vui đó tôi đều có biết, nghe bạn hắn kể lại. Tôi cũng vui, nhưng vẫn chưa hết
ngạc nhiên. Cái thằng nhóc ấy, cái thằng tôi ẵm bế nó từ thuở mới có mấy tháng lại ghê gớm đến thế à?
Nó được đào tạo từ bao giờ, hả? Bố Phúc nó chưa dễ đã làm được huống chi nó. Còn nó… thì nó đã
làm rồi đấy. Cái xí nghiệp của nó đã có tiếng tăm rồi đấy. Chẳng gì nó cũng là một ông tỷ phú, tỷ phú
nhà nước thôi, của cái thời bây giờ.
Ra Hà Nội là tôi gọi điện gặp Lộc ngay. Hắn hẹn sẽ đón tôi tại tạp chí Văn nghệ quân đội là nơi tôi
đang ở nhờ. Tôi hỏi: “Đi bằng gì thế?” Hắn cười khẽ: “Tất nhiên là bằng xe hơi của cháu”. Hắn mặc
một cái áo len xám mỏng cổ rộng, thắt cavát và đi đôi giầy da cực đắt. Xe hơi Đài L...
 





