Bài giảng online: Tôi đi học

Tài nguyên thư viện

Ôn thi ôn lớp 10 THPT

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát: Bài ca thư viện

    Ảnh ngẫu nhiên

    C1.jpg B3.jpg C1.jpg QC.jpg He_tieu_hoa_o_nguoi_1.png So_do_mach_dien_cam_bien_nhiet_do_1.jpg Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat_2.png

    Sách điện tử sách Bác Hồ

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NINH SƠN - NINH BÌNH💕💕

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Hai vạn dặm dưới đáy biển

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
    Ngày gửi: 23h:12' 03-12-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    HAI VẠN DẶM DƯỚI BIỂN
    Jules Verne
    www.dtv-ebook.com
    Chương 1
    Năm 1866 được đánh dấu bằng một sự kiện kỳ lạ, một hiện tượng
    không được giải thích và không thể giải thích nổi mà chắc chưa ai quên.
    Những lời đồn đại về hiện tượng bí hiểm đó chẳng những làm nhân dân
    các thành phố cảng và các lục địa xôn xao, mà còn gây hoang mang lớn
    trong đám thủy thủ. Cánh lái buôn, chủ tàu, thuyền trưởng ở châu Œu và
    châu Mỹ, các sĩ quan hải quân các nước, và sau đó nhiều chính phủ ở cả
    hai châu đều hết sức lo lắng về sự kiện này. Số là thời gian gần đây,
    nhiều tàu buôn đi biển thường gặp một vật hình thoi dài đôi khi sáng lấp
    lánh, vượt xa cá voi về kích thước và tốc độ di chuyển. Những lời ghi
    trong nhật ký của các con tàu đó giống nhau một cách lạ lùng về sự miêu
    tả hình dáng bên ngoài, về tốc độ ghê gớm và sức mạnh của vật đó, cũng
    như về thái độ đặc biệt của nó. Nếu đó là một loại cá voi thì theo sự miêu
    tả, nó lớn hơn tất cả những con cá voi đã được khoa học biết đến. Không
    một nhà khoa học nào có thể tin được hiện tượng kỳ lạ này nếu không
    được nhìn thấy nó tận mắt. Nếu bỏ qua những sự đánh giá quá dè dặt cho
    rằng con quái vật không dài quá sáu mươi mét và gạt đi những lời thổi
    phồng quá đáng miêu tả nó như một con vật khổng lồ rộng một hải lý,
    dài ba hải lý, thì ta vẫn phải thừa nhận rằng quái vật, nếu có thật, nhất
    định vượt quá những kích thước đã được các nhà động vật học ghi nhận.
    Con người vốn cả tin những điều huyền hoặc, nên ta cũng dễ hiểu rằng
    hiện tượng kỳ lạ này đã làm họ xao xuyến thế nào. Một số người đã tìm
    cách xếp tất cả các câu chuyện đó vào một loại bịa đặt hão huyền, nhưng
    vô ích! Con vật kia vẫn tồn tại, điều đó không còn nghi ngờ gì nữa. Ngày
    20 tháng 7 năm 1866, chiếc tàu Ga-vớc-nơ Hi-ghin-xơn của công ty tàu
    biển Can-cút-ta-en Béc-nắc đã gặp một vật nổi khổng lồ cách bờ biển
    phía đông úc năm hải lý. Thoạt tiên, thuyền trưởng Bê-cơ đinh ninh rằng
    mình phát hiện ra một dải đá ngầm chưa được ghi trên bản đồ. ạng ta vừa

    bắt đầu xác định tọa độ của dải đá, thì từ trong lòng cái khối màu đen ấy
    bỗng vọt lên hai cột nước cao hơn bốn mươi mét. Vì sao vậy? Đó là một
    dải đá mạch nước ngầm? Hay đó chỉ là một động vật có vú sống dưới
    biển phun không khí từ mũi ra làm vọt lên những luồng nước?
    N
    Ngày 23 tháng 7 năm đó, tàu Cri-xtô-ban Cô-lôn của Công ty tàu biển
    Đông ấn lại thấy hiện tượng này ở vùng biển Thái Bình Dương. Xưa nay
    đâu có chuyện cá voi bơi với tốc độ lạ thường như vậy? Chỉ trong ba
    ngày mà hai chiếc tàu gặp nó ở hai điểm cách nhau trên bảy trăm dặm.
    Mười lăm ngày sau, cách nơi nói trên hai ngàn dặm, tàu Hen-vê-xi-a của
    Công ty tàu biển Quốc gia và tàu Sa-nơn của Công ty Roi-ơn Mây-lơ
    trên đường đi giữa châu Mỹ và châu Œu gặp nhau ở Đại Tây Dương, đã
    phát hiện ra quái vật ở 42, 15 độ vĩ bắc và 60, 35 độ kinh về phía tây
    kinh tuyến Grin-uýt. Hai tàu cũng quan sát và xác định được bằng mắt,
    là con vật có vú, dài ít nhất hơn một trăm mét. Họ xác định được như vậy
    là vì hai tàu đều nhỏ hơn con vật, mặc dù cả hai đều dài một trăm mét.
    Giống cá voi khổng lồ ở vùng đảo A-lê-út cũng không thể dài quá năm
    mươi mét. Những tin tức này dồn dập bay về, những thông báo mới của
    tàu Pê-rê vượt Đại Tây Dương, cuộc chạm trán giữa quái vật với tàu étna, biên bản của các sĩ quan trên chiếc tàu chiến Pháp Noóc-măng-đi và
    bản báo cáo tỉ mỉ của Phít-xơ Giêm-xơ, thuyền trưởng tàu Lo Clai-đơ tất cả những cái đó đã làm náo động dư luận. ở những nước hay suy nghĩ
    hồ đồ thì hiện tượng kỳ lạ này là đề tài vô tận cho những chuyện bông
    đùa, nhưng những nước chín chắn hơn và có đầu óc thực tế như Anh,
    Mỹ, Đức thì hết sức quan tâm đến chuyện này. ở thủ đô các nước, con
    quái vật đã trở thành "mốt": người ta hát về nó trong các tiệm cà phê,
    nhạo báng nó trên báo chí, đưa nó lên sân khấu. Vớ được dịp may hiếm
    có, mấy tờ lá cải tha hồ tung tin vịt. Họ dựng lên đủ loại quái vật hoang
    đường, từ con cá voi trắng khủng khiếp ở các nước vùng Bắc cực đến
    những con bạch tuộc gớm ghiếc có thể dùng vòi cuốn cả tàu chở nặng
    năm trăm tấn dìm xuống đáy biển. Trong các hội nghiên cứu và các tạp
    chí khoa học nổi lên một cuộc tranh luận ồn ào không dứt giữa những
    người tin và không tin.

    Các nhà báo, những người yêu khoa học trong cuộc tranh cãi với đối
    phương, đã phải đổ biết bao nhiêu mực thậm chí một số đã đổ cả máu vì
    cuộc đấu khẩu về con rắn biển đó dẫn tới những trận đấu chân đấu tay
    thực sự! Cuộc "chiến tranh" này đã kéo dài suốt sáu tháng ròng không
    phân thắng bại... Mấy tháng đầu năm 1867, câu chuyện quái vật hình
    như đã bị chôn vùi và chẳng cần gợi lại làm gì. Nhưng những sự kiện
    mới lại lan truyền trong công chúng. Bây giờ không còn là chuyện giải
    quyết một vấn đề khoa học thú vị nữa, mà là một nguy cơ nghiêm trọng.
    Quái vật đó đã biến thành một hòn đảo, một dải đá ngầm di động, bí
    hiểm, không thể bắt được! Mùng năm tháng ba năm 1867, tàu Mô-ra-vian của Công ty tàu biển Mông-rê-an đang chạy nhanh ở 27, 30 độ vĩ và
    72, 15 độ kinh bỗng đâm phải một dải đá ngầm không thấy ghi trên một
    bản đồ hoa tiêu nào. Nhờ gió thuận và động cơ mạnh bốn trăm sức ngựa,
    chiếc tàu chạy với tốc độ mười ba hải lý một giờ. Tàu đâm mạnh đến nỗi
    nếu vỏ tàu không thật vững vàng thì nhất định sẽ bị đắm cùng với hai
    trăm ba mươi bảy thủy thủ và hành khách từ Ca-na-đa về. Cuộc va chạm
    xảy ra lúc rạng đông, khoảng năm giờ sáng. Các sĩ quan trực nhật lao tới
    mũi tàu. Họ xem xét rất kỹ mặt biển, nhưng chẳng thấy gì đáng nghi
    ngờ, ngoài một đợt sóng to nổi lên cách đó hơn nửa ki-lô-mét. Xác định
    tọa độ xong, tàu Mô-ra-vi-an lại tiếp tục hành trình mà không thấy chỗ
    nào bị hư hại. Nó đã va phải cái gì vậy? Một dải đá ngầm hay xác một
    chiếc tàu bị đắm? Chẳng ai biết cả. Nhưng sau đó, khi xem xét phần dưới
    của tàu ở xưởng sửa chữa, người ta thấy một bộ phận của lòng tàu bị hư
    hại. Sự kiện nghiêm trọng này chắc cũng có thể bị lãng quên nhanh
    chóng như nhiều sự kiện khác tương tự, nếu ba tuần sau đó nó không
    được lặp lại trong những điều kiện y hệt. Và cũng do chiếc tàu mang cờ
    một cường quốc và thuộc một công ty hàng hải nên tin xảy ra tai nạn
    được truyền đi rất rộng...
    Ngày 13 tháng 4 năm 1867, tàu Xcốt-len cũng thuộc công ty nói trên
    đang ở 15, 37 độ kinh và 45, 37 độ vĩ. Biển lặng, gió nhẹ. Nhờ động cơ
    rất mạnh, tàu chạy hơn mười ba hải lý một giờ. Guồng bánh quay đều
    trong sóng biển. Bốn giờ mười bảy phút chiều, khi hành khách đang ăn
    trong phòng ăn thì thân tàu bỗng rung lên vì va nhẹ vào một vật gì đó ở
    phía lái, sau guồng bên trái một chút. Xét tính chất của va chạm, có thể

    đoán là tàu vừa bị một vật nhọn đâm vào. Nhưng có lẽ cũng chẳng ai chú
    ý tới sự việc đó nhiều, nếu thợ đốt lò không chạy lên boong và kêu ầm
    lên:
    -Hầm tàu bị thủng! Hầm tàu bị thủng! Trong giây phút đầu, hành
    khách hoang mang nhốn nháo, nhưng thuyền trưởng An-đớc-xơn đã làm
    họ bình tĩnh lại. Thực ra tàu không bị đe dọa gì. Vì nó được chia thành
    bảy ngăn riêng biệt không thấm nước, nên một chỗ rò rỉ nhỏ chẳng đáng
    sợ. An-đớc-xơn lập tức xuống hầm tàu. ạng ta thấy ngăn số năm bị ngập
    nước. Căn cứ vào tốc độ nước ùa vào, thì lỗ thủng ở thân tàu khá to.
    Cũng may là ở ngăn này không có nồi hơi, nếu có thì đã bị tắt ngấm. Anđớc-xơn ra lệnh tắt máy và cử một thuỷ thủ lặn xuống nước xem xét chỗ
    thủng. Mấy phút sau xác định được rằng phần dưới thân tàu có một lỗ
    thủng rộng hai mét. Vì không có khả năng bịt kín chỗ đó nên tàu Xcốtlen phải tiếp tục hành trình, để guồng bánh xe ngập một nửa xuống nước.
    Tai nạn xảy ra cách mũi Cle ba trăm hải lý. Thế là tàu Xcốt-len cập bến
    Li-vớc-pun chậm mất ba ngày, làm mọi người hết sức lo lắng. Tàu được
    đưa vào xưởng sửa chữa để các kỹ sư xem xét. Họ không tin ở mắt mình
    nữa! ở thân tàu, dưới mặt nước hai mét rưỡi, có một lỗ thủng hình tam
    giác cân. Ba cạnh của lỗ thủng rất nhẵn, tựa như bị kéo cắt. Rõ ràng là
    vật chọc thủng thân tàu phải có độ rắn rất cao. Hơn nữa sau khi xuyên
    qua lá thép dày bốn cen-ti-mét, nó tự rút ra được. Sự việc đó không ai
    giải thích nổi!
    Từ ngày đó, tất cả những tai nạn ngoài biển mà không có nguyên
    nhân đều quy cả cho quái vật. Nó phải chịu trách nhiệm về nhiều vụ đắm
    tàu. Đáng tiếc rằng số tàu bị đắm khá lớn và ít nhất có hai trăm trong số
    tàu đắm được coi là "mất tích". Dù sao thì cũng do quái vật mà giao
    thông giữa các lục địa ngày càng nguy hiểm. Dư luận tha thiết yêu cầu
    phải trừ khử quái vật đó bằng bất kỳ giá nào.

    HAI VẠN DẶM DƯỚI BIỂN
    Jules Verne
    www.dtv-ebook.com

    Chương 2
    Tán Thành Và Phản Đối
    Khi xảy ra những việc vừa kể trên thì tôi đã hoàn thành công việc
    nghiên cứu ở bang Nê-brát-xca (bắc Mỹ) và đang quay về. Chính phủ
    Pháp cử tôi vào đoàn nghiên cứu khoa học với tư cách là phó giáo sư của
    Viện bảo tàng lịch sử tự nhiên Pa-ri. Sau khi đã đi khắp miền Nê-brátxca trong sáu tháng và thu thập được những bộ hiện vật hết sức quý giá,
    cuối tháng ba tôi về tới Niu I-ooc. Tôi dự định sẽ lên đường về Pháp vào
    đầu tháng năm. Vì vậy, mấy ngày rỗi rãi còn lại trước khi xuống tàu, tôi
    dành để xếp loại những bộ sưu tập về khoáng vật, thực vật và động vật
    của tôi. Chính lúc đó tàu Xcốt-len gặp nạn. Tất nhiên tôi theo dõi sát mọi
    việc đã làm dư luận xôn xao. Tôi đã đọc đi đọc lại tất cả những báo chí
    châu Mỹ và Châu Œu, nhưng những cái đó cũng chẳng soi sáng gì thêm
    cho vấn đề đang làm mọi người thắc mắc. Câu chuyện bí hiểm đã kích
    thích tính tò mò của tôi...
    K
    Tôi tới Niu I-ooc đúng lúc đang nổi lên những cuộc tranh cãi gay gắt
    xung quanh câu chuyện này. Những giả thiết về hòn đảo di động, về dải
    đá ngầm do những người ít thẩm quyền đề ra, đã bị vứt bỏ hoàn toàn.
    Thật vậy "dải đá ngầm" sao có thể di chuyển với tốc độ như vậy nếu nó
    không có máy móc cực mạnh? Giả thiết cho rằng đó là xác một chiếc tàu
    khổng lồ bị đắm trôi đi với tốc độ ghê gớm như vậy cũng bị gạt bỏ. Còn
    lại hai giả thiết có người ủng hộ: một số người cho rằng mọi sự bất hạnh
    đều do một con vật khổng lồ gây ra; một số khác thì cho rằng đó là một
    chiếc tàu ngầm có động cơ cực mạnh. Giả thiết cuối cùng đó có vẻ gần
    sự thật hơn cả, nhưng lại bị bác bỏ sau những cuộc điều tra ở cả hai bán
    cầu. Khó có thể tin rằng một tư nhân nào lại có được một chiếc tàu như

    vậy. Nó đã được đóng bao giờ và ở đâu? Và việc đóng một chiếc tàu
    khổng lồ như vậy làm sao có thể giữ kín được? Chỉ nhà nước mới có thể
    chế tạo ra những loại máy có sức phá hoại ghê gớm như vậy. ở thời đại
    chúng ta, khi trí tuệ con người rất thành thạo trong việc sáng chế ra
    những công cụ giết người thì cũng dễ tin được rằng có một nước nào đó
    đã bí mật chế tạo và đem thử chiếc tàu khủng khiếp này. Nhưng cuối
    cùng giả thiết về một chiếc tàu ngầm quân sự đã đổ sụp, vì tất cả các
    chính phủ đều tuyên bố là không dính dáng gì đến chuyện này. Không
    thể nghi ngờ được sự thành thật của những bản tuyên bố đó, vì các
    đường biển quốc tế đều bị đe dọa. Hơn nữa, việc đóng một chiếc tàu
    ngầm khổng lồ như vậy không thể thoát khỏi sự chú ý của dư luận. Giữ
    bí mật trong những điều kiện như vậy đối với tư nhân đã hết sức khó,
    còn đối với từng nước là điều không tưởng vì mỗi hành động của họ đều
    bị các cường quốc đối địch theo dõi gắt gao. Thế là sau khi điều tra ở các
    nước Anh, Pháp, Nga, Phổ, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, Mỹ và cả Thổ nữa,
    giả thiết về tàu ngầm đã phá sản hoàn toàn. Mặc dù bị những tờ báo lá
    cải chế giễu, con quái vật kia lại nổi lên mặt nước. óc tưởng tượng được
    kích động lại vẽ nên những bức tranh vô lý nhất trong lĩnh vực khoa học
    viễn tưởng. Về tới Niu I-ooc, tôi có vinh dự được nhiều người đến hỏi ý
    kiến về vấn đề này. ở Pháp tôi có cho xuất bản cuốn sách in thành hai
    tập, nhan đề "Những bí mật của biển sâu". Cuốn sách đó được giới khoa
    học hoan nghênh và đã khiến tôi trở thành chuyên gia nổi tiếng về một
    lĩnh vực ít được nghiên cứu của lịch sử tự nhiên. Người ta yêu cầu tôi
    phát biểu ý kiến về vấn đề này. Nhưng trong tay tôi không có một tài liệu
    cụ thể nào nên tôi từ chối, lấy cớ là hoàn toàn không hiểu biết gì cả. Tuy
    nhiên, bị dồn vào chân tường, tôi đành phải nói lên phán đoán của mình.
    Và cuối cùng, "Tôn ông A-rô-nắc", giáo sư viện bảo tàng Pa-ri, mà các
    phóng viên báo Niu I-oóc Hê-rơn yêu cầu "phát biểu ý kiến" phải đầu
    hàng. Tôi lên tiếng vì im lặng mãi cũng không tiện. Tôi xem xét vấn đề
    về cả mọi mặt chính trị và khoa học.
    Tôi xin trích ra đây mấy đoạn trong bài báo đăng ngày 30-4: “Sau khi
    cân nhắc từng giả thiết đã được đề ra và không có những giả thiết khác
    vững chắc hơn, chúng ta đành thừa nhận sự tồn tại của một con vật sống
    dưới biển có sức mạnh phi thường. Những lớp nước sâu của đại dương

    hầu như chưa được nghiên cứu. Chưa một cuộc thăm dò nào xuống được
    tới những lớp nước đó. Cái gì đang xảy ra dưới vực thẳm chưa ai biết
    đến ấy? Những sinh vật nào đang sống và có thể sống ở độ sâu mười hai,
    hay mười lăm hải lý dưới mặt biển? Cơ thể của chúng ra sao? Bất kỳ giả
    thiết nào cũng chỉ là phỏng đoán mà thôi. Nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta
    có thể giải quyết bằng hai cách: Hoặc là chúng ta đã biết hết các loài sinh
    vật sống trên hành tinh chúng ta, hoặc là chưa biết hết. Nếu ta chưa biết
    hết, nếu trong lĩnh vực ngư học, thiên nhiên còn giấu ta nhiều điều bí
    mật, thì chẳng có cơ sở nào để không thừa nhận sự tồn tại của những con
    cá, hay động vật có vú thuộc những giống, loài mà ta chưa biết, những
    sinh vật đặc biệt sống được ở các lớp nước sâu; chỉ thỉnh thoảng mới nổi
    lên mặt biển do tác động của các Quy luật vật lý nào đó, hoặc do tính khí
    bất thường của thiên nhiên. Trái lại, nếu ta đã biết hết các loài động vật,
    thì cần tìm kiếm con vật nói trên trong số những con vật biển đã được
    phân loại, trong trường hợp này, tôi sẵn sàng cho rằng đây là một con cá
    thiết hình khổng lồ. Cá thiết hình bình thường, hay cá một sừng, dài tới
    mười tám mét. Hãy nhân kích thước nó lên năm lần, mười lần, hãy cho
    nó một sức mạnh, một cái sừng cân xứng với thân hình nó. Như vậy các
    bạn sẽ hình dung được con quái vật! Nó sẽ có kích thước mà các sĩ quan
    tàu Sa-nơn cho biết, có cái sừng nhọn đâm thủng được tàu Xcốt-len và
    các tàu vượt đại dương khác. Cá thiết hình có một sừng lớn sắc như
    gươm và rắn như thép. Người ta đã nhiều lần thấy những vết thương trên
    mình cá voi là loại động vật mà bao giờ cá thiết hình cũng đánh thắng.
    Nhiều khi người ta lấy được những mảnh vụn của sừng cá ở vỏ tàu
    bằng gỗ bị đâm thủng. Viện bảo tàng của Đại học y khoa Pa-ri có một cái
    sừng cá thiết hình dài hai mét hai mươi lăm cen-ti-mét, chu vi chỗ to
    nhất là bốn mươi tám cen-ti-mét. Chúng ta hãy hình dung một cái sừng
    lớn hơn mười lần, con cá mạnh hơn mười lần, bơi nhanh hai mươi nhăm
    hải lý một giờ, hãy nhân khối lượng của con cá với tốc độ của nó, thì sẽ
    hiểu được nguyên nhân gây ra tai nạn. Tóm lại, trong khi chờ đợi những
    tin tức đầy đủ hơn, tôi nghiêng về ý kiến cho rằng đây là một con cá thiết
    hình khổng lồ có sừng nhọn, lớn như những tàu chiến bọc thép và cũng
    di chuyển nhanh như vậy. Tôi xin giải thích hiện tượng bí hiểm này như
    trên, nhưng với điều kiện là nó phải có thực chứ không phải là chuyện

    bịa đặt (điều này cũng có thể xảy ra)." Những lời cuối cùng là mưu mẹo
    của tôi: tôi muốn giữ uy tín của nhà bác học và không muốn cho dân Mỹ,
    một dân tộc hay đùa cợt, có cớ để nhạo báng. Tôi đã để lại một con
    đường để rút lui. Thực lòng tôi rất tin rằng đây là một quái vật. Bài báo
    của tôi đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi và được nhiều người đọc.
    Có cả những người tán thành tôi. Cách giải quyết vấn đề do tôi đề nghị,
    cho phép người ta được hoàn toàn tự do tưởng tượng. Trí tuệ con người
    được thỏa thích tạo nên hình tượng những con vật khổng lồ, mà những
    động vật trên trái đất như: voi, tê giác, nếu đứng cạnh chỉ là những chú
    chim chích. Môi trường nước sản ra những loài có vú rất lớn, có lẽ cả
    những loài nhuyễn thể khổng lồ, những loài giáp xác khủng khiếp,
    những con cua nặng hai trăm tấn! Đã có một thời, những động vật trên
    trái đất, những loài bốn chân bốn tay, bò sát và chim đều có hình thù đồ
    sộ. Sau đó thời gian đã rút ngắn kích thước của chúng lại. Vì sao ta
    không thể cho rằng dưới các lớp biển sâu chưa được nghiên cứu còn bảo
    tồn được những động vật khổng lồ của những thời kỳ xa xưa nhất?
    Nhưng nếu tất cả câu chuyện huyền bí đó đối với một số người chỉ có
    ý nghĩa thuần túy khoa học, thì những người có đầu óc thực tế hơn, đặc
    biệt là người Mỹ và người Anh, lại rất lo lắng đến sự an toàn của các
    đường giao thông vượt đại dương và đặt việc trừ khử con quái vật ra một
    cách cấp thiết. Báo chí đại diện quyền lợi của các giới công nghiệp và tài
    chính xem xét vấn đề này một cách nguyên tắc, nghĩa là từ mặt thực tế
    này. Dư luận các nước, trước hết là Mỹ, ủng hộ sáng kiến đó của giới
    kinh doanh. ở Niu I-ooc, người ta bắt đầu chuẩn bị một chuyến đi đặc
    biệt, nhằm tìm kiếm con cá thiết hình đó. Chiếc tàu chiến A-bram Lincôn phải gấp rút ra khơi ngay. Cửa các kho quân sự được mở ra để cung
    cấp mọi thứ cần thiết cho thuyền trưởng Pha-ra-gút, chỉ huy tàu. Nhưng
    đúng lúc có quyết định trang bị cho đoàn thám hiểm, thì con cá lại biến
    mất. Suốt hai tháng trời con cá chẳng thấy tăm hơi nó đâu. Chẳng một
    chiếc tàu nào gặp nó. Hình như con cá cảm thấy người ta đang mưu hại
    nó. Người ta đã nói đến chuyện đó quá nhiều! Lại truyền đi bằng cả
    đường điện tín đặt ngầm dưới Đại Tây Dương nữa! Những người hay
    đùa quả quyết rằng con cá xảo quyệt đó đã tóm được bức điện và đã có
    những biện pháp đề phòng. Chiếc tàu chiến đã chuẩn bị xong để đi xa,

    được trang bị loại đạn bắn cá voi rất mạnh, nhưng sẽ đi hướng nào thì
    chẳng ai được biết. Tình trạng căng thẳng đang lên tới đỉnh cao thì bỗng
    ngày 2 tháng 7 có tin đồn là chiếc tàu chạy thường xuyên giữa Xan
    Phran-xit-xcô và Thượng Hải ba tuần trước đây đã gặp quái vật ở phía
    bắc Thái Bình Dương. Tin đó đã gây một ấn tượng rất mạnh. Thuyền
    trưởng Pha-ra-gút chỉ còn không đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ để
    chuẩn bị. Lương thực đã được chất lên tàu. Các hầm tàu đầy ắp than.
    Thủy thủ đã tập hợp đông đủ. Chỉ còn việc đốt lò và nhổ neo! Pha-ra-gút
    không được phép chậm trễ dù chỉ mấy giờ! Vả lại, chính Pha-ra-gút cũng
    nôn nóng muốn ra khơi ngay. Trước khi tàu Lin-côn nhổ neo ba tiếng
    đồng hồ, tôi nhận được một bức thư, nội dung như sau:
    Kính gửi Ngài A-rô-nắc, giáo sư Viện bảo tàng Pa-ri. Khách sạn "Đại
    lộ số 5" Niu I-oóc, Thưa Ngài, Nếu Ngài có ý muốn tham gia đoàn thám
    hiểm trên tàu A-bram Lin-côn, thì chính phủ Mỹ sẽ lấy làm hài lòng về
    việc Ngài thay mặt nước Pháp đóng góp vào việc này, Thuyền trưởng
    Pha-ra-gút sẽ dành cho Ngài một phòng riêng trên tàu. Kính chào Ngài
    Bộ trưởng Bộ hàng hải Đ. B. Hốp-Xơn.

    HAI VẠN DẶM DƯỚI BIỂN
    Jules Verne
    www.dtv-ebook.com

    Chương 3
    Xin Tùy Giáo Sư
    Khi nhận được thư của ông Hốp-Xơn, tôi đang vừa nghĩ nhiều về việc
    bắt con cá một sừng, vừa nghĩ nhiều về ý định vượt qua những cánh
    đồng Tây -Bắc. Tuy vậy, đọc xong thư của ông bộ trưởng, tôi hiểu ngay
    rằng sứ mệnh thực sự của tôi, mục đích của cả cuộc đời tôi là phải tiêu
    diệt được con quái vật này, không cho nó làm hại mọi người. Tôi vừa kết
    thúc một cuộc hành trình gian khổ nên rất mệt mỏi và cần nghỉ ngơi: Tôi
    rất mong trở về Tổ quốc, về với bạn bè và căn phòng ở Vườn bách thú,
    về với những bộ sưu tập quí giá của tôi! Nhưng không gì có thể ngăn cản
    tôi tham gia đoàn thám hiểm này. Sự mệt nhọc, bạn bè, những bộ sưu tập
    -tất cả đều bị quên đi! Không cần suy nghĩ nhiều, tôi nhận ngay lời mời
    của chính phủ Mỹ. Tôi nghĩ:
    K
    “Dù thế nào, mọi con đường cũng đều dẫn tới bờ biển nước Pháp! Nó
    sẽ giúp ta mang về Viện bảo tàng tự nhiên Pa-ri cái sừng dài không dưới
    nửa mét của nó". Nhưng trong khi chờ đợi tương lai xa xôi đó, tôi còn
    phải tìm nó ở phía bắc Thái Bình Dương, nói khác đi, là phải đi về phía
    ngược với nước Pháp.
    -Công-xây!
    -Tôi nóng ruột gọi to. Công-xây là người giúp việc tôi và theo tôi đi
    khắp nơi. Tôi mến anh ta và anh ta cũng quý tôi. Công-xây tính điềm
    đạm, trung thực, cần cù, thường nhìn nhận các bước ngoặt của số phận
    một cách triết lý, rất khéo tay và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người.
    Trái hẳn với tên gọi, anh ta chẳng bao giờ khuyên ai, ngay cả khi
    người ta đến hỏi ý kiến. Vì thường xuyên tiếp xúc với giới khoa học của
    Vườn bách thú. Công-xây học tập được nhiều điều. Anh ta chuyên về

    phân loại tự nhiên, rất thành thạo về các "kiểu, nhóm, lớp, bộ, họ, giống,
    loài". Nhưng kiến thức của anh ta đến đấy cũng là hết. Phân loại là năng
    khiếu tự nhiên của Công-xây, anh ta không tiến xa nữa. Nhưng dù sao
    Công-xây cũng là người rất tốt. Mười năm nay, Công-xây theo tôi trong
    tất cả các chuyến đi nghiên cứu. Tôi chưa hề thấy anh ta kêu ca phàn nàn
    khi chuyến đi bị kéo dài hay gặp khó khăn, gian khổ, Công-xây sẵn sàng
    theo tôi đi bất kỳ nước nào, dù đó là Trung Quốc hay Công-gô, dù đường
    xa đến mấy. Ngoài ra, Công-xây có thể tự hào về sức khỏe hiếm có bất
    chấp mọi bệnh tật, về những bắp thịt rắn chắc và một hệ thần kinh rất
    vững vàng. Công-xây ba mươi tuổi, so với tuổi tôi thì như mười lăm so
    với hai mươi. Xin các bạn thứ lỗi cho cách diễn đạt rắc rối của tôi vì đó
    chỉ là cách thú nhận rằng tôi đã bốn mươi tuổi! Nhưng Công-xây có một
    nhược điểm. Là người câu nệ hình thức, anh ta bao giờ cũng gọi tôi là
    "giáo sư", điều đó làm tôi rất bực mình.
    -Công-xây!
    -Tôi gọi lần thứ hai và hối hả chuẩn bị lên đường. Tôi rất tin ở lòng
    trung thành của Công-xây. Thông thường, tôi không hỏi xem anh ta có
    đồng ý đi theo tôi không, nhưng chuyến đi này có thể sẽ kéo dài chưa
    biết đến bao giờ, có thể sẽ nguy hiểm, vì đây là cuộc săn bắt một con vật
    có khả năng đánh chìm tàu chiến xuống biển như một cái vỏ hạt dẻ! Mọi
    người dù dửng dưng đến đâu cũng phải suy nghĩ ít nhiều!
    -Công-xây!
    -Tôi gọi lần thứ ba. Công-xây xuất hiện.
    -Giáo sư gọi tôi ạ?
    -Anh ta vừa vào vừa hỏi.
    -Đúng vậy, anh bạn ạ. Anh hãy thu xếp đồ đạc của tôi và chuẩn bị cho
    mình nữa. Hai giờ nữa chúng ta sẽ lên đường!
    -Xin tùy giáo sư, -Công-xây bình thản trả lời.
    -Không được lề mề một chút nào! Anh xếp tất cả hành lý, quần áo của
    tôi vào va-li, càng nhiều càng nhanh càng tốt.
    -Còn những bộ sưu tập của giáo sư thì sao ạ?
    -Công-xây hỏi.
    -Chúng ta sẽ giải quyết sau.
    -Sao lại sau ạ?

    -Chúng sẽ được bảo quản ở khách sạn. Rồi tôi sẽ cho gửi về Pháp.
    -Thế chúng ta không về Pa-ri ạ?
    -ừ... tất nhiên sẽ về... nhưng có lẽ phải đi vòng một chút...
    -Xin tùy ý giáo sư. Đi vòng cũng được ạ!
    -Vòng một chút thôi! Chúng ta chỉ đi chệch đường thẳng một chút
    thôi! Và đi bằng tàu A-bram Lin-côn.
    -Xin tùy giáo sư.
    -Công-xây ngoan ngoãn trả lời.
    -Anh bạn ạ, anh biết không, chúng ta sẽ đi để trừ khử con quái vật,
    con cá thiết hình nổi tiếng đó. Tác giả bộ sách "Những bí mật của biển
    sâu" không thể từ chối việc đi cùng thuyền trưởng Pha-ra-gút trong
    chuyến thám hiểm này được. Nhiệm vụ thực vinh quang nhưng cũng rất
    nguy hiểm, vì phải hành động một cách mò mẫm và con quái vật có
    nhiều điều bí ẩn. Nhưng dù thế nào, thuyền trưởng của chúng ta cũng sẽ
    không cho nó thoát!...
    -Giáo sư đi đâu, tôi xin đi đó ạ, -Công-xây trả lời.
    -Anh cứ nghĩ kỹ đi! Tôi chẳng muốn giấu anh điều gì cả. Tham gia
    những cuộc thám hiểm thế này có thể sẽ không trở về đấy.
    -Xin tùy giáo sư. Mười lăm phút sau, va-li đã xếp xong. Công-xây
    chuẩn bị rất nhanh, có thể bảo đảm là anh chẳng quên gì, vì anh ta xếp
    quần áo cũng thạo như phân loại chim và cá vậy. Người phục vụ ở khách
    sạn mang hành lý của chúng tôi ra phòng ngoài. Tôi chạy vội xuống tầng
    dưới, thanh toán tiền nong ở văn phòng khách sạn, nơi luôn luôn tấp nập
    khách mới đến. Tôi yêu cầu chuyển về Pa-ri những kiện hàng gồm tiêu
    bản động vật và thực vật đã sấy khô. Sau đó, tôi và Công-xây nhảy lên
    xe ngựa. Mấy phút sau, xe đỗ ở bến, nơi tàu Lin-côn đang thả từng cuộn
    khói dày đặc. Hành lý của chúng tôi được mang ngay lên boong. Tôi
    chạy lên tàu và hỏi thuyền trưởng Pha-ra-gút. Một thủy thủ dẫn tôi đi.
    Một sĩ quan tư thế hùng dũng bắt tay tôi và hỏi:
    -Ngài là Pi-e A-rô-nắc?
    -Vâng. Còn ngài là thuyền trưởng Pha-ra-gút?
    -Vâng, chính tôi! Xin chào giáo sư! Chúng tôi đã dành cho ngài một
    phòng riêng! Tôi đáp lễ và biết thuyền trưởng đang rất bận chuẩn bị cho
    tàu nổ máy nhổ neo, tôi chỉ đề nghị cho biết phòng riêng của tôi ở đâu.

    Tàu Lin-côn rất thích hợp với nhiệm vụ mới. Đó là một chiếc tàu chiến
    có những máy móc tối tân chạy bằng hơi nước có áp suất tới bảy at-mốtphe. Với áp suất đó, tàu Lin-côn chạy nhanh mười tám hải lý một giờ.
    Tốc độ như vậy là nhanh nhưng tiếc thay vẫn chưa đủ để đuổi bắt con cá
    khổng lồ kia. Sự trang trí bên trong tàu cũng tương xứng với những
    phẩm chất hàng hải của tàu. Tôi rất hài lòng về căn phòng riêng ở phía
    lái và thông với phòng ăn.
    -Chúng ta ở đây rất tiện, -tôi bảo Công-xây.
    -Thưa giáo sư vâng. Tôi bảo Công-xây mở va-li, xếp ra những đồ
    dùng cần thiết còn tôi thì lên boong xem tàu chuẩn bị nhổ neo. Đúng lúc
    đó, thuyền trưởng Pha-ra-gút hạ lệnh tháo dây neo tàu Lin-côn ở bến
    Blúc-lin. Nếu tôi đến chậm 15 phút, thậm chí ít hơn, thì có lẽ tàu đã lên
    đường và tôi sẽ không được tham gia cuộc thám hiểm rất đặc biệt, có
    một không hai này, cuộc thám hiểm dù có thuật lại một cách chân thực
    cũng vẫn bị coi như một chuyện bịa đặt hoàn toàn. Thuyền trưởng Phara-gút không để mất một ngày, một giờ nào. ạng ta phải tức tốc tới những
    vùng biển đã phát hiện ra quái vật. Pha-ra-gút gọi trưởng máy lên hỏi:
    -áp suất đã đủ chưa?
    -Thưa, đủ.
    -Cho tàu chạy!
    -Pha-ra-gút ra lệnh. Mệnh lệnh lập tức được truyền xuống buồng máy.
    Chân vịt quay ngày càng nhanh. Tàu Lin-côn hùng dũng tiến quân, có
    hàng trăm xuồng và tàu kéo chở đầy người tiễn đưa long trọng. Bến tàu
    Blúc-lin và tất cả khu vực dọc sông It-ri-vơ của Niu I-ooc chật ních
    người. Những tiếng hoan hô từ miệng năm mươi vạn người vang lên
    không ngớt. Hàng ngàn khăn tay được tung lên trời cho tới khi tàu Lincôn ra tới vịnh Hút-dôn ở mỏm ngoài cùng của bán đảo, nơi thành phố
    Niu I-ooc đang xây dựng. Ba giờ chiều. áp lực hơi nước tăng lên, chân
    vịt quay ngày càng nhanh. Chiếc tàu chạy dọc theo bờ cát thấp Long Ailen và tới gần tám giờ sáng thì mở hết tốc lực vượt trên sóng nước Đại
    Tây Dương đen thẫm.

    HAI VẠN DẶM DƯỚI BIỂN
    Jules Verne
    www.dtv-ebook.com

    Chương 4
    Nét Len
    Thuyền trưởng Pha-ra-gút là một người đi biển dày kinh nghiệm, thực
    xứng đáng với chiếc tàu chiến mà ông ta chỉ huy. Pha-ra-gút với con tàu
    chỉ là một. ạng ta là linh hồn của tàu. ạng ta không mảy may nghi ngờ sự
    tồn tại của con cá, nhưng cũng không cho phép ai được bàn tán nhảm nhí
    về vấn đề đó. ạng ta tin là có con quái vật không phải bằng óc mà bằng
    tim. Pha-ra-gút sẽ trừ khử được nó -ông ta thề như vậy.
    T
    Hoặc là thuyền trưởng Pha-ra-gút sẽ diệt con cá thiết hình, hoặc là
    con cá sẽ giết chết Pha-ra-gút. Không thể có sự thỏa hiệp nào! Toàn thể
    thủy thủ nhất trí với thuyền trưởng. Điều đó thể hiện rất rõ khi họ bàn
    luận, tranh cãi với nhau, khi họ cân nhắc từng khả năng giúp họ tìm ra
    con quái vật một cách nhanh chóng nhất, khi họ chăm chú quan sát mặt
    biển! Ngay cả những sĩ quan, lúc bình thường vẫn xem việc trực ban là
    một nhiệm vụ khổ sai, giờ đây cũng sẵn sàng trực thêm giờ. Về phía thủy
    thủ thì họ chỉ có một nguyện vọng: tìm thấy con cá một sừng, bắn trúng
    nó, kéo lên tàu rồi xả ra từng mảnh. Họ quan sát mặt biển một cách căng
    thẳng. Cần nói thêm rằng thuyền trưởng Pha-ra-gút đã hứa là sẽ thưởng
    hai ngàn đô-la cho người nào phát hiện ra quái vật đầu tiên, không kể là
    thủy thủ đang học nghề, thủy thủ hay sĩ quan. Tôi cũng chẳng thua gì
    mọi người, tôi cũng đứng trên boong ngày này sang ngày khác. Chỉ có
    Công-xây là tỏ vẻ dửng dưng trước chuyện này và không hề có cái tâm
    trạng bị kích động đang lan tràn trên tàu. Thuyền trưởng Pha-ra-gút đã
    trang bị cho tàu của mình tất cả những thứ cần thiết để đánh con cá voi
    khổng lồ. Không một chiếc tàu đánh cá voi nào có thể được trang bị tốt
    hơn. Trên tàu Lin-côn có tất cả các thứ đạn bắn cá voi hiện đại nhất, từ

    loại đạn giống mũi tên nhọn phóng đi bằng tay, đến các loại đạn phá bắn
    bằng súng nòng dài. Phía mũi tàu có một cỗ đại bác kiểu cải tiến bắn loại
    đạn hình nón nặng bốn ki-lô-gam đi xa mười sáu ki-lô-mét. Tóm lại, tàu
    Lin-côn được trang bị tất cả các loại vũ khí ghê gớm nhất. Nhưng chưa
    hết! Trên tàu còn có Nét Len -"vua" bắn cá voi. Nét Len, gốc Ca-na-đa,
    là thợ săn cá voi giỏi tuyệt vời. Anh ta chưa hề gặp đối thủ trong cái
    nghề nguy hiểm của mình. ở Nét Len, sự khéo léo và bình tĩnh, lòng can
    đảm và sự nhanh trí đã kết hợp với nhau một cách cân đối. Cá voi hay cá
    nhà táng phải quỷ quyệt ranh ma lắm mới thoát được phát đạn của anh
    ta. Nét Len khoảng gần bốn mươi tuổi. Anh ta cao lớn, vạm vỡ, vẻ mặt
    khắc khổ, ít cởi mở, nóng tính, nên hơi một chút là nổi giận đùng đùng.
    Vẻ bề ngoài của anh ta làm mọi người chú ý, đặc biệt là đôi mắt cương
    nghị. Tôi cho rằng thuyền trưởng Pha-ra-gút đã hành động đúng khi mời
    Nét Len tham gia cuộc tìm kiếm. Cánh tay rắn chắc và đôi mắt tinh
    tường của anh ta cũng bằng tất cả đội thủy thủ rồi. Có thể ví Nét Len như
    một cái kính viễn vọng đồng thời là một khẩu đại bác luôn luôn sẵn sàng
    nhả đạn. Người Ca-na-đa thì cũng là người Pháp, và tôi phải thú thực
    rằng, mặc dù ít cởi mở, Nét Len vẫn có đôi chút cảm tình với tôi; chắc
    anh ta bị quốc tịch của tôi hấp dẫn. Đã có dịp anh ta nói với tôi bằng
    tiếng Pháp, một thứ tiếng Pháp cổ từ thời Ra-bơ-le hiện còn dùng ở một
    số tỉnh của Ca-na-đa.
    Nét xuất thân từ một gia đình gốc rễ lâu đời ở thành phố Quê-bếch
    thuộc dòng dõi những thủy thủ can trường từ thời thành phố còn thuộc
    Pháp. Dần dần Nét cởi mở hơn, và tôi sẵn lòng nghe anh ta kể chuyện
    cuộc đời phiên bạt của mình ở vùng biển Bắc và Nam cực. Chuyện đánh
    cá của Nét, chuyện chiến đấu tay đôi với cá voi đượm một chất thơ chân
    thực. Nét kể chuyện theo lối anh hùng ca, đôi lúc tôi có cảm tưởng như
    đang nghe một Hô-me người Ca-na-đa đang ca I-li-át... Tôi miêu tả con
    người can đảm đó đúng như tôi hiểu anh ta hiện nay. Tôi đã kết bạn với
    Nét. Chúng tôi ràng buộc với nhau bằng một tình bạn không gì phá vỡ
    nổi, một tình cảm nảy nở và củng cố qua những thử thách gay go của
    cuộc đời. Nét cừ lắm! Tôi sẵn sàng sống thêm một trăm năm nữa để nhớ
    tới anh, Nét ạ! Nhưng Nét có ý kiến gì đối với con vật đó? Phải thú thực
    rằng anh ta không tin sự tồn tại của con cá một sừng thần bí ấy. Và là

    người duy nhất trên tàu không tán thành sự mù quáng của số đông. Thậm
    chí anh ta lảng tránh không động chạm tới chuyện con quái vật mà tôi có
    lần định nói với anh ta. Buổi chiều ngày 30 tháng 7 tuyệt đẹp, ba tuần
    sau khi tàu nhổ neo, chúng tôi tới gần mũi Blăng. Tàu vượt qua chí tuyến
    nam và chỉ còn bảy trăm hải lý nữa về phía nam là tới eo biển Ma-gienlăn...
     
    Gửi ý kiến