Bài giảng online: Tôi đi học

Tài nguyên thư viện

Ôn thi ôn lớp 10 THPT

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát: Bài ca thư viện

    Ảnh ngẫu nhiên

    C1.jpg B3.jpg C1.jpg QC.jpg He_tieu_hoa_o_nguoi_1.png So_do_mach_dien_cam_bien_nhiet_do_1.jpg Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat_2.png

    Sách điện tử sách Bác Hồ

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NINH SƠN - NINH BÌNH💕💕

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Hành trình về Phương Đông

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
    Ngày gửi: 23h:13' 03-12-2024
    Dung lượng: 678.0 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
    Dr. Blair T. Spalding
    Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
    Nguồn: Sách Mới.net
    Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.

    Mục lục

    Chương I

    Chương II

    Chương III

    Chương IV

    Chương V

    Chương VI

    Chương VII

    Chương VIII

    Chương IX

    Chương X

    Dr. Blair T. Spalding
    HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
    Dịch giả : Nguyên Phong
    Chương I
    Lời mở đầu
    Trong cuộc sống vội vã, quay cuồng hiện tại, nhiều người đã mất đi niềm tin. Họ
    quan niệm rằng sống để thụ hưởng, thoả mãn các nhu cầu vật chất vì chết là hết.
    Không có Thượng đế hay một quyền năng siêu phàm gì hết. Các đây không lâu, một
    tờ báo lớn tại Hoa kỳ đã tuyên bố, “Thượng đế đã chết!” Tác giả bài báo công khai
    thách đố mọi người đưa ra bằng chứng rằng Thượng đế còn sống. Dĩ nhiên, bài báo
    đó tạo nên một cuộc bàn cãi rất sôi nổi. Một nhà thiên văn học tại trung tâm nghiên
    cứu Palomar cũng cho biết, “Tôi đã dùng kính viễn vọng tối tân nhất, có thể quan sát
    các tinh tú xa trái đất hàng triệu năm ánh sáng mà nào có thấy thiên đường hay thượng
    đế cư ngụ nơi nào?” Sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm càng ngày càng đi
    đến chỗ quá trớn, thách đố tất cả mọi sự. Tuy nhiên, trong lúc khoa học đang tự hào
    có thể chứng minh, giải thích tất cả mọi sự, thì một sự kiện xảy ra : Một phái đoàn
    ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh cầm đầu sang thăm viếng nước Anh. Trong
    buổi viếng thăm đại học Oxford, vua Ranjit đã sai một đạo sĩ biểu diễn. Vị đạo sĩ này
    đã làm đảo lộn quan niệm khoa học lúc bấy giờ. Không những ông ta có thể uống tất
    cả mọi chất hoá học, kể cả những chất cường toan cực mạnh mà không hề hấn gì, ông
    ta còn nhịn thở hàng giờ đồng hồ dưới đáy một hồ nước. Sau khi để một phái đoàn y
    sĩ do bác sĩ Sir Claude Wade khám nghiệm, ông ta còn chui vào một quan tài để bị
    chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi được đào lên, ông ta vẫn sống như thường. Đạo sĩ
    còn biểu diễn nhiều việc lạ lùng, dưới sự kiểm chứng nghiêm khắc của các khoa học
    gia. Điều này gây sôi nổi dư luận lúc đó. Hội Khoa Học Hoàng Gia đã phải triệu tập
    một uỷ ban để điều tra những hiện tượng này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học gia
    tên tuổi được chỉ thị sang Ấn độ quan sát, sưu tầm, tường trình và giải thích những sự
    kiện huyền bí. Phái đoàn khoa học đã đặt ra những tiêu chuẩn rõ rệt để giúp họ quan
    sát với một tinh thần khoa học tuyệt đối. Không chấp nhận bất cứ một điều gì nếu
    không có sự giải thích rõ ràng, hợp lý. Để soạn thảo bản tường trình, mỗi khoa học
    gia trong phái đoàn phải tự mình ghi nhận những điều mắt thấy, tai nghe vào sổ tay cá

    nhân. Sau đó, tất cả cùng nhau so sánh chi tiết và kiểm chứng cẩn thận. Chỉ khi nào
    tất cả đều đồng ý thì điều đó mới được ghi nhận vào biên bản chính. Điều này đặt ra
    để bảo đảm cho sự chính xác, không thành kiến đến mức tối đa. Tất cả những điều gì
    xảy ra mà không có sự giải thích khoa học, hợp lý đều bị loại bỏ.
    Khi ra đi, họ không mấy tin tưởng nhưng khi trở về, họ đều đổi khác. Giáo sư
    Spalding đã cho biết, “Phương Đông có những chân lý quan trọng đáng để cho người
    Tây phương nghiên cứu, học hỏi. Đã đến lúc người Tây phương phải quay về Đông
    phương để trở về với quê hương tinh thần.” Điều đáng tiếc là sự trở về của phái đoàn
    đã gặp nhiều chống đối mãnh liệt từ một dư luận quần chúng đầy thành kiến hẹp hòi.
    Các khoa học gia bị bắt buộc phải từ chức, không được tuyên bố thêm về những điều
    chứng kiến. Sau đó ít lâu, trưởng phái đoàn, giáo sư Spalding đã cho xuất bản bộ
    sách, “Life and teachings of Masters of the East” và nó đã gây ra một dư luận hết sức
    sôi nổi. Người ta vội tìm đến những người trong phái đoàn, thì được biết họ đã rời bỏ
    Âu châu để sống đời tu sĩ trong dãy tuyết sơn. Tuy thế, ảnh hưởng cuốn sách này đã
    tạo hứng khởi cho nhiều người khác trở qua Ấn độ để kiểm chứng những điều ghi
    nhận của phái đoàn. Thiên ký sự của Sir Walter Blake đăng trên tờ London Scientific
    cũng như loạt điều tra của ký giả Paul Bruton, Max Muller đã vén lên tấm màn huyền
    bí của Đông phương và xác nhận giá trị cuộc nghiên cứu này.
    Ấn độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với đời sống và trở nên một động
    lực rất mạnh làm chủ mọi sinh hoạt người dân xứ này. Người Ấn thường tự hào rằng
    văn hoá của họ là một thứ văn minh tôn giáo và dân xứ này được thừa hưởng một kho
    tàng minh triết thiêng liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa Học Hoàng Gia đã bảo trợ
    cho phái đoàn đến Ấn độ để nghiên cứu những hiện tượng huyền bí này.
    Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn độ từ Bombay đến Calcutta, thăm viếng
    hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng , phái đoàn vẫn
    không thoả mãn hay học hỏi điều gì mới lạ. Phần lớn các giáo sĩ chỉ lập đi lập lại
    những điều đã ghi chép trong kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị đoan, thần

    thánh hoá huyền thoại để đề cao văn hoá xứ họ. Đa số tu sĩ đều khoe khoang các địa
    vị, chức tước họ đã đạt. Vì không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai
    cũng xưng là hiền triết (Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức (Swami), thậm chí có người
    xưng là thánh nhân giáng thế (Bhagwan). Ấn độ giáo (Hinduism) không có một
    chương trình đào tạo tu sĩ như Thiên chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ ngực xưng
    danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc áo tu hành, xưng danh tước, địa vị để
    lôi cuốn tín đồ. Ấn giáo không phải một tôn giáo thuần nhất, mà có hàng ngàn tông
    phái khác nhau, mỗi tông phái lại chia làm nhiều hệ phái độc lập chứ không hề có
    một tổ chức hàng dọc như các tôn giáo Âu châu. Các giáo sĩ mạnh ai nấy giải thích
    kinh điển theo sự hiểu biết của họ. Phần lớn cố tình giảng dạy những điều có lợi cho
    họ nhất, ngoài ra họ còn tụ họp để phong chức tước lẫn nhau hay chống đối một
    nhóm khác. Sự tranh luận tôn giáo là điều xảy ra rất thường, nhóm nào cũng tự nhận
    họ mới là chính thống, mới là đúng với giáo lý của thượng đế. Do đó, cuộc nghiên
    cứu tôn giáo của phái đoàn không mang lại một kết quả mong ước, nhiều lúc mọi
    người thấy lạc lõng, rồi rắm không biết đâu là đúng, là sai. Hội Khoa Học Hoàng Gia
    chỉ thị việc nghiên cứu phải đặt căn bản trên nền tảng khoa học, hợp lý nhưng lấy tiêu
    chuẩn này áp dụng sẽ gặp nhiều trở ngại vì văn hoá Ấn độ và Âu châu khác hẳn
    nhau. Người dân xứ này chấp nhận các tông phái như một điều hiển nhiên, không ai
    chất vấn khả năng các giáo sĩ hay suy xét xem lời tuyên bố của họ có hợp lý hay
    không ? Họ sùng tín một cách nhiệt thành, một cách vô cùng chịu đựng.
    Thất vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả như ý muốn, giáo sư Spalding
    một mình lang thang đi dạo trong thành Benares. Giữa rừng người hỗn tạp ồn ào, một
    thuật sĩ cởi trần đang phùng má thổi kèn gọi rắn. Một con rắn hổ to lớn nằm trong sọt
    ngửng cổ lên cao, phun phì phì. Tiếng kèn lên bỗng xuống trầm, con rắn cũng lắc lư,
    nghiêng ngã. Đám đông xúm lại xì xầm coi bộ khâm phục lắm. Nếu họ hiểu con rắn
    đã bị bẻ răng, nuôi bằng bả á phiện và được luyện tập cẩn thận… Khắp xứ ấn, các trò
    bịp bợm này diễn ra không biết bao nhiêu lần trong ngày, nó sẽ kết thúc khi một vài
    tên “cò mồi” đứng trong đám đông vỗ tay, ném tiền vào rổ, và khuyến khích dân
    chúng ném theo… Đang mãi mê suy nghĩ, Spalding bỗng thấy một người Ấn to lớn,

    phong độ khác thường chăm chú nhìn ông mỉm cười. Người Ấn lễ phép cúi đầu chào
    bằng một thứ tiếng Anh hết sức đúng giọng, ông cũng đáp lễ lại. Câu chuyện dần dần
    trở nên thân mật, Spalding bèn lên tiếng hỏi người bạn mới quen nghĩ sao về những
    trò bịp bợm này. Người Ấn trả lời :
    - Các vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy, họ đâu in danh thiếp với các
    chức tước, địa vị to lớn, trọng vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các quyền năng, đạo
    quả hoặc in tên trong điện thoại niên giám. Một vị minh sư không nhất thiết phải có
    đông đệ tử, muốn tìm gặp họ phải biết phân biệt. Các đạo sĩ mà ông đã gặp, sở dĩ nổi
    tiếng có đông giáo đồ vì họ biết thu tập đệ tử qua các hình thức quảng cáo, biết hứa
    hẹn những điều giáo đồ muốn nghe, họ chả dạy điều gì ngoài một số “từ chương”
    trong kinh sách. Điều này một người thông minh có thể tự đọc sách, nghiên cứu lấy.
    Phải chăng ông thất vọng vì các đạo sĩ ông đã gặp chưa từng có các kinh nghiệm tâm
    linh?”
    Giáo sư Spalding ngạc nhiên :
    - Tại sao ông biết rõ như thế?
    Người Ấn mỉm cười :
    - Các ông đã bàn cãi với nhau rằng cuối tháng này, nếu không thu thập thêm điều gì
    mới lạ, phái đoàn sẽ trở về Âu châu và kết luận rằng Á châu chả có điều gì đáng học
    hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh nhân chỉ là những huyền thoại để tô điểm
    cho vẻ huyền bí Á châu.
    Giaó sư Spalding mất bình tĩnh :
    - Nhưng tại sao ông lại biết những điều này? Chúng tôi vừa bàn định với nhau như
    thế, ngay trong phái đoàn còn có nhiều người chưa rõ kia mà ?

    Người Ấn nở một nụ cười bí mật và thong thả nhấn mạnh :
    - Ông bạn thân mến, tư tưởng có một sức mạnh thần giao vượt khỏi thời gian và
    không gian. Thái độ của ông bạn là lý do mà hôm nay tôi đến đây để chuyển giao một
    thông điệp ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc thánh kinh, “Hãy gõ cửa, rồi cửa sẽ
    mở. Hãy tìm rồi sẽ gặp”. Đó là thông điệp của một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.”
    Sự kiện người Ấn đứng giữa chợ Benares nhắc đến một câu trong Kinh thánh làm giáo
    sư Spalding ngây ngất như say vừa tỉnh. Toàn thân ông như rung động bởi một luồng
    điện cao thế.
    Ông lắp bắp:
    - Nhưng làm sao chúng tôi biết các ngài ở đâu mà tìm ? Chúng tôi đã bỏ ra suốt hai
    năm trời đi gần hết các đô thi, làng mạc xứ Ấn…
    Người Ấn nghiêm nghị trả lời :
    - Hãy đến Rishikesh, một thị trấn bao phủ bởi dẫy Hy Mã Lạp Sơn, các ông sẽ gặp
    những đạo sĩ hoàn toàn khác hẳn những người đã gặp. Những đạo sĩ này chỉ sống
    trong các túp lều sơ sài, hoặc ngồi thiền trong các động đá. Họ ăn rất ít và chỉ cầu
    nguyện. Tôn giáo đối với họ cần thiết như hơi thở. Đó mới là những người dành trọn
    cuộc đời cho sự đi tìm chân lý. Một số người đã thắng đoạt thiên nhiên và chinh phục
    được các sức mạnh vô hình ẩn tàng trong trời đất… Nếu các ông muốn nghiên cứu về
    các quyền năng, phép tắc thần thông thì các ông sẽ không thất vọng.
    Người Ấn im lặng một lúc và nhìn thẳng vào mặt giáo sư Spalding :
    - Nhưng nếu các ông muốn đi xa hơn nữa, để tìm gặp các đấng chấn sư (Rishi) thì các

    ông còn mất nhiều thời gian nữa…
    Giaó sư Spalding thắc mắc :
    - Ông vừa dùng danh từ Chân sư, vậy chứ Chân sư (Rishi) và đạo sĩ (Yogi) khác nhau
    thế nào?
    - Nếu ông tin ở thuyết tiến hoá của Darwin, thì tôi xin tóm tắt : “sự tiến hoá của linh
    hồn đi song đôi với thể xác. Chân sư là một người đã tiến rất xa trên mức thang tiến
    hoá; trong khi đạo sĩ chỉ mới bắt đầu…”
    - Như thế thì các vị chân sư có thể làm các phép lạ được chứ ?
    Người Ấn mỉm cười khẽ lắc đầu :
    - Chắc chắn như thế, nhưng phép thuật thần thông đâu phải mục đích tối hậu của con
    đường đạo. Nó chỉ là kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ý chí. Đối với các
    bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào các ngài phải làm. Mục đích của
    con đường đạo là Gỉai Thoát, là trở nên toàn thiện như những đấng cao cả mà đức
    Jesus là một .
    Giáo sư Spalding cãi :
    - Nhưng chúa Jesus đã từng làm các phép lạ .
    Người Ấn bật cười trả lời :
    - Ông bạn thân mến, bạn nghĩ rằng chúa Jesus làm vậy vào mục đích khoe khoang
    hay sao ? Không bao giờ, đó chỉ là những phương tiện để cảm hoá những người dân
    hiền lành, chất phác và đem lại cho họ một đức tin mà thôi.

    Một lần nữa, người Ấn lạ lùng này lại nói về một đấng giáo chủ mà hầu như mọi
    người Tây phương đều biết đến. Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi :
    - Thế tại sao các đấng Chân sư không xuất hiện dạy dỗ quần chúng ?
    Người Ấn nghiêm nghị :
    - Ông nghĩ rằng các ngài sẽ tuyên bố cho người đời biết mình là ai chăng ?
    Nếu đức Phật hay đấng “Christ” hiện ra tuyên bố các giáo điều, liệu ông có chịu tin
    không ? Có lẽ các ngài phải biểu diễn các phép thần thông như đi trên mặt nước hay
    biến ra hàng ngàn ổ bánh mì cho dân chúng thì các ông mới tin sao ? Điều này chắc
    rồi cũng sẽ có một số đạo sĩ Hắc đạo biễu diễn để lôi cuốn tín đồ nhưng các đấng cao
    cả đâu có làm thế phải không ông bạn ?
    - Nhưng….nhưng các ngài sống ẩn dật như thế có lợi gì cho thế gian đâu ?
    Người Ấn mỉm cười :
    - Vì không biết rõ các ngài nên thế gian không thể xét đoán các ngài một cách đứng
    đắn. Ai bảo rằng các ngài không giúp ích gì cho nhân loại ? Nếu tôi quả quyết rằng
    đấng “Christ” vẫn thường xuất hiện và vẫn giúp đỡ nhân loại không ngừng thì ông có
    tin không ? Có lẽ ông sẽ đòi hỏi một bằng chứng, một hình ảnh hoặc một cái gì có thể
    chứng minh được. Bạn thân mến, những tư tưởng sâu xa của các đấng cao cả không dễ
    gì chúng ta hiểu thấu. Có lẽ câu trả lời giản dị nhất là các ngài phụng sự thế gian một
    cách âm thầm, lặng lẽ bằng cách phóng ra các tư tưởng yêu thương, bác ái, tốt lành mà
    sức mạnh có thể vượt thời gian và không gian. Tuy mắt ta không trông thấy nhưng
    hiệu lực của nó vô cùng mạnh mẽ. Khi xưa, nhân loại còn ấu trĩ nên các ngài đã xuất
    hiện để đặt một nền móng, căn bản, hướng dẫn loài người. Đến nay, nhân loại đã ít

    nhiều trưởng thành và phải tự lập, sử dụng khả năng của mình, chịu trách nhiệm về
    những việc họ làm.
    Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi :
    - Lúc nãy bạn nói rằng có một vị chân sư nhờ bạn chuyển giao một thông điệp cho
    chúng tôi. Bạn có thể cho tôi biết địa chỉ của ngài được không ?
    - Bạn thân mến, tất cả đều do Nhân Duyên, đến khi nào đủ duyên bạn sẽ gặp các ngài.
    Nói xong, người Ấn độ cúi đầu chào và biến mất trong đám người đông đúc, ồn ào
    giữa ngôi chợ thành phố Benares.

    Chương II
    Người đạo sĩ thành Benares
    Thành phố Benares là một nơi có nhiều di tích lịch sử và có rất nhiều tu sĩ. Bất cứ
    một người Âu Mỹ nào đến đây cũng ngạc nhiên về thành phố dân cư đông đúc, nhà
    cửa san sát và khắp nơi nhan nhản những đền thờ, lăng tẩm đồ sộ. Có những ngôi đền
    trông thì thật cổ kính, trang nghiêm nhưng khi bước vào trong bạn sẽ thấy gì ? Một số
    tín đồ hành lễ ngây ngô vừa cầu nguyện, vừa rung một cái chuông nhỏ để lời cầu xin
    của họ thấu đến tai các vị thần. Một số khá đông đạo sĩ ngồi trong các tư thế du già
    (yoga) cực kỳ lạ lùng, khó tập luyện để tín đồ đến bỏ tiền vào trong bát nhỏ bầy trước
    mặt họ. Chúng tôi có cảm tưởng như họ làm xiếc biễu diễn kiếm ăn hơn là thực hành
    một pháp môn tu hành chân chánh.
    Trong khi mọi người trong phái đoàn đang quay phim những đạo sĩ ngồi trên bàn
    đinh, các đền thờ to lớn, thì giáo sư Spalding thong thả đi dạo ngoài bờ sông. Ông
    nhìn thấy một đạo sĩ vóc người lực lưỡng đang đi gần đó. Như có một mãnh lực vô
    hình nào đó thúc đẩy, Spalding muốn vượt lên để nhìn cho rõ, ông bèn rẽ qua một
    lùm cây rậm rạp, để bắt cho kịp vị đạo sĩ nọ. Vừa đi được vài bước, ông đã giựt mình
    vì gặp một con rắn hổ mang to lớn chận lối. Rắn hổ là một loại rắn cực độc, hàng năm
    có hàng ngàn người bị rắn cắn chết, vì ở xứ Ấn giống rắn này có nhiều vô kể, xuất
    hiện khắp nơi. Tiến thoái lưỡng nan, chưa biết phải làm gì thì con rắn đã trườn tới
    ngẩng cao cổ phun phì phì. Bất ngờ, vị đạo sĩ ở đâu đi đến, ông chẳng nói gì chỉ bước
    thẳng vào giữa con rắn và giáo sư Spalding. Vị đạo sĩ dơ tay vuốt nhẹ, con rắn từ từ
    bò vào trong bụi rậm, mất hút trước sự ngạc nhiên của giáo sư Spalding. Vị đạo sĩ
    mỉm cười thong thả tuyên bố :
    - Cái phàm ngã hữu hình, hữu hoại không thể làm việc này mà đó là cái Chân Ngã
    thâm diệu, cái mà ta gọi là thượng đế ngự trong tôi và muôn loài đã khiến con rắn bỏ
    đi, khi hoàn toàn gạt bỏ cái phàm ngã bên ngoài để cho cái Chân Ngã tự biểu lộ, và
    hành động thì không chuyện gì có thể xảy ra nữa. Bằng cách phát triển toàn vẹn tình
    thương và bác ái của thượng đế cho nó xuyên qua mình và ban rải cho muôn loài ta sẽ
    cảm hoá được các thú dữ. Khi ông vừa gặp con rắn, một tư tưởng sợ hãi phát ra, và tôi

    đã nhận được tư tưởng này; ngoài ra hình như ông có ý muốn gặp tôi ?
    Giáo sư Spalding ấp úng :
    - Chúng tôi đang suy tầm các hiện tượng huyền bí Á châu – thú thật là tôi đang cảm
    thấy hoang mang và thất vọng về những điều nhìn thấy ngoài chợ nhưng khi vừa nhìn
    thấy ông, tôi linh cảm có một sự gì khác thường - - Hình như có một mãnh lực vô
    hình nào xui khiến.
    Đạo sĩ chăm chú nhìn giáo sư rồi ra dấu cho ông này ngồi xuống bên gốc cây cổ thụ
    gần đó. Đạo sĩ lên tiếng :
    - Sáng nay trong cơn thiền định, tôi nhận được một thông điệp về các ông, do đó tôi
    mới rời am thất đi dạo bên ngoài. Phải chăng các ông muốn tìm hiểu về phép tu Du
    Già (Yoga)? Đáng lý không bao giờ tôi tiết lộ điều này , nhưng tôi đã nhận thông điệp
    phải giúp đỡ các ông vậy thì ông cứ hỏi, tôi sẽ cố gắng trả lời tuỳ theo sự hiểu của
    mình.
    - Xin ông cho chúng tôi được biết về khoa Du Già (Yoga).
    Đạo sĩ yên lặng trong chốc lát và lên tiếng :
    - Không ai biết rõ pháp môn Du Già (Yoga) bắt đầu từ lúc nào trong lịch sử. Kinh
    sách Ấn độ giáo (Hinduism) nói rằng thần Shiva truyền dạy môn này cho hiền triết
    Gheranda. Nhà hiền triết dạy lại cho các đệ tử của ông nhưng chỉ có Marteyanda là
    lãnh hội được các tinh tuý và phổ biến trong giới trí thức thời đó.
    Du Già (Yoga) là một khoa học bao gồm nhiều thứ từ : thiên văn, địa lý, triết học, toán
    học, v..v.. Pháp môn tôi được truyền dạy gọi là Hatha Yoga, chỉ là một phần nhỏ của
    toàn bộ Yoga. Theo lời sư phụ tôi thì trong thời cực thịnh, Yoga phát triển khắp nơi và

    lôi cuốn giới hiền triết, trí thức rất đông. Theo thời gian, thời hoàng kim đã qua, nhân
    loại đã sa vào hố thẳm của sa đoạ vật chất, bị lôi cuốn vào các cám dỗ xác thịt. Để
    chống lại sự phá sản tâm linh này, các hiền triết đã hội thảo để tìm một giải pháp. Sau
    cùng họ đi đến kết luận là cho phép truyền dạy một phần của môn Yoga cho quần
    chúng, nhằm đem lại một giải pháp cho giai đoạn lúc đó. Phần được truyền dạy này
    trích ở chương Yuj (cái ách) gồm các phương pháp trói buộc tinh thần lẫn thể xác
    trong một kỷ luật khắc khe để đạt mục đích tập trung Tâm và Thân làm một với bản
    thể trời đất. Từ đó phần này được truyền bá khắp nơi và tồn tại đến ngày nay. Vì trích
    ở chương Yuj, nên nó được gọi là Yoga. Nên nhớ đây chỉ là một phần rất nhỏ của môn
    Yoga nguyên thuỷ, vậy mà phần nhỏ này cũng chỉ rất ít người hiểu rõ một cách đứng
    đắn. Đa số đã hiểu sai nên mới có các lối tập luyện kỳ dị, các lối tu khổ hạnh điên rồ,
    các tư thế lố bịch. Như các ông thấy, có các đạo sĩ nằm bàn đinh, dơ cánh tay lên trời
    cho đến khi nó khô liệt. Sự luyện tập như thế không có ích gì mà cũng chả mang lại
    một kết quả gì. Đó là những kẻ làm hoen ố danh dự một môn khoa học như Yoga.
    Đối với đa số, Yoga đã bị hạ thấp xuống thành một môn thể dục để thân thể khoẻ
    mạnh cường tráng.
    Tuy thế, nếu luyện thế đúng cách nó vẫn mang lại nhiều kết quả tốt cho thể xác.
    Nhưng các đạo sĩ (Yogi) lại khác, họ biết rằng luyện tập môn này sẽ giúp họ khám phá
    các năng lực tiềm tàng, mầu nhiệm, giúp họ đạt các phép thần thông biến hoá.
    Để luyện ý chí, họ tập trung năng lực vào các việc như hành xác, bắt nó chịu các thử
    thách cực độ như phơi nắng, dầm sương, ngồi trên than hồng, đứng bằng tay, tréo
    chân lên cổ, nhịn đói, nhịn khát, lấy gươm xiên vào da thịt, v..v…
    Để chứng minh quyền năng ý chí, họ đem trò này ra biễu diễn cho quần chúng để tìm
    cách vừa kiếm tiền, vừa hưởng sự kính trọng của đám dân chúng khờ khạo.
    Mục đích của Yoga đâu phải làm trò lạ mắt cho người đời kính phục.

    Giaó sư Spalding ngắt lời :
    - Nhưng ta có nên trách họ không ? Nếu các đạo sĩ chân tu dấu kín các phép tu chân
    truyền thì sự hiểu lầm làm sao tránh khỏi.
    Đạo sĩ mỉm cười thong thả giải thích :
    - Một ông vua có khi nào phơi bày ngọc ngà, châu báu cho mọi người coi chơi. Ông
    ta cất dấu cẩn thận có phải thế chăng? Pháp môn Yoga còn gì quý bằng nên người tu
    chân chính không khi nào đem rao bán ngoài chợ. Kẻ nào thành tâm muốn học hỏi
    phải ra công tìm kiếm và đó là phương pháp duy nhất. Một danh sư không cần quảng
    cáo rầm rộ vì không cần các đệ tử xúm vào xưng tụng. Trái lại, ông tuyển chọn đệ tử
    gắt gao và chỉ truyền dạy các giáo lý bí truyền khi người đệ tử tỏ ra xứng đáng. Khoa
    Yoga bí mật vì cách luyện tập rất nguy hiểm đối với người non kém, chưa đủ khả
    năng. Khai mở các bí huyệt đâu phải trò chơi tầm thường .
    Có rất nhiều môn Yoga khác nhau, nhưng tôi tu luyện theo môn Hatha Yoga, nhắm
    việc chủ trị xác thân trước khi chủ trị tinh thần. Lúc đầu ta phải luyện tập bắp thịt và
    bộ máy hô hấp cho thật thuần thục, sau đó mới đi vào thần kinh, não tuỷ. Nếu tập
    đúng cách, sức khoẻ sẽ tăng cường, sống lâu và có ý chí mạnh mẽ. Đó chỉ là giai đoạn
    nhập môn, nó đòi hỏi ít nhất từ một đến bốn năm mới đáng kể. Thân thể có cường
    tráng, tinh thần có dũng mãnh mới có thể tiếp tục bước vào giai đoạn kế tiếp.
    Giáo sư Spalding gật gù :
    - Như thế môn này khác phương pháp thể dục của người Âu Mỹ thế nào ? Chúng tôi
    cũng có các cách khiến thân thể khoẻ mạnh.
    Đạo sĩ bật cười lớn :

    - Người Âu Mỹ biết cách làm thân thể nẩy nở trên bộ da, bắp thịt, làm sao so với lối
    luyện tập của người Á châu, vốn chú trọng từ bên trong ra đến bên ngoài. Trước hết
    có bốn cách thức căn bản : Nghỉ ngơi làm xoa dịu thần kinh, cân não. Tĩnh toạ để tập
    trung ý chí. Điều tức để tẩy uế thân thể, khu trục các chất cặn bã, và Khí công để kiểm
    soát hơi thở. Hãy lấy một thí dụ giản dị như việc nghỉ ngơi, hãy quan sát con mèo khi
    nó nằm yên hay rình bên lỗ chuột. Con mèo biết cách dưỡng sức, bảo tồn sinh lực
    không hao phí chút nào. Mọi cử động tư thế là cả một sự suy nghĩ, kiểm soát để thoải
    mái tối đa. Người Âu các ông tưởng mình biết nghỉ ngơi, nhưng thật ra các ông không
    biết gì cả. Các ông ngồi trên ghế một lúc rồi quay bên này, ngả bên nọ. Khi thì tréo
    chân, lúc lại dang tay, coi thì thoải mái nhưng trí óc các ông hoạt động liên miên từ
    việc này đến việc nọ. Như thế chỉ là hoạt động ầm thầm chứ đâu phải nghỉ ngơi. Loài
    vật biết cách dưõong sức bởi vì chúng có bản năng dìu dắt mà bản năng là tiếng nói tự
    nhiên. Loài người được hướng dẫn bằng lý trí, nhưng thay vì làm chủ lý trí, họ đã
    không kiểm soát được bộ óc của họ, nên hậu quả là cả hệ thống thần kinh thể xác thể
    đều bị ảnh hưởng. Sự nghỉ ngơi hoàn toàn gần như không có.
    Giáo sư Spalding thở dài thú nhận :
    - Đó là điều chúng tôi không bao giờ nghĩ đến, nhưng liệu ông có thể nói rõ hơn về
    khái niệm sơ đẳng môn Hatha Yoga không ?
    - Tôi chỉ có thể nói một vài tư thế giúp con người tăng cường sức khoẻ thôi. Có hai
    mươi tư thế (Asana), mà ai cũng có thể tập luyện để tăng cường sinh lực. Các tư thế
    này có ảnh hưởng đến một số bí huyệt khiến nó tác động lên các cơ quan suy yếu,
    giúp nó hoạt động trở lại mạnh mẽ hơn. Khoa học Tây phương đã chứng minh rằng
    ngoài các mạch máu chính, thân thể con người còn có hàng triệu các vi ti mạch chạy
    khắp nơi để đưa dưỡng khí nuôi cơ thể. Nếu một cơ quan hay bắp thịt ít hoạt động
    hay suy yếu, thì số lượng các vi ti mạch (capillaries) cũng giảm bớt đi. Tập thể thao
    hay bơi lội có thể làm các mạch máu nhỏ này gia tăng hoạt động, khiến cơ quan phục
    hồi. Cũng như thế, tập các tư thế Yoga sẽ làm luồng hoả hầu (Prana) lưu chuyển, kích

    động các cơ quan từ trong khiến nó hoạt động nhưng tập Yoga làm nó hoạt động đúng
    với hiệu năng sẵn có. Do đó, nó mang lại nhiều hiệu quả thần diệu hơn. Con người
    không có lo gì bệnh tật nữa, nếu có bệnh cũng sẽ khỏi hoàn toàn.
    Giáo sư Spalding lắc đầu :
    - Tôi không tin người Âu Mỹ sẽ chấp nhận việc tập Yoga chữa được hết bệnh tật.
    Đạo sĩ mỉm cười :
    - Một thân thể khoẻ mạnh, cường tráng làm sao có thể bị bệnh được ? Bệnh tật là do
    sự mất quân bình trong cơ thể. Người Âu Mỹ các ông chỉ biết hoạt động chứ đâu biết
    nghỉ ngơi, thế đã là lý do gây nên các bệnh thần kinh rồi.
    - Thôi được, xin ông nói thêm về cách tập luyện ra sao ?
    Đạo sĩ thong thả giải thích :
    - Việc đầu tiên là phải ngồi cho thoải mái, ngồi trên ghế, nhất là các ghế bành êm ái rất
    có hại cho xương sống, con đường vận hà chính của luồng hoả hầu (Prana), và là
    nguyên nhân gây nên các chứng đau lưng, bại xuội, phong thấp. Phép ngồi thật ra rất
    dễ, chỉ cần ngồi xếp bằng dưới đất, không dựa vào đâu, không nghiêng ngả bên nào,
    giữ cở thể thật thăng bằng, xương sống phải thật thẳng và thở nhẹ, đều đặn. Ai cũng
    có thể thở nhẹ trong vài phút nhưng sau đó sẽ lại thở loạn xạ ngay. Đó là vì bộ óc
    quen hoạt động, quen náo nhiệt. Hãy giữ cho lòng yên tĩnh, vắng lặng không bận rộn
    vào mọi chuyện vớ vẩn. Lúc đầu chưa quen chủ trị tư tưởng thì hãy nghĩ đến một cái
    gì đẹp đẽ, mỹ lệ như bông hoa, giòng suối. Đó là bước đầu cho việc nghĩ ngơi.
    Giáo sư Spalding buột miệng :

    - Như thế đâu có gì khó khăn lắm.
    Đạo sĩ bật cười :
    - Nghỉ ngơi cần gì phải khó khăn, phiền phức. Khi giữ được xương sống thẳng và thở
    hít đều đặn, thì luồng chân khí sẽ lưu thông khắp cơ thể và từ đó sẽ điều chỉnh các
    chỗ bế tắc, ứ đọng trong châu thân. Cách thứ hai là nẳm ngửa trên mặt đất, chân duỗi
    thẳng, đưa hai ngón chân cái ra ngoài. Hai tay buông xuôi bên thân mình, mắt nhắm
    lại để sức nặng toàn thân phân phối đều trên sàn gạch. Nên nhớ phải nằm trên sàn chứ
    không phải trên giường, nhất là giường nệm, vì giường mềm mại khiến thân thể lệch
    lạc không đều. Hãy nằm cho thoải mái, không nên cố gắng thái quá, đầu óc phải
    thảnh thơi, chớ suy nghĩ hay mong mỏi điều gì. Tư thế này sẽ xoa dịu bộ thàn kinh
    khiến nó lấy lại trạng thái quân bình. Nên nhớ nền tảng chính của Hatha Yoga dựa trên
    sự nghỉ ngơi, dưỡng sức chứ không phải hành xác với các tư thế vặn vẹo kỳ cục.
    - Nhưng Yoga có các tư thế đó cơ mà ?
    - Vấn đề đứng ngồi với một tư thế đặc biệt trong một khoảng thời gian không quan
    trọng, nhưng sự tập trung ý chí để thi hành tư thế đó một cách đứng đắn sẽ thúc đẩy
    các mãnh lực tiềm tàng trong cơ thể con người. Những mãnh lực này là bí mật của
    thiên nhiên, nó chỉ phát triển khi người luyện tập phải kèm theo một phương pháp thở
    (Khí công). Tư thế giúp con người chủ trị giác quan, hơi thở giúp con người mở cửa
    vào thế giới tinh thần. Nên nhớ tinh thần và thể xác luôn đi song đôi. Không thể có
    một tinh thần bạc nhược trong một thể xác tráng kiện, hay tinh thần minh mẫn trong
    một thể xác bệnh hoạn. Trong giai đoạn cao của Hatha Yoga, thì hành giả sẽ phải tham
    thiền nhập định rất lâu, thế ngồi của thể xác là điều quan trọng vì nó giúp sự tập trung
    tư tưởng được dễ dàng, giúp hành giả tinh tấn, tăng cường ý chí….
    - Nhưng tôi vẫn thắc mắc về các tư thế kỳ lạ, vặn vẹo thân hình của Yoga như chổng
    ngược đầu, vắt chân lên cổ.

    - Bạn nên nhớ, trung tâm bí mật của hệ thần kinh rải rác nhiều chỗ trong cơ thể. Mọi
    tư thế có công dụng riêng, ảnh hưởng đến một bí huyệt nhất định. Nhờ kích động các
    bí huyệt đó mà ta có thể ảnh hưởng các bộ phận trong cơ thể, cũng như hoạt động trí
    não. Các tư thế lạ lùng chỉ dùng để kích động các bí huyệt mà thôi. Ngoài ra không
    còn gì khác nữa. Bạn phải nhớ kỹ rằng ngoài các tư thế còn có phương pháp khí công
    nữa, chứ không phải chỉ vận động các bắp thịt thôi. Người Tây phương tập thể thao,
    vận động thể xác mạnh mẽ, tiêu phí sức lực để làm nẩy nở bắp thịt. Người Á châu tin
    rằng chính cái sức mạnh ở trong mới điều khiển và chỉ huy các bắp thịt. Bạn cho rằng
    phương pháp chổng ngược chân lên trời (trồng cây chuối) là lố bịch ư ? Tư thế này
    dồn máu xuống bộ óc do trọng lượng của nó. Bình thường máu được đưa lên óc do
    sức vận động của tim. Sự khác biệt ở chỗ để máu tự nhiên dồn xuống óc xoa dịu cân
    não rất có lợi cho ai làm việc nhiều bắng trí óc và giúp quả tim ngơi nghỉ không phải
    cố gắng để đưa máu lên óc. Nhờ tim được nghỉ mà tránh được các chứng đau tim. Khi
    thực hành các tư thế này phải cẩn thận, làm chậm rãi, từ từ, có ý thức, giữ vững tư thế
    trong một thời gian, không nên cố gắng thái quá. Nên nhớ chìa khoá là ở sự nghỉ ngơi
    thong thả, chứ không phải hùng hục. Môn Yoga giúp thân thể tự động điều hoà trong
    sự yên tĩnh, thăng bằng, khác hẳn các lối tập thể thao co tay, múa chân ào ạt của người
    Âu. Làm thế tuy bắp thịt cơ thể nẩy nở, nhưng thân thể náo động, có hại cho thần
    kinh.
    Giáo sư Spalding im lặng không thốt nên lời nào, tất cả những gì người đạo sĩ này nói
    ra đều hợp lý, rất khoa học, không hề có tính chất mê tín dị đoan như ông đã nghe các
    tu sĩ khác thần thánh hoá. Một người Âu trung bình vốn coi rẻ dân tộc Á châu như
    loại người chậm tiến, di sản một miền nóng bức, thiếu ăn, chắc phải ngạc nhiên khi
    thấy từ thời xưa người Ấn đã được giáo dục một cách tập thể dục tối tân, tinh vi, và
    khoa học như thế.
    Đạo sĩ Ấn nhìn ông mỉm cười như đoán được ý nghĩ :

    - Yoga là khoa học của vũ trụ, nó không những chỉ áp dụng riêng đối với dân Á châu,
    mà là khắp nơi. Tôi không thể đi sâu vào chi tiết nhưng dù sao duyên hội ngộ lần này
    cũng tốt đẹp. Tôi giúp ông bạn một chìa khoá bí truyền này. Luật thiên nhiên định
    rằng trung bình con người thở với số nhịp là 21.600 lần mỗi ngày. Sự hô hấp quá
    nhanh làm gia tăng nhịp điệu nói trên và thu ngắn sự sống. Sự hô hấp chậm rãi, kéo
    dài, đều đặn là tiết kiệm sinh lực và kéo dài sự sống, đó là bí quyết khoa Khí công.
    Mỗi hơi thở tiết kiệm sẽ tích tụ lại thành một số dự trữ giúp ta kéo dài sự sống. Các đồ
    ăn có chất kích thích hay hút thuốc làm cho hơi thở dồn dập, giảm số lượng dưỡng khí
    vào phổi , tất nhiên làm ta giảm thọ nhanh. Có lẽ ông bạn còn nghi ngờ ? Khoa Yoga
    ý thức rất rõ sự liên quan chặt chẽ giữa cơ quan hô hấp và tuần hoàn. Cả hai cơ quan
    này liên hệ mật thiết với hệ thần kinh. Bộ thần kinh là chìa khoá vào cánh cửa tâm
    linh, do đó, hơi thở chính là lối vào tinh thần. Nhưng hơi thở chỉ là sự biểu lộ trên địa
    hạt vật chất của một sức mạnh tế nhị hơn. Sức mạnh này mới là cột trụ sinh hoạt xác
    thể, và chính cái sức mạnh vô hình, vô ảnh ẩn tàng trong cơ thể chúng ta mới thực sự
    điều khiển đời sống. Khi nó rời xác thân thì hơi thở ngừng lại và sự chết đến. Sự kiểm
    soát hơi thở giúp ta làm chủ một phần nào luồng sinh lực vô hình này. Khi sự chủ trị
    thân xác được thực hiện đến mức cao siêu, con người sẽ kiểm soát được sự vận động
    các cơ quan trong thân thể như tim, gan ,bao tử, phổi…..
    - Làm sao có thể được, tim ngừng đập là chết rồi còn gì ? – Giáo sư Spalding kêu lớn.
    - Bạn không tin ư, được bạn hãy để tay lên ngực tôi.
    Giáo sư Spalding để tay lên ngực đạo sĩ và tay kia bắt mạch. Một sự rung động lạ lùng
    xảy ra, nhịp tim đập của đạo sĩ từ từ chậm dần và ngưng hẳn. Đây là một ảo tưởng ?
    Giáo sư vội đưa tay xem đồng hồ, đúng một phút im lặng, rồi quả tim bỗng bắt đầu
    đập trở lại. Đạo sĩ mỉm cười giải thích :
    - Bây giờ thì ông tin rồi chứ ? Có lẽ ông nghĩ rằng điều này phản khoa học, tôi xin lấy
    thí dụ sau mà ông có thể kiểm chứng được. Con voi thở chậm hơn con khỉ do đó nó

    sống lâu hơn. Quan sát lối hô hấp loài vật như con rắn chẳng hạn, nó thở rất chậm
    nên sống lâu hơn con chó. Nếu nghiên cứu kỹ, bạn sẽ thấy sự liên h...
     
    Gửi ý kiến