Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hoa Tam Giác Mạch

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:14' 03-12-2024
Dung lượng: 356.9 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:14' 03-12-2024
Dung lượng: 356.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hoa Tam Giác Mạch
Nguyễn Bình
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Sơ lược về tác giả
1. Làm thơ cho buổi chiều chiều
2. Hoa tam giác mạch
3. Vật kỳ lạ biết bay
4. Một cuốn sách cũ
5. Một người bạn
6. Khám phá
7. Những câu chuyện của bà Cáy
8. Bài ca người gùi đất
9. Cột đá tử thần
10. Con đường đến trường
11. Đi Pà Lủng
12. Nơi trời nước gặp nhau
13. Nơi ngập tràn nắng chiều
1. Làm thơ cho buổi chiều chiều
Một nỗi buồn nho nhỏ lửng lơ trong không trung, một chút vấn vương bay theo gió, một chút
nhớ thương hoà trong nắng, một chút tình trải dài với núi sông,... Trong làn khói bếp mờ bay,
lòng người da diết nhớ, tìm hơi ấm, tìm lời ru, tìm cảm giác thân quen, tìm con đường đi về,...
Và hình như càng tìm càng thấy lạ, càng thấy vắng, càng thấy lẻ loi, càng cô đơn và buồn!
Chiều.
Xóm núi hơi kém nắng, chỉ đủ đọng lại thành vệt óng lên như dải lụa nhuộm sáp ong, vương
vào mái nhà, vương vào rặng cây, vương vào vạt nương đang trổ cờ trắng xoá.
Chiều.
Mẹ lảy cái bắp non, sữa ngô ứa ra bàn tay...
Mùi thơm bay ra ngào ngạt nơi đầu ngõ, từng chiếc bánh ngô xinh xắn bọc trong tàu lá chuối,
vàng ngầy ngậy, ngọt lịm nơi đầu lưỡi...
Dáng mẹ bé nhỏ ẩn hiện giữa rừng ngô, hôm thì hứng nắng, hôm thì hứng mưa,... Mẹ về nhà,
bóng chiều ùa về, con đường nghiêng nắng còn hằn in dấu chân mẹ!
Chiều.
Chị đi lấy chồng, trong câu chuyện bà kể, nước mắt tiễn chân đi. Con đường chị bước, một bên
là con đường yêu, con đường thương, có người mong nhớ; một bên là con đường gả bán, con
đường gán nợ, con đường khổ ải, con đường trần ai. Chị giận người mối, chị giận người mai, chị
giận ông trời đã se sai duyên thắm, đưa chị đến con đường lầm, đưa chị vào con đường tối, dẫn
lối chị xuống vực sâu... Chị đi lấy chồng trên con đường dát nắng mà trong lòng tầm tã mưa rơi.
Chiều.
Bố đi nương về, mồ hôi ướt áo, ướt cả bó cỏ bố gùi trên lưng cho con bò có cái ăn buổi tối.
Và đấy, khói bếp lam chiều gieo trên mái nhà, gieo vào hàng cây bên bờ suối, gieo vào núi, gieo
vào mây, gieo vào lòng người miền thương nhớ, và tự nhiên trong sâu thẳm tâm hồn đưa ta về
với hương thơm đồng nội, với những ký ức ngọt ngào, với nét duyên quê đằm thắm, với làn hơi
cơm mới gọi mời...
Chiều.
Nơi xa xôi nào đó, nơi cõi lòng mơ ước, nơi chốn thần tiên, trong câu chuyện bà kể, người với
người chan hoà thân thiện, cuộc sống luôn vui tươi đầy ắp tiếng cười...
Và ta, đang mơ khi ngắm chiều, ngắm chiều mà như mơ, để rồi bất chợt nhận ra cái màu hồng
tươi đỏ ấy ẩn chứa một điều gì đó khác lắm, lạ lắm so với những cái vẫn gặp hàng ngày.
Khi ráng chiều dần tắt, ở nơi tít tắp xa kia chợt ánh lên một tia sáng rất nhỏ, rất nhỏ, rất nhỏ
thôi, làm thế giới quanh ta trở nên mờ mờ ảo ảo, một không gian như thơ như mộng cho ta
tưởng nhiều hơn, thấy ít đi...
Và cứ thế, chiều vẫn cứ là chiều mà ta ngắm hoài không chán!
2. Hoa tam giác mạch
Mí Chứ đã không nén nổi nỗi lòng trào dâng niềm thèm khát được thấy buổi chiều rơi nơi sườn
núi nhô lên như bờ vai con trâu mộng, nơi sóng đá vỗ thì thùm vào gió, vào nắng, vào bìa rừng
xanh xanh...
Bước chân Mí Chứ đã khựng lại khi gặp mùi hương thơm nồng của hoa tam giác mạch thoảng
bay. Những đoá hoa li ti mong manh, nếu đứng một mình gió có thổi thì hãy nhè nhẹ hơn một
chút, đừng mạnh quá như thế, chỉ hiu hiu thôi kẻo nát cánh hoa.
Đứng trước đoá hoa Mí Chứ có cảm tưởng như đó là báu vật của trần gian, là những gì tượng
trưng cho sự mềm mại, là hình mẫu của sự mỏng manh, là chân lý của sự sống... - điều này là
của riêng Mí Chứ!
Vậy mà, ngay phía trước kia thôi có cả một rừng hoa kéo dài đến tận chân núi, triệu triệu bông
hoa tam giác mạch đan cài với nhau, trắng, hồng, đỏ, tím cùng khoe sắc làm ngợp con mắt
nhìn. Nắng, gió và hoa đang đùa vui, chúng hò hét đuổi nhau làm rạp cả cỏ cây gần đó.
Bà kể nàng Tiên Gạo và nàng Tiên Ngô đi gieo hạt nơi hạ giới, mày trấu mày ngô chẳng biết
làm gì bèn đổ vào khe núi. Cây ngô, cây lúa lớn lên cho hạt. Người người lấy hạt về ăn. Khi ngô
hạt lúa trong nhà đã cạn mà vụ sau vẫn chưa tới, cái đói về u ám bản làng, chiều đã buông dài
nơi rừng cây mà vẫn chưa thấy ai nhóm bếp. Một hôm mọi người họp nhau lại rồi chia đi khắp
núi rừng để tìm cái ăn. Nhiều ngày trôi qua, nhiều nơi đã đến, nhiều hang cùng góc núi đã lục
tìm mà vẫn chưa thấy gì có thể làm no cái bụng. Một hôm, thoảng bay trong gió mùi hương là
lạ, từ trước đến giờ chưa ai được ngửi. Mọi người cùng tìm đến khe núi, và ai nấy đều ngỡ
ngàng, một rừng hoa li ti trải dài suốt từ núi bên này sang núi bên kia, nhìn kỹ mới thấy những
cái lá có hình tam giác ẩn nấp khá kín ở dưới hoa. Khi kết hạt mọi người đem về ăn thử thấy
ngon không kém gì ngô và gạo. Cái bụng đã ngủ yên không lóc óc đòi ăn nữa. Khói bếp lại bay
lên mỗi chiều. Vì là họ nhà lúa, được nảy lên từ mày lúa mày ngô, nên gọi là mạch, lá có hình
tam giác, và thế là nó có tên “tam giác mạch”.
Mí Chứ đi tiếp, qua nương tam giác mạch là đến con đường mòn lên núi. Mí Chứ đã đặt chân lên
con đường mòn rồi mà mùi hương nồng nàn kia vẫn còn đuổi theo, như muốn níu lấy bước
chân, muốn bầu bí tâm tình lâu hơn chút nữa,... Mí Chứ phải đi thôi, không ở lại được. Nắng đã
nghiêng xuống núi rồi, sắp sang buổi chiều rồi. Mí Chứ phải nhanh chân hơn nữa để kịp đến
nơi ấy đúng lúc ánh chiều rơi xuống!
3. Vật kỳ lạ biết bay
- Mí Chứ ơi!
Tiếng bố gọi làm Mí Chứ giật mình. Mí Chứ đang ngắm con mèo con luyện tập trò ẩn nấp, nhảy,
vồ con mồi là cái lá ngô khô rơi ở trái nhà, gần khung dệt vải.
- Dạ!
Mí Chứ vừa mới thưa định chạy vào trong nhà xem bố gọi có việc gì thì bố đã đứng ngay phía
sau. Trên lưng bố đã đeo sẵn chiếc quẩy tấu.
- Bố đi đâu đấy ạ? - Mí Chứ hỏi.
- Bố đi lên rừng. Con có muốn theo đi không?
Mí Chứ còn đang ngập ngừng thì bố nói tiếp:
- Con có tờ giấy viết đã không còn sử dụng nữa thì lấy cho bố xin mấy tờ.
- Bố dùng giấy làm gì ạ?
- Bố dùng giấy vào việc bí mật. Con muốn biết thì đi theo bố?
Mí Chứ chạy vào nhà, tìm quyển vở cũ từ năm ngoái, tách lấy mấy tờ giấy ở giữa rồi vội vàng ra
đi. Mí chứ thấy bóng bố thấp thoáng nơi đầu ngõ. Mí Chứ chạy theo, tờ giấy đập vào gió kêu lên
từng hồi đau đớn.
- Cầm cẩn thận kẻo rách giấy, con!
Mí Chứ cuộn tròn tờ giấy thành một cái ống to bằng cổ tay rồi đưa cho bố. Bố cầm cuộn giấy
cho vào trong cái quẩy tấu đeo sau lưng. Hai bố con đi theo con đường mòn lên núi, nắng đang
ửng hồng màu đất đỏ. Bầu trời xanh trong thăm thẳm cao, đâu đây vọng lại tiếng chim gọi đàn.
- Con thấy gió hôm nay thế nào? - Bố hỏi.
Mí Chứ nhìn rừng, nhìn đám cây bụi nơi sườn núi trước mặt.
- Gió không mạnh lắm, thổi theo cơn, theo hướng chúng ta đang đi, nhưng sao bố lại hỏi con về
gió ạ?
- À, bố định cho con xem một điều kỳ lạ có liên quan đến gió.
Hai bố con đã đi gần đến đám nương của gia đình, bỗng bố rẽ sang hướng khác theo con đường
mòn leo lên dãy núi đối diện với núi Xín Chải, ngọn núi này không cao mấy nhưng có nhiều cây
to mọc quanh sườn. Đi tiếp một đoạn, bố lại rẽ sang hướng khác bỏ con đường mòn lại phía
sau. Qua mấy gốc cây to đến một cái hang như tổ chim treo nơi sườn núi. Bố đi vào trong hang,
Mí Chứ theo sau. Hang không rộng, không cao, không sâu và có một khoảng nhỏ bằng phẳng
ngay gần cửa. Bố hạ quẩy tấu xuống đất, bỏ con dao lên tảng đá, bỏ tiếp mấy tờ giấy cạnh con
dao. Bố leo lên hòn đá phía trong với lên khe đá gần đỉnh hang lấy xuống một vật lạ được làm
bằng tre. Vật lạ gần giống với con én xoè cánh bay, chỉ có khác là nó có hai cánh giống như con
số tám nằm ngang.
- Con ngồi đợi bố một lát nhé!
Bố dặn Mí Chứ rồi cầm con dao vội vã ra đi.
- Bố đi đâu đấy ạ? - Mí Chứ với hỏi.
- Bố vào rừng, con ngồi đợi một lát bố quay lại ngay ấy mà.
Mí Chứ ra cửa hang đứng. Bố đi nhanh lắm, một loáng đã khuất sau khe núi gần rừng cây. Mí
Chứ nhìn ra xa, sau núi Xín Chải là một dải xanh thẫm chạy dài. Mặt trời đang xuống dần nơi
bên kia dãy núi. Gần ngay nơi đang đứng là dãy núi thấp cây cỏ mọc chằng chịt. Xen giữa những
sườn núi thấp là nương trồng ngô.
- Con đang ngắm gì thế?
Tiếng bố làm Mí Chứ giật mình. Bố đã về, trên tay là cái lá cây cuộn khum lại, phía trong đựng
nhựa cây màu trắng. Bố đi vào trong hang, đặt chiếc lá vào khe đá. Bố lấy tờ giấy đặt lên hai cái
cánh có hình số tám của con én rồi lấy nhựa bôi vào tờ giấy và dán lại. Tiếp đến phần đuôi con
én. Dán xong bố cắt tờ giấy còn lại thành những dải dài, rồi dán dải giấy vào phần đuôi cho
lòng thòng xuống dưới. Bố lấy trong quẩy tấu ra một cuộn lanh, buộc hai đầu sợi lanh vào hai
mép trong của cái cánh số tám và buộc tiếp một sợi dây vào phần nhỏ nhất của đuôi én, sau
nữa buộc đầu dây của cuộn lanh vào đoạn giữa của ba đoạn dây ấy.
- Xong rồi! - Bố nói. - Con thấy có đẹp không?
- Đẹp ạ! Nhưng để làm gì hả, bố? - Mí Chứ lại hỏi.
- Lát nữa con sẽ thấy, bây giờ hai bố con ta phải leo lên đỉnh ngọn núi kia.
Mí Chứ nhìn ra ngọn núi bố vừa chỉ, nó chỉ cao hơn chỗ đang đứng một ít nhưng nằm ở giữa
thung lũng, đỉnh núi có một đám đất khá bằng phẳng cỏ mọc xanh rì.
- Lên đỉnh núi ấy làm gì hả, bố?
- Nơi ấy mới có gió, gió thổi theo chiều dọc của thung lũng, tí nữa con sẽ thấy gió có tác dụng
gì.
Gần đến nơi Mí Chứ đã cảm nhận được gió ở đây thổi nhiều hơn, thổi miết một chiều chứ
không thành cơn và quẩn lại như nơi khác. Bố đưa con én có cánh hình số tám cho Mí Chứ rồi
bảo đứng xa ra cuối gió, còn bố đi về đầu gió. Mí Chứ ngắm kỹ hơn con én thấy hai cánh của nó
có hai điển mười bài tập toán, phía đuôi có một điểm mười bài tập tiếng việt, nét bút màu đỏ
của cô giáo vẫn còn nguyên, cạnh đó nét chữ xanh của Mí Chứ đã bị nhoè đi đôi chỗ.
- Được rồi Mí Chứ ơi!
Mí Chứ xoay người lại nhìn bố.
- Con giơ cao lên rồi thả tay ra!
Mí Chứ nâng con én lên, ba cái dải dài ở đuôi con én bị gió thổi vắt ngang vào cổ. Mí Chứ đưa
tay gỡ cho nó bay về phía sau. Mí Chứ nâng tiếp con én lên cao quá đầu rồi thả tay. Bố kéo căng
sợi dây, con én lao vút lên trên cao. Mí Chứ thấy lạ quá cứ ngửa cổ lên ngắm mãi. Lần đầu tiên
nó thấy có cái khác cũng bay được ngoài chim và mây.
- Con lại đây Mí Chứ ơi!
Mí Chứ chạy về phía bố đang đứng. Vừa chạy Mí Chứ vừa ngoái đầu nhìn con én đang bay cao
dần.
- Con thấy có đẹp không? - Bố hỏi.
- Đẹp ạ! - Mí Chứ trả lời.
- Con cầm lấy này. - Bố nói và đưa cho Mí Chứ cuộn dây. - Muốn nó bay cao hơn con hãy từ từ
nới dây dài ra, còn nếu không thì giữ nguyên hoặc thu dây lại.
- Vâng ạ! - Mí Chứ đáp.
Mí Chứ đưa hai tay cầm cuộn dây khi bố trao. Mí Chứ cầm thật chặt. Một cảm giác là lạ ở nơi
bàn tay, sức căng của sợi dây siết lên bàn tay, gió thổi mạnh sợi dây căng hơn con én bay cao
hơn. Mí Chứ nới dây ra thêm một đoạn nữa rồi giữ nguyên.
- Con ở đây một mình nhé. - Bố nói với Mí Chứ.
- Bố đi đâu ạ? - Mí Chứ hỏi lại.
- Bố đi lấy củi. Con ở một mình được chứ?
- Được ạ!
Bố cầm dao đi vào rừng bỏ lại chiếc quẩy tấu ở gần chỗ Mí Chứ đứng. Bố đi khuất sau tán cây,
Mí Chứ thấy lòng trống vắng, lẻ loi, một cảm giác chênh vênh như đứng trước vực thẳm. Mí Chứ
thấy lạ. Đã bao lần Mí Chứ lên núi và ở một mình nhưng chưa bao giờ nó có cảm giác như vậy.
Mí Chứ ngước nhìn lên trời, con én có ba điểm mười đang đứng yên một chỗ. Ánh nắng đã
khuất sau dãy núi Xín Chải, khu rừng và nơi Mí Chứ đứng cũng không còn nắng, chỉ có con én
bay tít trên cao là vẫn được hứng nắng và đang sáng rực lên.
Bố đã về từ lúc nào mà Mí Chứ không biết. Khi nghe tiếng dao chặt củi Mí Chứ mới quay lại
thấy bố đang nhét số củi vừa lấy được vào quẩy tấu, cái nào dài thì chặt cho ngắn bớt đi.
- Thu dây vào chuẩn bị về thôi con ơi!
Mí Chứ cuộn dần dây vào con "cầu tua". Con én thấp xuống dần. Bố đã nhét xong bó củi vào vừa
đầy chiếc quẩy tấu. Bố bê ra gần chỗ Mí Chứ đứng.
- Con để bố thu cho.
Bố cầm lấy con "cầu tua" quấn thoăn thoắt, con én thấp xuống trông thấy, chả mấy chốc nó đã
xuống đến mặt đất. Bố đưa cho Mí Chứ:
- Ta về thôi!
Mí Chứ giơ con én cao quá đầu tung tăng chạy trước bố.
- Con có thích nó không? - Bố hỏi khi Mí Chứ dừng lại đợi.
- Thích ạ! - Mí Chứ trả lời không do dự.
- Bố tặng con đấy!
Mí Chứ lại chạy lên trước, con én lại cất cánh bay.
Sau này Mí Chứ mới biết nó là cánh diều, lúc ấy thấy lạ quá, vui quá nên quên không hỏi bố xem
cái đó gọi là cái gì. Thấy hay hay, Mí Chứ chỉ biết nhìn, biết ngắm, rồi say không còn nghĩ ra
được cái gì nữa. Về đến nhà Mí Chứ cất ngay con én lên trên gác không cho ai nhìn thấy.
Tối hôm ấy đến giờ đi ngủ mà Mí Chứ vẫn còn ngồi nói chuyện với bố. Mẹ phải nhắc mấy lần Mí
Chứ mới uể oải đứng dậy lên giường nằm. Trên giường Mí Chứ còn cố nhỏm cổ ra ngoài màn
nói chuyện với bố. Bố vẫn ngồi ở bếp sưởi cầm ống điếu hút thốc lào. Bố nhắc lại lời mẹ mấy
lần Mí Chứ mới chịu nằm yên để ngủ.
Và rồi Mí Chứ cũng ngủ. Mí Chứ đã nằm mơ. Trong mơ Mí Chứ thấy mình có cánh và biết bay.
Mí Chứ bay như chim, bay từ ngọn núi này sang ngọn núi kia, từ cánh rừng này sang cánh rừng
khác, bay qua những nơi đã biết, đã đặt chân đến, bay qua cả những nơi Mí Chứ chưa biết, chưa
đặt chân đến bao giờ...
"Thật là tuyệt vời!" - Mí Chứ đã nói như vậy trong mơ.
4. Một cuốn sách cũ
Sau một hồi tìm kiếm trong thư viện của trường Mí Chứ cũng tìm được một cuốn sách có nói
về cánh diều. Cuốn sách không dày và cũ, một lớp bụi bay lên khi Mí Chứ động tay vào, trang
bìa đã mất, tên sách và tên tác giả cũng không còn. Mí Chứ hỏi mượn, cô thủ thư nhìn qua rồi
bảo cứ cầm về, không cần vào sổ.
Về đến nhà Mí Chứ treo chiếc cặp lên vách rồi đem cuốn sách ra đầu nhà ngồi lên khúc gỗ
nghiến bố kéo từ rừng về nhâm nhi từng con chữ.
Trang đầu tiên của cuốn sách được bắt đầu từ con số bảy, và chỉ còn nửa cuối của trang, phần
đầu đã bị xé mất. Trang tám cũng không khác gì trang bảy. Mí Chứ định bỏ qua phần bị rách
nhưng lại tò mò muốn biết ở đó còn lại những gì. Mí Chứ ngần ngừ một lát rồi quyết định đọc:
“...sau buổi chiều, ánh nắng đã yếu đi, sân kho hợp tác thóc được vun lại thành đống cao như mái
nhà, từng đống thóc vàng ngồn ngộn như những trái núi nhỏ. Lũ trẻ con chúng tôi bắt đầu đem
diều ra thả, diều lá mít, diều lá tre, diều cánh cốc, diều cánh dơi, diều cánh bướm... được tung lên
bầu trời, tiếng sáo, tiếng màng mây màng tre hoà quện với nhau thành dàn đồng ca của chiều
quê. Làn gió thổi cong những ngọn tre làng, làn gió nâng cánh diều lên cao. Bầu trời xanh trong
ngăn ngắt, thảng hoặc có làn mây trắng dạo chơi.
Bọn tôi ngồi quây quần lại với nhau thi xem diều của ai lên cao nhất, diều của ai ít chao nhất, dây
của ai ít võng nhất...”
Trang bảy chỉ có vậy. Trang tám còn ít hơn.
"... Chúng tôi lấy que cắm xuống mặt ruộng rồi buộc dây diều vào đó. Những mô rạ trên cánh
đồng sau mùa gặt là nơi ẩn nấp chơi trốn tìm của bọn tôi đồng thời là nơi phân chia biên giới
lãnh thổ để chơi trò trận giả. Khi tan cuộc thì mô rạ không còn nữa mà bay tứ tung khắp mặt
ruộng. Chúng tôi đã từng bị ăn đòn vì trò nghịch ngợm đó nhưng chẳng có thằng nào chịu chừa.
Khi có đứa rủ lại ào xuống ruộng, rơm rạ lại bay tứ tung..."
Trang chín không biết đã đi đâu mất, phía sau là trang mười.
Mí Chứ gấp sách lại ngắm nghía, một sự tiếc nuối trào dâng trong lòng.
Mí Chứ đọc tiếp các trang sau, truyện viết về một làng quê của miền xuôi, thanh bình và rất
đẹp. Những ngày hội làng, những cuộc thi diều, những trò nghịch ngợm của đám trẻ chăn trâu...
Mí Chứ đã có được một vài kiến thức nho nhỏ về cánh diều, về cuộc thi diều... Những trang
sách viết rất sôi động. Mí Chứ đọc mà như được nhìn tận mắt, được cùng tham gia, cuốn hút
đến lạ lùng. Có truyện khi đọc xong Mí Chứ phải dừng lại một lúc để nghe tiếng lòng ngân vang.
Có truyện khi đọc đã làm Mí Chứ ứa nước mắt.
Mí Chứ thương bé An có một tuổi thơ thật khổ, cha mẹ mất sớm, bé sống với người bác họ,
ngày ngày bé phải đi chăn trâu, cắt cỏ, làm việc luôn tay.
Thấy chúng bạn cắp sách đến trường, bé đứng nhìn mà thầm ước sẽ có ngày cũng được như
vậy.
Thấy chúng bạn cùng bố mẹ đi chơi, bé nhìn theo họ rất lâu.
Thấy chúng bạn chơi diều, bé cũng hí hoáy làm cho mình một cái. Bé đã giấu cánh diều bé nhỏ
ấy ở bụi tre gai đầu xóm, bởi người bác đã cấm rồi mà đem về nhà thế nào cũng bị xé rách,
thêm nữa mông và lưng chắc chắn sẽ bị hằn lên những vết tím bỏng rát.
Buổi chiều hôm ấy bé An đã thả cánh diều của mình vào không trung rồi buông dây ra cho
cánh diều được bay cao, bay xa mãi mãi...
Cuộc đời của bé Thu cũng rất đặc biệt, bé có cha có mẹ nhưng không ai chịu nuôi bé. Hôm ấy
trời mưa, bé nhớ rõ là như thế, mẹ dắt bé đến một ngôi đền nhỏ và giao bé cho ông từ coi đền.
Ông từ chẳng có quan hệ họ hàng gì với bé, mọi người bảo thế. Bé đã khóc và đòi theo mẹ
nhưng ông từ đã ôm chặt bé vào lòng, bé vùng vẫy mãi nhưng không thoát ra được. Mẹ đi rồi,
bé ngồi bệt xuống nền gạch mà khóc. Ông từ dỗ thế nào bé cũng không chịu nín.
Ông từ là một người đặc biệt, ông không lấy vợ, cả cuộc đời gắn bó với ngôi đền.
Chiều chiều khi quét lá đa rụng bé ngóng ra ngoài ngõ rất lâu, bé luôn tưởng tượng ra bóng
dáng mẹ đang đi vào sân và giang hai tay ra đón bé.
Chiều nay bé vừa quét xong, đám lá đa được vun gọn vào góc sân, gió lại thổi làm rụng những
chiếc lá mới. Bé lại quét, lá vàng lại rơi, và nắng đang tắt dần.
Mí Chứ dừng đọc. Mí Chứ thấy thương các bạn ấy quá. Mí Chứ muốn sẻ chia mơ ước và nỗi
buồn với các bạn. Mí Chứ ôm cuốn sách vào lòng, thả tầm nhìn ra nơi rừng cây phía trước. Tất
cả chìm vào trong yên lặng, gió cũng lặng yên.
Mí Chứ mở lại cuốn sách. Mí Chứ muốn nhìn lại những trang sách mà mình vừa mới đọc, những
trang sách gói ghém biết bao tình cảm đậm đà với quê hương, tình yêu giữa con người với con
người...
Cuốn sách được cất đi, Mí Chứ đã đọc từ đầu đến cuối không sót một chữ nào.
Nắng đang vàng lên óng ả khắp núi rừng. Mí Chứ ra khỏi nhà. Mí Chứ đi theo nắng.
Gió ở đâu ùa về làm nghiêng ngả những bóng cây.
5. Một người bạn
Buổi chiều hôm ấy cái xóm nghèo của Mí Chứ đã đón thêm một gia đình mới. Mí Chứ có thêm
một người bạn. Tình cờ mà như định mệnh, hai đứa vừa thấy nhau mà như đã quen thân tự
thủa nào.
Người bạn ấy có hoàn cảnh thật đặc biệt, mẹ đi lấy chồng từ năm mười hai tuổi, đến năm mười
sáu bị chồng đuổi về nhà. Ông ngoại hằm hằm tức giận không nhận con và xua đi như xua con
ma ác. Mẹ nó không còn chỗ đi đã quỳ xuống xin ông ngoại cho ở tạm nơi trái nhà mấy ngày.
Ông ngoại kiên quyết không cho bước qua khu vực hàng rào đá, ông đẩy ra ngoài và đóng cánh
cổng lại. Mẹ nó bám chặt lấy cánh cổng. Ông ngoại giơ chân đạp ngã lăn ra ngoài rồi cài then, và
khoá lại. Mẹ nó ngồi nguyên như vậy nhìn vào nhà mà khóc. Mặt trời ló lên rồi đứng bóng, rồi
xế sang chiều.
Bà ngoại ở trong nhà thương mẹ nó cũng chỉ biết rấm rứt khóc theo chứ không dám làm trái
lời của ông ngoại.
Đến chiều tối bà ngoại lén quẳng cho mẹ nó ít mèn mén, một cái nồi, một cái muôi, một con
dao cùn và hai cái bát sứt miệng. Mẹ nó nặng nề lê bước chân ra đi, bóng tối bao trùm lên rừng
núi.
*
Có một anh chàng mồ côi từ thủa nhỏ, nhà rất nghèo, vì mồ côi và nghèo quá nên anh ta không
lấy nổi vợ mặc dù đã qua tuổi hai mươi. Con trai vùng này thường lấy vợ từ lúc mười ba mười
bốn tuổi, có người muộn hơn nhưng rất hiếm qua tuổi hai mươi. Nếu có qua tuổi hai mươi thì
chí ít cũng đã có chỗ đặt lễ dạm hỏi. Anh ta đã qua hai mươi hai tuổi chưa có chỗ đặt lễ dạm hỏi
chắc cũng khó còn cơ hội lấy được vợ. Hôm ấy anh ta lên rừng đào củ đã gặp người con gái
sống một mình trong rừng. Từ sự đồng cảnh đến đồng lòng, họ về sống với nhau trong căn nhà
gianh xiêu vẹo không cần qua một nghi thức cưới xin nào. Mí Nô đã ra đời sau đó gần một
năm.
Họ làm lụng tất bật từ sáng đến tối mịt, ăn uống chi tiêu rất dè sẻn,... Ngô lúa về nhà ngày một
nhiều thêm, rồi trâu bò dê lợn cũng về, những thứ mà chỉ mấy năm trước họ có nằm mơ cũng
không dám nghĩ tới thì bây giờ đang đầy ăm ắp trong nhà.
Năm Mí Nô bốn tuổi, ngôi nhà gianh được phá đi, dựng trên nền đất cũ là ngôi nhà ngói to nhất
nhì xóm.
Năm nó tám tuổi, được theo bố đi chăn bò, con trước đi theo con sau nó đếm được mười chín
con, đàn dê chạy phía sau thành một hàng dài.
Năm nó mười một tuổi, bố nó lấy mẹ hai. Bây giờ bố nó là người có của, lấy một chứ ba bốn bà
mẹ cũng vẫn có người theo. Mẹ hai của nó mới có mười sáu tuổi. Nhiều người khen mẹ hai nó
có nhan sắc.
Về ở cùng nhà với mẹ con nó nhưng mẹ hai nó chẳng chịu làm gì. Mọi công việc lớn nhỏ trong
gia đình đều đến tay mẹ nó. Sáng, mẹ nó dậy rất sớm đồ mèn mén cho cả nhà rồi vội vã đi
nương. Bố nó và mẹ hai ngủ đến lúc mặt trời làm khô hết sương trên lá cây mới uể oải rời khỏi
giường. Mẹ hai bưng bát mèn mén lên và vào miệng, giận dữ đặt cái bát xuống bàn đánh cộp:
- Cứng thế này ăn sao được!
Bố nó không nói gì. Mẹ hai nó giận dỗi bỏ ra ngoài cửa đứng. Bố nó ra theo dỗ dành một lúc lâu
mẹ hai nó mới bớt đi cơn giận dữ. Và đến khi mẹ hai nó chịu nở một nụ cười trên môi thì bố nó
vội vã lên rừng xẻ gỗ. Bố nó đi rồi mẹ hai nó vào nhà lấy cái bát rõ to múc đầy mèn mén, gắp
rau, chan canh, ngồi ăn ngon lành một lèo hết nhẵn nhụi, thả cái bát vào chậu, ung dung đi chơi
quanh xóm. Đến trưa, mẹ hai nó lại về ăn hết một bát mèn mén như thế nữa, lại thả bát vào
chậu, lại đi chơi.
Tối, bố mắng mẹ. Mẹ nó không nói gì.
Sáng, mẹ hai vừa đưa bát lên miệng đã giận dỗi đem đổ mèn mén vào chảo cám lợn, quẳng cái
bát lăn lông lốc trên nền nhà.
- Nát thế này thì chỉ có lợn ăn được!
Khi bố nó đi làm mẹ hai lại ăn ngon lành hết một bát mèn mén rõ to rồi đi chơi, trưa về cũng ăn
hết một bát to rồi lại đi chơi.
Tối, bố nó lại mắng mẹ.
Mẹ nó không hề nói lại một lời.
Mẹ hai còn nói bóng gió bảo mẹ nó là đồ ăn hại và xúi bố nó đuổi ra khỏi nhà, đuổi đi cho khỏi
ngứa mắt, cho khỏi bực tức, cho khỏi khó chịu. “Sống cùng nhà với chị ta như thế này tôi thà ăn
lá độc để chết còn sướng hơn!” - Mẹ hai nó luôn mồm nói như vậy khi phật ý điều gì.
Bố đã nghĩ mẹ nó cậy là cả bắt nạt mẹ hai nên luôn đứng về phía mẹ hai mắng mẹ nó.
Mẹ nó không hề nói lại một lời.
Một hôm, mẹ nó nhét toàn bộ tư trang vừa gọn trong chiếc quẩy tấu. Mẹ hỏi nó:
- Con có đi với mẹ không?
- Đi đâu ạ? - Nó hỏi lại.
- Đi đến một nơi xa.
Nhìn vào mắt mẹ, nó đọc được nỗi buồn sâu thẳm, thế là nó quyết định, nó theo mẹ.
Nó đến một nơi xa lạ vào lúc chiều tà. Người mà nó gặp đầu tiên là Mí Chứ ở đầu xóm. Mẹ nó
hỏi Mí Chứ về một người đàn bà. Mí Chứ biết người ấy, đó là bà Cáy, một người neo đơn của
xóm, ở trong ngôi nhà rách nát chỉ nhỉnh hơn cái nhà làm nương một chút. Bà Cáy xưa kia có
lấy chồng hai lần và cũng bỏ hai lần chồng vì bà không có con. Người không có con thì phải bỏ
chồng để chồng lấy vợ khác, để nhà chồng có thêm con thêm cháu. Về già bà ở một mình trong
căn nhà tạm bợ, vào ra một bóng, vắng lặng tiếng nói tiếng cười...
Mí Chứ hay thấy bà ngồi ở đầu nhà ngắm chiều buông một mình, đôi mắt nhìn vô định. Mí Chứ
thương bà lắm và thường đến ngồi nói chuyện với bà, nghe bà kể chuyện, giúp bà vài việc nho
nhỏ như gùi nước, lấy củi, nhặt rau, nhóm bếp,... Những lúc ấy bà vui lắm, khuôn mặt rạng ngời,
nói cười luôn miệng.
Bà Cáy đã nhận ra Mí Chứ từ rất xa và hầu như dửng dưng với hai người vừa đến. Một lúc sau
bà mới nhớ ra đó là người họ hàng. Họ xin bà cho ở cùng. Bà đồng ý ngay không cần hỏi lý do.
Mí Nô theo mẹ cất các thứ vào trong nhà rồi xuống bếp làm cơm chiều. Mí Chứ đã nhóm lửa
cháy lên, hai đứa cho nước vào nồi rồi đặt lên bếp. Bà Cáy lấy rau về nhà, bà hỏi chuyện Mí Nô,
bà hỏi chuyện Mí Chứ, bà hỏi đủ thứ chuyện, hôm nay bà nói nhiều hơn mọi ngày.
6. Khám phá
Mí Chứ đã tới góc rừng, nơi cuối con đường mòn có bốn cây lát hoa cổ thụ mọc liền kề nhau.
Chiều về, bóng cây đổ dài thành một đường thẳng. Hôm nay hình như có điều gì khác lạ, gió
thổi thành từng cơn rung rinh tán lá, bóng cây nơi mặt đất vuông tròn nghiêng ngả. Có lần Mí
Chứ đã dừng lại ở đây rất lâu ngắm con đường mòn sáng rực lên dưới nắng.
Từ đây đến chỗ sườn núi của Mí Chứ vẫn còn một đoạn xa.
Bố kể, xưa kia núi Xín Chải nhiều cây lắm, có cây to đến mức đi bộ mất hai ngày mới được một
vòng quanh gốc, ấy là lúc trời đất còn ở gần nhau. Chim muông, sư tử, hươu, nai, gấu, khỉ,... rất
nhiều, chúng nhảy múa ca hát suốt ngày, rừng núi luôn ồn ào náo động. Những người thợ săn
quanh vùng không ai dám lên núi, không ai dám bắn thú rừng trên núi. Trước họ đã có bao
người đi qua nơi ấy mà không thấy về, giơ nỏ bắn chim trên núi, về nhà tự nhiên đau ốm rồi
không thở được nữa.
Trong vùng có người thợ săn lừng danh tên là Sùng Chá Toả có tài phi lao mười lần trúng một
chỗ, có tài bắn nỏ mười mũi tên nối đuôi nhau. Anh đi chu du khắp đó đây, số thú rừng bị anh
ta giết hại không làm sao đếm xuể. Một hôm đến chân núi Xín Chải nghe mọi người kể và nghe
tiếng đàn nhạc của chim thú vọng vang bước chân bồn chồn muốn được đi ngay lên núi. Anh rủ
thêm mấy người bạn nhưng họ đều khéo léo chối từ. Anh nghĩ núi nào mà chẳng là núi, chim
muông thú rừng nào cũng như nhau. Anh không tin rằng mũi tên của mình không hạ nổi con
chim, con thú trên núi Xín Chải. Anh quyết định sẽ lên núi một mình, chứng minh cho mọi
người thấy rằng nơi ấy cũng chỉ là một ngọn núi bình thường như những ngọn núi trong vùng,
không có gì khác lạ. Điều mà mọi người truyền tai nhau chỉ là những chuyện thêu dệt, những
chuyện hoang đường mang tính huyền thoại. Tiếng chim kêu vượn hót vang vọng khắp núi
rừng có những âm thanh trầm ấm vang xa hơn nơi khác là nhờ có vách núi dựng đứng ở bên
cạnh, tiếng hót va vào dãy núi rồi dội lại. Tiếng dội lại bao giờ cũng vang hơn tiếng hót ban
đầu.
Sùng Chá Toả liền bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị những đồ dùng cần thiết để lên núi.
Anh ngồi miệt mài suốt ba tháng mới làm xong một mũi tên. Anh thả mũi tên xuống đất, mũi
tên xuyên thủng đoạn gỗ nghiến đang ngồi lên. Anh làm vừa chẵn mười mũi tên. Anh ngồi tiếp
bốn tháng nữa mới làm xong một mũi lao. Mũi lao được giơ lên khua vài cái, nắng gãy vụn lả tả
rơi xuống chân. Anh làm chẵn mười mũi lao. Anh lại ngồi tiếp sáu tháng làm ra một thanh đoản
kiếm. Kiếm vừa giơ lên, gió đang chạy bị cụt mất đuôi không chạy được nữa nằm yên một chỗ.
Vào một hôm trời xanh trong, nắng ửng hồng phía đông, anh khoác toàn bộ các thứ đã chuẩn
bị lên người và hướng về phía núi Xín Chải. Vừa đi được mấy bước, con gà trống đứng trên hòn
đá lớn đầu ngõ cất tiếng gáy:
- Ò... ó... o...
Này anh Sùng Chá Toả
Đường rừng trăm ngàn ngả
Lối rừng vạn lối đi
Cuộc đời có mấy thì
Anh hùng vạn chốn thi
Cần chi phải lên núi
Xín Chải con đường tối
Đi không có ngày về
Không về, không về!
Sùng Chá Toả không thèm nhìn con gà, dửng dưng đi qua.
Đi ròng rã một tuần anh đến chân núi Xín Chải, đá tai mèo đã cứa rách chín đôi giày cỏ, máu
đang ứa ra đôi giày thứ mười, bàn tay và cẳng tay bị cây rừng cào rướm máu. Anh tựa lưng vào
tảng đá lớn nghỉ cho lại sức. Tiếng hò hét ca hát đã rất gần. Anh có thể nhận ra tiếng của từng
loài động vật. Xen giữa tiếng trong leo lẻo của hoạ mi, khiếu, yểng, là tiếng trầm, đục, khoẻ của
sư tử, tiếng rè rè của đàn dê, tiếng choe choé của lũ khỉ,... Anh ngửa mặt nhìn trời, chiều vừa xế
bóng, vài giọt nắng còn đọng lại trên đỉnh núi. Bỗng anh nghe thấy tiếng hát của người tiều
phu, rất vang, rất rõ:
Chiều, trên vai một ngày
Ta, trên vai ngọn núi
Qua chiều trời sắp tối
Ta vác củi về nhà
Ta hát một bài ca
Biết ơn người giữ lửa
Cho ta vầng than đỏ
Cho ta ấm đêm dài
Cũng thoả chí làm trai
Ta đây cũng như ai
Nhóm cho đời ánh lửa...
Tiếng hát xa xa rồi chìm dần vào trời chiều. Bóng tối xuống thật nhanh, Chá Toả cũng nhanh
chóng tạo cho mình một căn lều từ cành cây và lá rừng để ngủ qua đêm. Trời khuya lạnh ngắt,
tiếng ồn ào dịu bớt. Chá Toả cũng đã ngủ say từ lúc nào.
Sáng sớm, sương mù giăng trắng xoá, bốn bề yên ắng lạ thường, Chá Toả vươn vai xoay ba
vòng, căn lều bị hất tung mỗi nơi một thứ. Chá Toả khoác hành lý lên vai tiếp tục cuộc hành
trình. Sương mù ngày một dày hơn, Chá Toả vẫn bước. Sương đặc quánh lại, con mắt không
nhìn thấy bàn chân, Chá Toả vẫn đi, bước sau cao hơn bước trước. Đá núi gập ghềnh lởm chởm,
bước chân chênh vênh trơn trượt. Chá Toả vẫn dò tìm từng bước một, từng bước một khó
nhọc, anh tin chắc rằng bước chân dẫu bị sương mù chắn lối vẫn có thể vượt qua trăm ngàn
ngọn núi.
Mặt trời ló rạng, một quầng than hồng tròn trịa treo lơ lửng giữa màu trắng bạc. Sương tan
dần, trời quang hơn, chim muông cất tiếng hót, thú rừng cất tiếng ca, bàn chân Chá Toả vẫn đi.
Con mắt Chá Toả luôn kiếm tìm, vậy mà vẫn chưa hề gặp một con chim, con thú nào. Cây cối
rậm rịt cao chót vót, thảng hoặc mới có một khoảng trống nho nhỏ đủ để Chá Toả nhìn thấy
mặt trời.
Ánh nắng xuyên qua kẽ lá rơi lốm đốm xuống mặt đất, từng tia vàng nhảy múa, nô đùa trước
mắt Chá Toả. Gió bắt đầu đi dạo, gió xô nhau ầm ào, gió đưa tay véo mũi đá, gió giơ chân đạp
vào tán cây rừng làm lá vàng rơi lả tả, có cây bị gió đạp cho nghiêng ngả...
- Này anh kia!
Chá Toả giật mình quay lại, một con vẹt có bộ lông ngũ sắc giận dữ nhìn anh.
- Anh xem lại trí khôn của mình có to hơn cái mũi trên mặt, có lớn hơn cái tai trên đầu mà đưa
chân tới nơi này. Anh có biết bao kẻ vì kém khôn mà bỏ mạng, vì đần độn mà quên xác, vì ngu
si mà hết đời...
Chá Toả khinh thường con vẹt nhãi nhép, chân anh vẫn bước.
Sang ngày thứ tư từ hôm được nghe tiếng hát người tiều phu Chá Toả đã đi được nửa đường
lên đỉnh núi Xín Chải. Con vẹt là con vật anh gặp đầu tiên kể từ hôm ấy. Tiếng hát ca của chim
muông thú rừng vẫn rộn vang. Chá Toả không ngừng nhịp bước, đôi tai luôn nghe ngóng những
tiếng động lạ, nhưng tuyệt nhiên không thấy có tiếng động nào khác ngoài những tiếng đã từng
nghe từ lúc đặt chân lên núi. Đôi mắt Chá Toả luôn mở to săn tìm dấu chân hằn in trên đất,
nhưng cũng chưa tìm được dấu chân nào. Đá tai mèo sắc nhọn, lá rừng rụng đầy trong hốc,
bước chân dẫm lên lào xào. Đi được một quãng xa, tiếng con vẹt không còn nhí nhéo nữa, xung
quanh vẫn không có gì thay đổi, chỉ thấy lạnh, chỗ nào cũng lạnh.
Hôm nay âm u mây gió, bước chân Chá Toả không còn mạnh như mấy hôm trước, hai đầu gối
bắt đầu run. Chá Toả tựa lưng vào tảng đá, bàn chân không hiểu sao cứ trượt dần về phía trước.
Chá Toả chỉnh lại tư thế đứng cho khỏi ngã nhưng bàn chân vẫn cứ trơn trượt, đám lá bị đẩy
lên thành đống, bàn chân bỗng gặp một vật gì cồm cộm dầy dầy. Chá Toả ngồi xuống thò tay
bới. Một cái đầu lâu đen s...
Nguyễn Bình
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Sơ lược về tác giả
1. Làm thơ cho buổi chiều chiều
2. Hoa tam giác mạch
3. Vật kỳ lạ biết bay
4. Một cuốn sách cũ
5. Một người bạn
6. Khám phá
7. Những câu chuyện của bà Cáy
8. Bài ca người gùi đất
9. Cột đá tử thần
10. Con đường đến trường
11. Đi Pà Lủng
12. Nơi trời nước gặp nhau
13. Nơi ngập tràn nắng chiều
1. Làm thơ cho buổi chiều chiều
Một nỗi buồn nho nhỏ lửng lơ trong không trung, một chút vấn vương bay theo gió, một chút
nhớ thương hoà trong nắng, một chút tình trải dài với núi sông,... Trong làn khói bếp mờ bay,
lòng người da diết nhớ, tìm hơi ấm, tìm lời ru, tìm cảm giác thân quen, tìm con đường đi về,...
Và hình như càng tìm càng thấy lạ, càng thấy vắng, càng thấy lẻ loi, càng cô đơn và buồn!
Chiều.
Xóm núi hơi kém nắng, chỉ đủ đọng lại thành vệt óng lên như dải lụa nhuộm sáp ong, vương
vào mái nhà, vương vào rặng cây, vương vào vạt nương đang trổ cờ trắng xoá.
Chiều.
Mẹ lảy cái bắp non, sữa ngô ứa ra bàn tay...
Mùi thơm bay ra ngào ngạt nơi đầu ngõ, từng chiếc bánh ngô xinh xắn bọc trong tàu lá chuối,
vàng ngầy ngậy, ngọt lịm nơi đầu lưỡi...
Dáng mẹ bé nhỏ ẩn hiện giữa rừng ngô, hôm thì hứng nắng, hôm thì hứng mưa,... Mẹ về nhà,
bóng chiều ùa về, con đường nghiêng nắng còn hằn in dấu chân mẹ!
Chiều.
Chị đi lấy chồng, trong câu chuyện bà kể, nước mắt tiễn chân đi. Con đường chị bước, một bên
là con đường yêu, con đường thương, có người mong nhớ; một bên là con đường gả bán, con
đường gán nợ, con đường khổ ải, con đường trần ai. Chị giận người mối, chị giận người mai, chị
giận ông trời đã se sai duyên thắm, đưa chị đến con đường lầm, đưa chị vào con đường tối, dẫn
lối chị xuống vực sâu... Chị đi lấy chồng trên con đường dát nắng mà trong lòng tầm tã mưa rơi.
Chiều.
Bố đi nương về, mồ hôi ướt áo, ướt cả bó cỏ bố gùi trên lưng cho con bò có cái ăn buổi tối.
Và đấy, khói bếp lam chiều gieo trên mái nhà, gieo vào hàng cây bên bờ suối, gieo vào núi, gieo
vào mây, gieo vào lòng người miền thương nhớ, và tự nhiên trong sâu thẳm tâm hồn đưa ta về
với hương thơm đồng nội, với những ký ức ngọt ngào, với nét duyên quê đằm thắm, với làn hơi
cơm mới gọi mời...
Chiều.
Nơi xa xôi nào đó, nơi cõi lòng mơ ước, nơi chốn thần tiên, trong câu chuyện bà kể, người với
người chan hoà thân thiện, cuộc sống luôn vui tươi đầy ắp tiếng cười...
Và ta, đang mơ khi ngắm chiều, ngắm chiều mà như mơ, để rồi bất chợt nhận ra cái màu hồng
tươi đỏ ấy ẩn chứa một điều gì đó khác lắm, lạ lắm so với những cái vẫn gặp hàng ngày.
Khi ráng chiều dần tắt, ở nơi tít tắp xa kia chợt ánh lên một tia sáng rất nhỏ, rất nhỏ, rất nhỏ
thôi, làm thế giới quanh ta trở nên mờ mờ ảo ảo, một không gian như thơ như mộng cho ta
tưởng nhiều hơn, thấy ít đi...
Và cứ thế, chiều vẫn cứ là chiều mà ta ngắm hoài không chán!
2. Hoa tam giác mạch
Mí Chứ đã không nén nổi nỗi lòng trào dâng niềm thèm khát được thấy buổi chiều rơi nơi sườn
núi nhô lên như bờ vai con trâu mộng, nơi sóng đá vỗ thì thùm vào gió, vào nắng, vào bìa rừng
xanh xanh...
Bước chân Mí Chứ đã khựng lại khi gặp mùi hương thơm nồng của hoa tam giác mạch thoảng
bay. Những đoá hoa li ti mong manh, nếu đứng một mình gió có thổi thì hãy nhè nhẹ hơn một
chút, đừng mạnh quá như thế, chỉ hiu hiu thôi kẻo nát cánh hoa.
Đứng trước đoá hoa Mí Chứ có cảm tưởng như đó là báu vật của trần gian, là những gì tượng
trưng cho sự mềm mại, là hình mẫu của sự mỏng manh, là chân lý của sự sống... - điều này là
của riêng Mí Chứ!
Vậy mà, ngay phía trước kia thôi có cả một rừng hoa kéo dài đến tận chân núi, triệu triệu bông
hoa tam giác mạch đan cài với nhau, trắng, hồng, đỏ, tím cùng khoe sắc làm ngợp con mắt
nhìn. Nắng, gió và hoa đang đùa vui, chúng hò hét đuổi nhau làm rạp cả cỏ cây gần đó.
Bà kể nàng Tiên Gạo và nàng Tiên Ngô đi gieo hạt nơi hạ giới, mày trấu mày ngô chẳng biết
làm gì bèn đổ vào khe núi. Cây ngô, cây lúa lớn lên cho hạt. Người người lấy hạt về ăn. Khi ngô
hạt lúa trong nhà đã cạn mà vụ sau vẫn chưa tới, cái đói về u ám bản làng, chiều đã buông dài
nơi rừng cây mà vẫn chưa thấy ai nhóm bếp. Một hôm mọi người họp nhau lại rồi chia đi khắp
núi rừng để tìm cái ăn. Nhiều ngày trôi qua, nhiều nơi đã đến, nhiều hang cùng góc núi đã lục
tìm mà vẫn chưa thấy gì có thể làm no cái bụng. Một hôm, thoảng bay trong gió mùi hương là
lạ, từ trước đến giờ chưa ai được ngửi. Mọi người cùng tìm đến khe núi, và ai nấy đều ngỡ
ngàng, một rừng hoa li ti trải dài suốt từ núi bên này sang núi bên kia, nhìn kỹ mới thấy những
cái lá có hình tam giác ẩn nấp khá kín ở dưới hoa. Khi kết hạt mọi người đem về ăn thử thấy
ngon không kém gì ngô và gạo. Cái bụng đã ngủ yên không lóc óc đòi ăn nữa. Khói bếp lại bay
lên mỗi chiều. Vì là họ nhà lúa, được nảy lên từ mày lúa mày ngô, nên gọi là mạch, lá có hình
tam giác, và thế là nó có tên “tam giác mạch”.
Mí Chứ đi tiếp, qua nương tam giác mạch là đến con đường mòn lên núi. Mí Chứ đã đặt chân lên
con đường mòn rồi mà mùi hương nồng nàn kia vẫn còn đuổi theo, như muốn níu lấy bước
chân, muốn bầu bí tâm tình lâu hơn chút nữa,... Mí Chứ phải đi thôi, không ở lại được. Nắng đã
nghiêng xuống núi rồi, sắp sang buổi chiều rồi. Mí Chứ phải nhanh chân hơn nữa để kịp đến
nơi ấy đúng lúc ánh chiều rơi xuống!
3. Vật kỳ lạ biết bay
- Mí Chứ ơi!
Tiếng bố gọi làm Mí Chứ giật mình. Mí Chứ đang ngắm con mèo con luyện tập trò ẩn nấp, nhảy,
vồ con mồi là cái lá ngô khô rơi ở trái nhà, gần khung dệt vải.
- Dạ!
Mí Chứ vừa mới thưa định chạy vào trong nhà xem bố gọi có việc gì thì bố đã đứng ngay phía
sau. Trên lưng bố đã đeo sẵn chiếc quẩy tấu.
- Bố đi đâu đấy ạ? - Mí Chứ hỏi.
- Bố đi lên rừng. Con có muốn theo đi không?
Mí Chứ còn đang ngập ngừng thì bố nói tiếp:
- Con có tờ giấy viết đã không còn sử dụng nữa thì lấy cho bố xin mấy tờ.
- Bố dùng giấy làm gì ạ?
- Bố dùng giấy vào việc bí mật. Con muốn biết thì đi theo bố?
Mí Chứ chạy vào nhà, tìm quyển vở cũ từ năm ngoái, tách lấy mấy tờ giấy ở giữa rồi vội vàng ra
đi. Mí chứ thấy bóng bố thấp thoáng nơi đầu ngõ. Mí Chứ chạy theo, tờ giấy đập vào gió kêu lên
từng hồi đau đớn.
- Cầm cẩn thận kẻo rách giấy, con!
Mí Chứ cuộn tròn tờ giấy thành một cái ống to bằng cổ tay rồi đưa cho bố. Bố cầm cuộn giấy
cho vào trong cái quẩy tấu đeo sau lưng. Hai bố con đi theo con đường mòn lên núi, nắng đang
ửng hồng màu đất đỏ. Bầu trời xanh trong thăm thẳm cao, đâu đây vọng lại tiếng chim gọi đàn.
- Con thấy gió hôm nay thế nào? - Bố hỏi.
Mí Chứ nhìn rừng, nhìn đám cây bụi nơi sườn núi trước mặt.
- Gió không mạnh lắm, thổi theo cơn, theo hướng chúng ta đang đi, nhưng sao bố lại hỏi con về
gió ạ?
- À, bố định cho con xem một điều kỳ lạ có liên quan đến gió.
Hai bố con đã đi gần đến đám nương của gia đình, bỗng bố rẽ sang hướng khác theo con đường
mòn leo lên dãy núi đối diện với núi Xín Chải, ngọn núi này không cao mấy nhưng có nhiều cây
to mọc quanh sườn. Đi tiếp một đoạn, bố lại rẽ sang hướng khác bỏ con đường mòn lại phía
sau. Qua mấy gốc cây to đến một cái hang như tổ chim treo nơi sườn núi. Bố đi vào trong hang,
Mí Chứ theo sau. Hang không rộng, không cao, không sâu và có một khoảng nhỏ bằng phẳng
ngay gần cửa. Bố hạ quẩy tấu xuống đất, bỏ con dao lên tảng đá, bỏ tiếp mấy tờ giấy cạnh con
dao. Bố leo lên hòn đá phía trong với lên khe đá gần đỉnh hang lấy xuống một vật lạ được làm
bằng tre. Vật lạ gần giống với con én xoè cánh bay, chỉ có khác là nó có hai cánh giống như con
số tám nằm ngang.
- Con ngồi đợi bố một lát nhé!
Bố dặn Mí Chứ rồi cầm con dao vội vã ra đi.
- Bố đi đâu đấy ạ? - Mí Chứ với hỏi.
- Bố vào rừng, con ngồi đợi một lát bố quay lại ngay ấy mà.
Mí Chứ ra cửa hang đứng. Bố đi nhanh lắm, một loáng đã khuất sau khe núi gần rừng cây. Mí
Chứ nhìn ra xa, sau núi Xín Chải là một dải xanh thẫm chạy dài. Mặt trời đang xuống dần nơi
bên kia dãy núi. Gần ngay nơi đang đứng là dãy núi thấp cây cỏ mọc chằng chịt. Xen giữa những
sườn núi thấp là nương trồng ngô.
- Con đang ngắm gì thế?
Tiếng bố làm Mí Chứ giật mình. Bố đã về, trên tay là cái lá cây cuộn khum lại, phía trong đựng
nhựa cây màu trắng. Bố đi vào trong hang, đặt chiếc lá vào khe đá. Bố lấy tờ giấy đặt lên hai cái
cánh có hình số tám của con én rồi lấy nhựa bôi vào tờ giấy và dán lại. Tiếp đến phần đuôi con
én. Dán xong bố cắt tờ giấy còn lại thành những dải dài, rồi dán dải giấy vào phần đuôi cho
lòng thòng xuống dưới. Bố lấy trong quẩy tấu ra một cuộn lanh, buộc hai đầu sợi lanh vào hai
mép trong của cái cánh số tám và buộc tiếp một sợi dây vào phần nhỏ nhất của đuôi én, sau
nữa buộc đầu dây của cuộn lanh vào đoạn giữa của ba đoạn dây ấy.
- Xong rồi! - Bố nói. - Con thấy có đẹp không?
- Đẹp ạ! Nhưng để làm gì hả, bố? - Mí Chứ lại hỏi.
- Lát nữa con sẽ thấy, bây giờ hai bố con ta phải leo lên đỉnh ngọn núi kia.
Mí Chứ nhìn ra ngọn núi bố vừa chỉ, nó chỉ cao hơn chỗ đang đứng một ít nhưng nằm ở giữa
thung lũng, đỉnh núi có một đám đất khá bằng phẳng cỏ mọc xanh rì.
- Lên đỉnh núi ấy làm gì hả, bố?
- Nơi ấy mới có gió, gió thổi theo chiều dọc của thung lũng, tí nữa con sẽ thấy gió có tác dụng
gì.
Gần đến nơi Mí Chứ đã cảm nhận được gió ở đây thổi nhiều hơn, thổi miết một chiều chứ
không thành cơn và quẩn lại như nơi khác. Bố đưa con én có cánh hình số tám cho Mí Chứ rồi
bảo đứng xa ra cuối gió, còn bố đi về đầu gió. Mí Chứ ngắm kỹ hơn con én thấy hai cánh của nó
có hai điển mười bài tập toán, phía đuôi có một điểm mười bài tập tiếng việt, nét bút màu đỏ
của cô giáo vẫn còn nguyên, cạnh đó nét chữ xanh của Mí Chứ đã bị nhoè đi đôi chỗ.
- Được rồi Mí Chứ ơi!
Mí Chứ xoay người lại nhìn bố.
- Con giơ cao lên rồi thả tay ra!
Mí Chứ nâng con én lên, ba cái dải dài ở đuôi con én bị gió thổi vắt ngang vào cổ. Mí Chứ đưa
tay gỡ cho nó bay về phía sau. Mí Chứ nâng tiếp con én lên cao quá đầu rồi thả tay. Bố kéo căng
sợi dây, con én lao vút lên trên cao. Mí Chứ thấy lạ quá cứ ngửa cổ lên ngắm mãi. Lần đầu tiên
nó thấy có cái khác cũng bay được ngoài chim và mây.
- Con lại đây Mí Chứ ơi!
Mí Chứ chạy về phía bố đang đứng. Vừa chạy Mí Chứ vừa ngoái đầu nhìn con én đang bay cao
dần.
- Con thấy có đẹp không? - Bố hỏi.
- Đẹp ạ! - Mí Chứ trả lời.
- Con cầm lấy này. - Bố nói và đưa cho Mí Chứ cuộn dây. - Muốn nó bay cao hơn con hãy từ từ
nới dây dài ra, còn nếu không thì giữ nguyên hoặc thu dây lại.
- Vâng ạ! - Mí Chứ đáp.
Mí Chứ đưa hai tay cầm cuộn dây khi bố trao. Mí Chứ cầm thật chặt. Một cảm giác là lạ ở nơi
bàn tay, sức căng của sợi dây siết lên bàn tay, gió thổi mạnh sợi dây căng hơn con én bay cao
hơn. Mí Chứ nới dây ra thêm một đoạn nữa rồi giữ nguyên.
- Con ở đây một mình nhé. - Bố nói với Mí Chứ.
- Bố đi đâu ạ? - Mí Chứ hỏi lại.
- Bố đi lấy củi. Con ở một mình được chứ?
- Được ạ!
Bố cầm dao đi vào rừng bỏ lại chiếc quẩy tấu ở gần chỗ Mí Chứ đứng. Bố đi khuất sau tán cây,
Mí Chứ thấy lòng trống vắng, lẻ loi, một cảm giác chênh vênh như đứng trước vực thẳm. Mí Chứ
thấy lạ. Đã bao lần Mí Chứ lên núi và ở một mình nhưng chưa bao giờ nó có cảm giác như vậy.
Mí Chứ ngước nhìn lên trời, con én có ba điểm mười đang đứng yên một chỗ. Ánh nắng đã
khuất sau dãy núi Xín Chải, khu rừng và nơi Mí Chứ đứng cũng không còn nắng, chỉ có con én
bay tít trên cao là vẫn được hứng nắng và đang sáng rực lên.
Bố đã về từ lúc nào mà Mí Chứ không biết. Khi nghe tiếng dao chặt củi Mí Chứ mới quay lại
thấy bố đang nhét số củi vừa lấy được vào quẩy tấu, cái nào dài thì chặt cho ngắn bớt đi.
- Thu dây vào chuẩn bị về thôi con ơi!
Mí Chứ cuộn dần dây vào con "cầu tua". Con én thấp xuống dần. Bố đã nhét xong bó củi vào vừa
đầy chiếc quẩy tấu. Bố bê ra gần chỗ Mí Chứ đứng.
- Con để bố thu cho.
Bố cầm lấy con "cầu tua" quấn thoăn thoắt, con én thấp xuống trông thấy, chả mấy chốc nó đã
xuống đến mặt đất. Bố đưa cho Mí Chứ:
- Ta về thôi!
Mí Chứ giơ con én cao quá đầu tung tăng chạy trước bố.
- Con có thích nó không? - Bố hỏi khi Mí Chứ dừng lại đợi.
- Thích ạ! - Mí Chứ trả lời không do dự.
- Bố tặng con đấy!
Mí Chứ lại chạy lên trước, con én lại cất cánh bay.
Sau này Mí Chứ mới biết nó là cánh diều, lúc ấy thấy lạ quá, vui quá nên quên không hỏi bố xem
cái đó gọi là cái gì. Thấy hay hay, Mí Chứ chỉ biết nhìn, biết ngắm, rồi say không còn nghĩ ra
được cái gì nữa. Về đến nhà Mí Chứ cất ngay con én lên trên gác không cho ai nhìn thấy.
Tối hôm ấy đến giờ đi ngủ mà Mí Chứ vẫn còn ngồi nói chuyện với bố. Mẹ phải nhắc mấy lần Mí
Chứ mới uể oải đứng dậy lên giường nằm. Trên giường Mí Chứ còn cố nhỏm cổ ra ngoài màn
nói chuyện với bố. Bố vẫn ngồi ở bếp sưởi cầm ống điếu hút thốc lào. Bố nhắc lại lời mẹ mấy
lần Mí Chứ mới chịu nằm yên để ngủ.
Và rồi Mí Chứ cũng ngủ. Mí Chứ đã nằm mơ. Trong mơ Mí Chứ thấy mình có cánh và biết bay.
Mí Chứ bay như chim, bay từ ngọn núi này sang ngọn núi kia, từ cánh rừng này sang cánh rừng
khác, bay qua những nơi đã biết, đã đặt chân đến, bay qua cả những nơi Mí Chứ chưa biết, chưa
đặt chân đến bao giờ...
"Thật là tuyệt vời!" - Mí Chứ đã nói như vậy trong mơ.
4. Một cuốn sách cũ
Sau một hồi tìm kiếm trong thư viện của trường Mí Chứ cũng tìm được một cuốn sách có nói
về cánh diều. Cuốn sách không dày và cũ, một lớp bụi bay lên khi Mí Chứ động tay vào, trang
bìa đã mất, tên sách và tên tác giả cũng không còn. Mí Chứ hỏi mượn, cô thủ thư nhìn qua rồi
bảo cứ cầm về, không cần vào sổ.
Về đến nhà Mí Chứ treo chiếc cặp lên vách rồi đem cuốn sách ra đầu nhà ngồi lên khúc gỗ
nghiến bố kéo từ rừng về nhâm nhi từng con chữ.
Trang đầu tiên của cuốn sách được bắt đầu từ con số bảy, và chỉ còn nửa cuối của trang, phần
đầu đã bị xé mất. Trang tám cũng không khác gì trang bảy. Mí Chứ định bỏ qua phần bị rách
nhưng lại tò mò muốn biết ở đó còn lại những gì. Mí Chứ ngần ngừ một lát rồi quyết định đọc:
“...sau buổi chiều, ánh nắng đã yếu đi, sân kho hợp tác thóc được vun lại thành đống cao như mái
nhà, từng đống thóc vàng ngồn ngộn như những trái núi nhỏ. Lũ trẻ con chúng tôi bắt đầu đem
diều ra thả, diều lá mít, diều lá tre, diều cánh cốc, diều cánh dơi, diều cánh bướm... được tung lên
bầu trời, tiếng sáo, tiếng màng mây màng tre hoà quện với nhau thành dàn đồng ca của chiều
quê. Làn gió thổi cong những ngọn tre làng, làn gió nâng cánh diều lên cao. Bầu trời xanh trong
ngăn ngắt, thảng hoặc có làn mây trắng dạo chơi.
Bọn tôi ngồi quây quần lại với nhau thi xem diều của ai lên cao nhất, diều của ai ít chao nhất, dây
của ai ít võng nhất...”
Trang bảy chỉ có vậy. Trang tám còn ít hơn.
"... Chúng tôi lấy que cắm xuống mặt ruộng rồi buộc dây diều vào đó. Những mô rạ trên cánh
đồng sau mùa gặt là nơi ẩn nấp chơi trốn tìm của bọn tôi đồng thời là nơi phân chia biên giới
lãnh thổ để chơi trò trận giả. Khi tan cuộc thì mô rạ không còn nữa mà bay tứ tung khắp mặt
ruộng. Chúng tôi đã từng bị ăn đòn vì trò nghịch ngợm đó nhưng chẳng có thằng nào chịu chừa.
Khi có đứa rủ lại ào xuống ruộng, rơm rạ lại bay tứ tung..."
Trang chín không biết đã đi đâu mất, phía sau là trang mười.
Mí Chứ gấp sách lại ngắm nghía, một sự tiếc nuối trào dâng trong lòng.
Mí Chứ đọc tiếp các trang sau, truyện viết về một làng quê của miền xuôi, thanh bình và rất
đẹp. Những ngày hội làng, những cuộc thi diều, những trò nghịch ngợm của đám trẻ chăn trâu...
Mí Chứ đã có được một vài kiến thức nho nhỏ về cánh diều, về cuộc thi diều... Những trang
sách viết rất sôi động. Mí Chứ đọc mà như được nhìn tận mắt, được cùng tham gia, cuốn hút
đến lạ lùng. Có truyện khi đọc xong Mí Chứ phải dừng lại một lúc để nghe tiếng lòng ngân vang.
Có truyện khi đọc đã làm Mí Chứ ứa nước mắt.
Mí Chứ thương bé An có một tuổi thơ thật khổ, cha mẹ mất sớm, bé sống với người bác họ,
ngày ngày bé phải đi chăn trâu, cắt cỏ, làm việc luôn tay.
Thấy chúng bạn cắp sách đến trường, bé đứng nhìn mà thầm ước sẽ có ngày cũng được như
vậy.
Thấy chúng bạn cùng bố mẹ đi chơi, bé nhìn theo họ rất lâu.
Thấy chúng bạn chơi diều, bé cũng hí hoáy làm cho mình một cái. Bé đã giấu cánh diều bé nhỏ
ấy ở bụi tre gai đầu xóm, bởi người bác đã cấm rồi mà đem về nhà thế nào cũng bị xé rách,
thêm nữa mông và lưng chắc chắn sẽ bị hằn lên những vết tím bỏng rát.
Buổi chiều hôm ấy bé An đã thả cánh diều của mình vào không trung rồi buông dây ra cho
cánh diều được bay cao, bay xa mãi mãi...
Cuộc đời của bé Thu cũng rất đặc biệt, bé có cha có mẹ nhưng không ai chịu nuôi bé. Hôm ấy
trời mưa, bé nhớ rõ là như thế, mẹ dắt bé đến một ngôi đền nhỏ và giao bé cho ông từ coi đền.
Ông từ chẳng có quan hệ họ hàng gì với bé, mọi người bảo thế. Bé đã khóc và đòi theo mẹ
nhưng ông từ đã ôm chặt bé vào lòng, bé vùng vẫy mãi nhưng không thoát ra được. Mẹ đi rồi,
bé ngồi bệt xuống nền gạch mà khóc. Ông từ dỗ thế nào bé cũng không chịu nín.
Ông từ là một người đặc biệt, ông không lấy vợ, cả cuộc đời gắn bó với ngôi đền.
Chiều chiều khi quét lá đa rụng bé ngóng ra ngoài ngõ rất lâu, bé luôn tưởng tượng ra bóng
dáng mẹ đang đi vào sân và giang hai tay ra đón bé.
Chiều nay bé vừa quét xong, đám lá đa được vun gọn vào góc sân, gió lại thổi làm rụng những
chiếc lá mới. Bé lại quét, lá vàng lại rơi, và nắng đang tắt dần.
Mí Chứ dừng đọc. Mí Chứ thấy thương các bạn ấy quá. Mí Chứ muốn sẻ chia mơ ước và nỗi
buồn với các bạn. Mí Chứ ôm cuốn sách vào lòng, thả tầm nhìn ra nơi rừng cây phía trước. Tất
cả chìm vào trong yên lặng, gió cũng lặng yên.
Mí Chứ mở lại cuốn sách. Mí Chứ muốn nhìn lại những trang sách mà mình vừa mới đọc, những
trang sách gói ghém biết bao tình cảm đậm đà với quê hương, tình yêu giữa con người với con
người...
Cuốn sách được cất đi, Mí Chứ đã đọc từ đầu đến cuối không sót một chữ nào.
Nắng đang vàng lên óng ả khắp núi rừng. Mí Chứ ra khỏi nhà. Mí Chứ đi theo nắng.
Gió ở đâu ùa về làm nghiêng ngả những bóng cây.
5. Một người bạn
Buổi chiều hôm ấy cái xóm nghèo của Mí Chứ đã đón thêm một gia đình mới. Mí Chứ có thêm
một người bạn. Tình cờ mà như định mệnh, hai đứa vừa thấy nhau mà như đã quen thân tự
thủa nào.
Người bạn ấy có hoàn cảnh thật đặc biệt, mẹ đi lấy chồng từ năm mười hai tuổi, đến năm mười
sáu bị chồng đuổi về nhà. Ông ngoại hằm hằm tức giận không nhận con và xua đi như xua con
ma ác. Mẹ nó không còn chỗ đi đã quỳ xuống xin ông ngoại cho ở tạm nơi trái nhà mấy ngày.
Ông ngoại kiên quyết không cho bước qua khu vực hàng rào đá, ông đẩy ra ngoài và đóng cánh
cổng lại. Mẹ nó bám chặt lấy cánh cổng. Ông ngoại giơ chân đạp ngã lăn ra ngoài rồi cài then, và
khoá lại. Mẹ nó ngồi nguyên như vậy nhìn vào nhà mà khóc. Mặt trời ló lên rồi đứng bóng, rồi
xế sang chiều.
Bà ngoại ở trong nhà thương mẹ nó cũng chỉ biết rấm rứt khóc theo chứ không dám làm trái
lời của ông ngoại.
Đến chiều tối bà ngoại lén quẳng cho mẹ nó ít mèn mén, một cái nồi, một cái muôi, một con
dao cùn và hai cái bát sứt miệng. Mẹ nó nặng nề lê bước chân ra đi, bóng tối bao trùm lên rừng
núi.
*
Có một anh chàng mồ côi từ thủa nhỏ, nhà rất nghèo, vì mồ côi và nghèo quá nên anh ta không
lấy nổi vợ mặc dù đã qua tuổi hai mươi. Con trai vùng này thường lấy vợ từ lúc mười ba mười
bốn tuổi, có người muộn hơn nhưng rất hiếm qua tuổi hai mươi. Nếu có qua tuổi hai mươi thì
chí ít cũng đã có chỗ đặt lễ dạm hỏi. Anh ta đã qua hai mươi hai tuổi chưa có chỗ đặt lễ dạm hỏi
chắc cũng khó còn cơ hội lấy được vợ. Hôm ấy anh ta lên rừng đào củ đã gặp người con gái
sống một mình trong rừng. Từ sự đồng cảnh đến đồng lòng, họ về sống với nhau trong căn nhà
gianh xiêu vẹo không cần qua một nghi thức cưới xin nào. Mí Nô đã ra đời sau đó gần một
năm.
Họ làm lụng tất bật từ sáng đến tối mịt, ăn uống chi tiêu rất dè sẻn,... Ngô lúa về nhà ngày một
nhiều thêm, rồi trâu bò dê lợn cũng về, những thứ mà chỉ mấy năm trước họ có nằm mơ cũng
không dám nghĩ tới thì bây giờ đang đầy ăm ắp trong nhà.
Năm Mí Nô bốn tuổi, ngôi nhà gianh được phá đi, dựng trên nền đất cũ là ngôi nhà ngói to nhất
nhì xóm.
Năm nó tám tuổi, được theo bố đi chăn bò, con trước đi theo con sau nó đếm được mười chín
con, đàn dê chạy phía sau thành một hàng dài.
Năm nó mười một tuổi, bố nó lấy mẹ hai. Bây giờ bố nó là người có của, lấy một chứ ba bốn bà
mẹ cũng vẫn có người theo. Mẹ hai của nó mới có mười sáu tuổi. Nhiều người khen mẹ hai nó
có nhan sắc.
Về ở cùng nhà với mẹ con nó nhưng mẹ hai nó chẳng chịu làm gì. Mọi công việc lớn nhỏ trong
gia đình đều đến tay mẹ nó. Sáng, mẹ nó dậy rất sớm đồ mèn mén cho cả nhà rồi vội vã đi
nương. Bố nó và mẹ hai ngủ đến lúc mặt trời làm khô hết sương trên lá cây mới uể oải rời khỏi
giường. Mẹ hai bưng bát mèn mén lên và vào miệng, giận dữ đặt cái bát xuống bàn đánh cộp:
- Cứng thế này ăn sao được!
Bố nó không nói gì. Mẹ hai nó giận dỗi bỏ ra ngoài cửa đứng. Bố nó ra theo dỗ dành một lúc lâu
mẹ hai nó mới bớt đi cơn giận dữ. Và đến khi mẹ hai nó chịu nở một nụ cười trên môi thì bố nó
vội vã lên rừng xẻ gỗ. Bố nó đi rồi mẹ hai nó vào nhà lấy cái bát rõ to múc đầy mèn mén, gắp
rau, chan canh, ngồi ăn ngon lành một lèo hết nhẵn nhụi, thả cái bát vào chậu, ung dung đi chơi
quanh xóm. Đến trưa, mẹ hai nó lại về ăn hết một bát mèn mén như thế nữa, lại thả bát vào
chậu, lại đi chơi.
Tối, bố mắng mẹ. Mẹ nó không nói gì.
Sáng, mẹ hai vừa đưa bát lên miệng đã giận dỗi đem đổ mèn mén vào chảo cám lợn, quẳng cái
bát lăn lông lốc trên nền nhà.
- Nát thế này thì chỉ có lợn ăn được!
Khi bố nó đi làm mẹ hai lại ăn ngon lành hết một bát mèn mén rõ to rồi đi chơi, trưa về cũng ăn
hết một bát to rồi lại đi chơi.
Tối, bố nó lại mắng mẹ.
Mẹ nó không hề nói lại một lời.
Mẹ hai còn nói bóng gió bảo mẹ nó là đồ ăn hại và xúi bố nó đuổi ra khỏi nhà, đuổi đi cho khỏi
ngứa mắt, cho khỏi bực tức, cho khỏi khó chịu. “Sống cùng nhà với chị ta như thế này tôi thà ăn
lá độc để chết còn sướng hơn!” - Mẹ hai nó luôn mồm nói như vậy khi phật ý điều gì.
Bố đã nghĩ mẹ nó cậy là cả bắt nạt mẹ hai nên luôn đứng về phía mẹ hai mắng mẹ nó.
Mẹ nó không hề nói lại một lời.
Một hôm, mẹ nó nhét toàn bộ tư trang vừa gọn trong chiếc quẩy tấu. Mẹ hỏi nó:
- Con có đi với mẹ không?
- Đi đâu ạ? - Nó hỏi lại.
- Đi đến một nơi xa.
Nhìn vào mắt mẹ, nó đọc được nỗi buồn sâu thẳm, thế là nó quyết định, nó theo mẹ.
Nó đến một nơi xa lạ vào lúc chiều tà. Người mà nó gặp đầu tiên là Mí Chứ ở đầu xóm. Mẹ nó
hỏi Mí Chứ về một người đàn bà. Mí Chứ biết người ấy, đó là bà Cáy, một người neo đơn của
xóm, ở trong ngôi nhà rách nát chỉ nhỉnh hơn cái nhà làm nương một chút. Bà Cáy xưa kia có
lấy chồng hai lần và cũng bỏ hai lần chồng vì bà không có con. Người không có con thì phải bỏ
chồng để chồng lấy vợ khác, để nhà chồng có thêm con thêm cháu. Về già bà ở một mình trong
căn nhà tạm bợ, vào ra một bóng, vắng lặng tiếng nói tiếng cười...
Mí Chứ hay thấy bà ngồi ở đầu nhà ngắm chiều buông một mình, đôi mắt nhìn vô định. Mí Chứ
thương bà lắm và thường đến ngồi nói chuyện với bà, nghe bà kể chuyện, giúp bà vài việc nho
nhỏ như gùi nước, lấy củi, nhặt rau, nhóm bếp,... Những lúc ấy bà vui lắm, khuôn mặt rạng ngời,
nói cười luôn miệng.
Bà Cáy đã nhận ra Mí Chứ từ rất xa và hầu như dửng dưng với hai người vừa đến. Một lúc sau
bà mới nhớ ra đó là người họ hàng. Họ xin bà cho ở cùng. Bà đồng ý ngay không cần hỏi lý do.
Mí Nô theo mẹ cất các thứ vào trong nhà rồi xuống bếp làm cơm chiều. Mí Chứ đã nhóm lửa
cháy lên, hai đứa cho nước vào nồi rồi đặt lên bếp. Bà Cáy lấy rau về nhà, bà hỏi chuyện Mí Nô,
bà hỏi chuyện Mí Chứ, bà hỏi đủ thứ chuyện, hôm nay bà nói nhiều hơn mọi ngày.
6. Khám phá
Mí Chứ đã tới góc rừng, nơi cuối con đường mòn có bốn cây lát hoa cổ thụ mọc liền kề nhau.
Chiều về, bóng cây đổ dài thành một đường thẳng. Hôm nay hình như có điều gì khác lạ, gió
thổi thành từng cơn rung rinh tán lá, bóng cây nơi mặt đất vuông tròn nghiêng ngả. Có lần Mí
Chứ đã dừng lại ở đây rất lâu ngắm con đường mòn sáng rực lên dưới nắng.
Từ đây đến chỗ sườn núi của Mí Chứ vẫn còn một đoạn xa.
Bố kể, xưa kia núi Xín Chải nhiều cây lắm, có cây to đến mức đi bộ mất hai ngày mới được một
vòng quanh gốc, ấy là lúc trời đất còn ở gần nhau. Chim muông, sư tử, hươu, nai, gấu, khỉ,... rất
nhiều, chúng nhảy múa ca hát suốt ngày, rừng núi luôn ồn ào náo động. Những người thợ săn
quanh vùng không ai dám lên núi, không ai dám bắn thú rừng trên núi. Trước họ đã có bao
người đi qua nơi ấy mà không thấy về, giơ nỏ bắn chim trên núi, về nhà tự nhiên đau ốm rồi
không thở được nữa.
Trong vùng có người thợ săn lừng danh tên là Sùng Chá Toả có tài phi lao mười lần trúng một
chỗ, có tài bắn nỏ mười mũi tên nối đuôi nhau. Anh đi chu du khắp đó đây, số thú rừng bị anh
ta giết hại không làm sao đếm xuể. Một hôm đến chân núi Xín Chải nghe mọi người kể và nghe
tiếng đàn nhạc của chim thú vọng vang bước chân bồn chồn muốn được đi ngay lên núi. Anh rủ
thêm mấy người bạn nhưng họ đều khéo léo chối từ. Anh nghĩ núi nào mà chẳng là núi, chim
muông thú rừng nào cũng như nhau. Anh không tin rằng mũi tên của mình không hạ nổi con
chim, con thú trên núi Xín Chải. Anh quyết định sẽ lên núi một mình, chứng minh cho mọi
người thấy rằng nơi ấy cũng chỉ là một ngọn núi bình thường như những ngọn núi trong vùng,
không có gì khác lạ. Điều mà mọi người truyền tai nhau chỉ là những chuyện thêu dệt, những
chuyện hoang đường mang tính huyền thoại. Tiếng chim kêu vượn hót vang vọng khắp núi
rừng có những âm thanh trầm ấm vang xa hơn nơi khác là nhờ có vách núi dựng đứng ở bên
cạnh, tiếng hót va vào dãy núi rồi dội lại. Tiếng dội lại bao giờ cũng vang hơn tiếng hót ban
đầu.
Sùng Chá Toả liền bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị những đồ dùng cần thiết để lên núi.
Anh ngồi miệt mài suốt ba tháng mới làm xong một mũi tên. Anh thả mũi tên xuống đất, mũi
tên xuyên thủng đoạn gỗ nghiến đang ngồi lên. Anh làm vừa chẵn mười mũi tên. Anh ngồi tiếp
bốn tháng nữa mới làm xong một mũi lao. Mũi lao được giơ lên khua vài cái, nắng gãy vụn lả tả
rơi xuống chân. Anh làm chẵn mười mũi lao. Anh lại ngồi tiếp sáu tháng làm ra một thanh đoản
kiếm. Kiếm vừa giơ lên, gió đang chạy bị cụt mất đuôi không chạy được nữa nằm yên một chỗ.
Vào một hôm trời xanh trong, nắng ửng hồng phía đông, anh khoác toàn bộ các thứ đã chuẩn
bị lên người và hướng về phía núi Xín Chải. Vừa đi được mấy bước, con gà trống đứng trên hòn
đá lớn đầu ngõ cất tiếng gáy:
- Ò... ó... o...
Này anh Sùng Chá Toả
Đường rừng trăm ngàn ngả
Lối rừng vạn lối đi
Cuộc đời có mấy thì
Anh hùng vạn chốn thi
Cần chi phải lên núi
Xín Chải con đường tối
Đi không có ngày về
Không về, không về!
Sùng Chá Toả không thèm nhìn con gà, dửng dưng đi qua.
Đi ròng rã một tuần anh đến chân núi Xín Chải, đá tai mèo đã cứa rách chín đôi giày cỏ, máu
đang ứa ra đôi giày thứ mười, bàn tay và cẳng tay bị cây rừng cào rướm máu. Anh tựa lưng vào
tảng đá lớn nghỉ cho lại sức. Tiếng hò hét ca hát đã rất gần. Anh có thể nhận ra tiếng của từng
loài động vật. Xen giữa tiếng trong leo lẻo của hoạ mi, khiếu, yểng, là tiếng trầm, đục, khoẻ của
sư tử, tiếng rè rè của đàn dê, tiếng choe choé của lũ khỉ,... Anh ngửa mặt nhìn trời, chiều vừa xế
bóng, vài giọt nắng còn đọng lại trên đỉnh núi. Bỗng anh nghe thấy tiếng hát của người tiều
phu, rất vang, rất rõ:
Chiều, trên vai một ngày
Ta, trên vai ngọn núi
Qua chiều trời sắp tối
Ta vác củi về nhà
Ta hát một bài ca
Biết ơn người giữ lửa
Cho ta vầng than đỏ
Cho ta ấm đêm dài
Cũng thoả chí làm trai
Ta đây cũng như ai
Nhóm cho đời ánh lửa...
Tiếng hát xa xa rồi chìm dần vào trời chiều. Bóng tối xuống thật nhanh, Chá Toả cũng nhanh
chóng tạo cho mình một căn lều từ cành cây và lá rừng để ngủ qua đêm. Trời khuya lạnh ngắt,
tiếng ồn ào dịu bớt. Chá Toả cũng đã ngủ say từ lúc nào.
Sáng sớm, sương mù giăng trắng xoá, bốn bề yên ắng lạ thường, Chá Toả vươn vai xoay ba
vòng, căn lều bị hất tung mỗi nơi một thứ. Chá Toả khoác hành lý lên vai tiếp tục cuộc hành
trình. Sương mù ngày một dày hơn, Chá Toả vẫn bước. Sương đặc quánh lại, con mắt không
nhìn thấy bàn chân, Chá Toả vẫn đi, bước sau cao hơn bước trước. Đá núi gập ghềnh lởm chởm,
bước chân chênh vênh trơn trượt. Chá Toả vẫn dò tìm từng bước một, từng bước một khó
nhọc, anh tin chắc rằng bước chân dẫu bị sương mù chắn lối vẫn có thể vượt qua trăm ngàn
ngọn núi.
Mặt trời ló rạng, một quầng than hồng tròn trịa treo lơ lửng giữa màu trắng bạc. Sương tan
dần, trời quang hơn, chim muông cất tiếng hót, thú rừng cất tiếng ca, bàn chân Chá Toả vẫn đi.
Con mắt Chá Toả luôn kiếm tìm, vậy mà vẫn chưa hề gặp một con chim, con thú nào. Cây cối
rậm rịt cao chót vót, thảng hoặc mới có một khoảng trống nho nhỏ đủ để Chá Toả nhìn thấy
mặt trời.
Ánh nắng xuyên qua kẽ lá rơi lốm đốm xuống mặt đất, từng tia vàng nhảy múa, nô đùa trước
mắt Chá Toả. Gió bắt đầu đi dạo, gió xô nhau ầm ào, gió đưa tay véo mũi đá, gió giơ chân đạp
vào tán cây rừng làm lá vàng rơi lả tả, có cây bị gió đạp cho nghiêng ngả...
- Này anh kia!
Chá Toả giật mình quay lại, một con vẹt có bộ lông ngũ sắc giận dữ nhìn anh.
- Anh xem lại trí khôn của mình có to hơn cái mũi trên mặt, có lớn hơn cái tai trên đầu mà đưa
chân tới nơi này. Anh có biết bao kẻ vì kém khôn mà bỏ mạng, vì đần độn mà quên xác, vì ngu
si mà hết đời...
Chá Toả khinh thường con vẹt nhãi nhép, chân anh vẫn bước.
Sang ngày thứ tư từ hôm được nghe tiếng hát người tiều phu Chá Toả đã đi được nửa đường
lên đỉnh núi Xín Chải. Con vẹt là con vật anh gặp đầu tiên kể từ hôm ấy. Tiếng hát ca của chim
muông thú rừng vẫn rộn vang. Chá Toả không ngừng nhịp bước, đôi tai luôn nghe ngóng những
tiếng động lạ, nhưng tuyệt nhiên không thấy có tiếng động nào khác ngoài những tiếng đã từng
nghe từ lúc đặt chân lên núi. Đôi mắt Chá Toả luôn mở to săn tìm dấu chân hằn in trên đất,
nhưng cũng chưa tìm được dấu chân nào. Đá tai mèo sắc nhọn, lá rừng rụng đầy trong hốc,
bước chân dẫm lên lào xào. Đi được một quãng xa, tiếng con vẹt không còn nhí nhéo nữa, xung
quanh vẫn không có gì thay đổi, chỉ thấy lạnh, chỗ nào cũng lạnh.
Hôm nay âm u mây gió, bước chân Chá Toả không còn mạnh như mấy hôm trước, hai đầu gối
bắt đầu run. Chá Toả tựa lưng vào tảng đá, bàn chân không hiểu sao cứ trượt dần về phía trước.
Chá Toả chỉnh lại tư thế đứng cho khỏi ngã nhưng bàn chân vẫn cứ trơn trượt, đám lá bị đẩy
lên thành đống, bàn chân bỗng gặp một vật gì cồm cộm dầy dầy. Chá Toả ngồi xuống thò tay
bới. Một cái đầu lâu đen s...
 





