Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Không gia đình

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:16' 03-12-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:16' 03-12-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hector Malot
KHÔNG GIA ĐÌNH
Huỳnh Lý dịch
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.SachMoi.net
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
PHẦN THỨ NHẤT
1. Ở làng
2. Người bố nuôi
3. Gánh xiếc của ông cụ Vitali
4. Nhà mẹ
5. Lên đường
6. Bước đầu trong nghề
7. Tôi tập đọc
8. Vượt ngàn băng nội
9. Người khổng lồ đi hài bảy dặm
10. Ra trước công lý
11. Trên thuyền
12. Người bạn đầu tiên của tôi
13. Đứa trẻ nhặt được
14. Tuyết và sói
15. Ngài Giôlicơ
16. Vào Pari
17. Ông bầu gánh trẻ con phố Luốcxin
18. Mỏ đá Giăngtili
19. Lidơ
20. Tôi làm vườn
21. Gia đình tan tác
PHẦN THỨ HAI
22. Tiến lên
23. Một thành phố Đen
24. Thợ đun xe
25. Lụt mỏ
26. Trong ngách ngược
27. Công cuộc cứu nạn
28. Một bài học nhạc
29. Con bò của hoàng tử
30. Má Bácbơranh
31. Gia đình cũ và gia đình mới
32. Lão Bácbơranh
33. Tìm kiếm
34. Gia đình Đơrítxcơn
35. Thờ cha kính mẹ
36. Capi hư nết
37. Tã đẹp nói dối
38. Những đêm Nôen
39. Anh Bốp
40. Thuyền Thiên Nga
41. Tã đẹp nói thật
42. Giữa gia đình
LỜI GIỚI THIỆU
Hécto Malô (Hector Malot), sinh năm 1830 ở miền tây Bắc nước Pháp, là
một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết, được bạn đọc người Pháp yêu mến. Những tiểu
thuyết của ông, như KHÔNG GIA ĐÌNH, TRONG GIA ĐÌNH, PÔNGPÔNG,
RÔMANH CANBƠRI v.v... đều lành mạnh và hấp dẫn.
Ông mất năm 1890.
Trong tiểu thuyết của Malô, KHÔNG GIA ĐÌNH nổi tiếng hơn cả. Nó đã
được giải thưởng của Viện Hàn lâm văn học Pháp. Nhiều nước trên thế giới đã dịch
lại và xuất bản nhiều lần(1). Từ một trăm năm nay nó đã trở thành người bạn thân
yêu của thiếu nhi Pháp và châu Âu. Không những thiếu nhi, mà cả những bậc cha
mẹ, anh chị, thầy giáo và tất cả những ai yêu mến trẻ em, chú ý đến trẻ em đều đọc
nó say sưa, vì qua mỗi một câu chuyện lý thú, nó giải đáp cho người ta nhiều câu
hỏi luôn mới mẻ về việc nuôi dạy thiếu nhi.
KHÔNG GIA ĐÌNH kể chuyện một em bé không cha mẹ, không họ hàng thân
thích, đi theo một đoàn xiếc chó, khỉ, rồi cầm đầu đoàn ấy đi lưu lạc khắp nước
Pháp, sau đó bị tù ở Anh, cuối cùng tìm thấy mẹ và em. Em bé Rê-mi ấy đã lớn lên
trong gian khổ. Em đã chung đụng với mọi hạng người, sống khắp mọi nơi, “nơi thì
lừa đảo, nơi thì xót thương”. Em đã lao động mà sống, lúc đầu dưới quyền điều
khiển của một ông già từng trải và đạo đức, cụ Vitali về sau thì tự lập và không
những lo cho mình mà còn bảo đảm việc biểu diễn và sinh sống cho cả một gánh hát
rong. Đã có khi em và cả đoàn lang thang mấy hôm liền không có chút gì trong
bụng. Đã có khi em suýt chết rét. Đã có khi em bị lụt ngầm chôn trong giếng mỏ
mười mấy ngày đêm. Đã có khi em mắc oan bị giải ra trước tòa án và bị bỏ tù. Và
cũng có khi em được nuôi nấng đàng hoàng, no ấm. Nhưng dù ở đâu, trong cảnh
ngộ nào, em vẫn noi theo nếp rèn dạy của ông già Vitali giữ phẩm chất làm người,
nghĩa là ngay thẳng, gan dạ, tự trọng, thương người, ham lao động, không ngửa
tay xin xỏ, không dối trá, gian giảo, nhớ ơn nghĩa, luôn luôn muốn làm người có
ích.
Bên cạnh Rêmi có chú bé nghệ sĩ Mátchia khôn ngoan, linh lợi, tháo vát, tận
tình với bạn, một tài hoa nghệ thuật nở sớm cộng với một tấm lòng vàng; con chó
Capi khôn như người và rất có nghĩa; con khỉ Giôlicơ liến láu và đáng thương...
Những con người và con vật ở đây được dựng lên linh hoạt sống động, gây nhiều
hứng thú cho bạn đọc nhỏ của chúng ta.
Qua câu chuyện phiêu lưu hết sức hấp dẫn của chú bé Rêmi, người ta thấy
quyển sách ca ngợi lao động, ca ngợi tinh thần tự lập tự tin của tuổi trẻ, phát huy ý
thức chịu đựng gian khổ và tập quán xoay sở tháo vát, đề cao nghệ thuật, khuyến
khích tình bạn chân chính. Nó phản ánh cảnh lao động và sinh hoạt bấp bênh, nguy
hiểm, đầy đe dọa của những người thợ mỏ và của nhân dân lao động thành phố
trong xã hội tư sản. Đồng thời nó thể hiện cái thực tế là tình thương người, lòng biết
ơn, tình hữu ái giai cấp ở về phía những người lao động. Quyển sách lại diễn tả
nhiều cảnh đẹp thiên nhiên, nhiều cảnh sinh hoạt hấp dẫn ở nông thôn và thành thị,
giúp bạn đọc thêm phần hứng thú trong khi theo dõi câu chuyện, lại có thể mở rộng
hiểu biết.
Nhưng KHÔNG GIA ĐÌNH dưới con mắt chúng ta không phải là một viên
ngọc không vết. Do một nhà văn tư sản viết - dù là nhà văn tiến bộ - cuốn sách vẫn
không khỏi mang những sai lầm của tư tưởng và quan niệm xã hội của ông ta. Tác
giả tôn sùng những người giàu sang, có danh vọng, lịch sự. Ông đã dành cho Rêmi
một bà mẹ đại tư sản với một gia tài kếch sù, để cho khi nhận ra mẹ, Rê- mi có sẵn
của cải đó mà đền ơn trả nghĩa. Làm như không có tiền muôn bạc triệu thì người ta
không có cách gì tỏ lòng biết ơn! Dưới ngòi bút của tác giả Rê-mi quí trọng người
lao động, những người có tấm lòng tốt, nhưng đối với những người có địa vị xã hội,
có cử chỉ lịch sự, nghĩa là có cái vỏ đẹp đẽ, cao sang, Rêmi mới thật trố mắt khâm
phục. Ước mơ của Rêmi - mà đấy là một mặt hạn chế của tác phẩm - là được hưởng
một cuộc sống vàng lụa như họ, được trở thành những con người sang trọng như
họ. Đó là điều mà chắc chắn là các bạn đọc thiếu nhi chúng ta ngày nay không tán
thành, càng không để cho bị tiêm nhiễm.
Người dịch tập truyện không mong muốn gì hơn là khi đọc sách, các bạn vừa
thấy hứng thú, vừa học tập được nhiều, được thưởng thức một tác phẩm văn học có
giá trị đồng thời cũng rút ra được những điều tốt nên theo, những điều hạn chế nên
tránh trong việc tu dưỡng, rèn luyện của mình, hoặc trong việc nuôi dạy con em sau
này.
HUỲNH LÝ
--------------------1. Ở ta, trước đây nhà Hồ Biểu Chánh đã phỏng theo “Không gia đình” mà viết
cuốn tiểu thuyết nhỏ “Cay đắng mùi đời”, được độc giả ta nửa thế kỉ hoan
nghêng. Khoảng vài mươi năm lại đây ở miền Nam có mấy bản dịch giản lược
được vài trăm trang. Ở miền Bắc, bản dịch này được tái bản ba lần với số lượng
lớn.
PHẦN THỨ I
1
Ở LÀNG
Tôi là một đứa trẻ người ta nhặt được.
Tuy vậy, cho đến năm lên tám, tôi vẫn tưởng tôi có mẹ cũng như mọi đứa trẻ
khác, vì mỗi khi tôi khóc thì luôn luôn có một người đàn bà dịu dàng ôm tôi vào lòng,
âu yếm ru, khiến cho nước mắt tôi ngừng chảy.
Mỗi khi tôi lên giường ngủ, cũng có một người đàn bà đến hôn tôi. Và khi gió
rét tháng chạp trát những bông hoa tuyết vào cửa kính trắng xóa, bà ấy vừa ấp ủ chân
tôi trong đôi bàn tay trìu mến của bà, vừa hát cho tôi nghe một bài hát mà giờ đây tôi
vẫn còn nhớ điệu và lõm bõm vài lời ca.
Khi tôi chăn con bò sữa ở ven đường đầy cỏ, hoặc ở những đám cây hoang, lá
dại mà gặp một trận mưa dông bất ngờ đổ xuống, thì bà chạy đến đón tôi, bắt tôi núp
trong chiếc váy len của bà và túm váy lên che đầu che vai cho tôi cẩn thận.
Mỗi lần có chuyện gây gổ với bạn bè thì bà dỗ tôi, bảo tôi kể cho bà nghe
những nỗi bực bội chất chứa trong lòng và hầu như lúc nào bà cũng tìm được những
lời thích hợp để an ủi tôi, hoặc tỏ ra đồng tình với tôi.
Qua những việc ấy, và bao nhiêu việc khác nữa, từ giọng nói, cách nhìn, cái
vuốt ve cho đến những lời trách mắng ôn tồn, tôi yên trí bà là mẹ tôi.
Tôi được biết bà không phải là mẹ đẻ, mà chỉ là mẹ nuôi, như thế này đây.
Làng tôi gọi là làng Savanông. Nói cho đúng thì đó là cái làng ở đó tôi lớn lên,
tôi sống thời thơ ấu, chứ tôi làm gì có quê hương, có nơi chôn rau cắt rốn, cũng như
tôi đã không có cha có mẹ gì cả. Làng Savanông là một trong những làng nghèo nàn
nhất ở miền Trung nước Pháp.
Không nghèo vì dân làng chây lười, mà chính vì nó ở vào một vùng đất đai
cằn cỗi. Đất mặt rất mỏng, muốn mùa màng tốt, phải có phân, vôi, mà những thứ này
trong vùng quá hiếm. Vì thế, người ta thấy ít những cánh đồng trồng trọt mà nhan
nhản những đám cỏ hôi, cây dại. Hết những đám ấy thì là địa hạt của những lăngdơ(1)
.
Trên các lăngdơ cao ấy, gió lạnh thổi rát làm táp những lùm cây thưa thớt cành
nhánh vặn vẹo quay cuồng.
Muốn thấy cây cối xanh tốt thì phải rời bỏ cao nguyên, xuống các thung lũng
cạnh sông, ở đấy có những cây dẻ cao to và những cây sồi vạm vỡ.
Cái nhà tôi sống những năm đầu của tuổi thơ ấu dựng trong một thung lũng
như thế, trên bò con suối nước chảy xiết đổ vào một phụ lưu của sông Loa.
Cho đến năm lên tám, tôi chưa hề thấy đàn ông trong nhà, tuy má tôi không
phải là góa bụa. Chồng bà vốn là thợ đá đi làm ăn ở Pari như phần đông những người
thợ khác trong vùng. Từ ngày tôi bắt đầu hiểu biết sự việc chung quanh mình thì tôi
chưa thấy ông ta về làng lần nào. Thỉnh thoảng có bạn bè về quê, ông ta mới nhắn tin
về:
“Này, bác Bácbơranh, bác giai vẫn được mạnh khỏe đấy! Bác ấy nhờ tôi tin cho
bác biết là công việc làm ăn khá lắm và bác ấy gửi cho bác số tiền này đây. Bác đếm đi
chứ!”.
Chỉ có thế thôi. Chừng ấy tin tức, má Bácbơranh cũng cho là đủ rồi: ông chồng
mạnh khỏe; ông làm ra tiền, kiếm ăn được, còn gì nữa! Đừng tưởng ông Bácbơranh ở
Pari lâu thế là vì có điều bất hòa với vợ. Không hề có chuyện như thế. Ồng ta ở lại
Pari là do công việc làm ăn bắt buộc, thế thôi. Lúc già, ông sẽ trở về ở với vợ. Với số
tiền dành dụm được, đến ngày tuổi già sức yếu, vợ chồng không lo lâm vào cảnh cơ
hàn.
Một chiều tháng mười một, có một người lạ mặt dừng lại trước cổng vườn nhà.
Tôi đang bẻ củi chà là ở bục cửa. Người ấy không mở cổng mà chỉ nghểnh đầu nhòm
vào, nhìn tôi mà hỏi có phải nhà bà Bácbơranh ở đây không.
Tôi mời ông ta vào. Ông ta đẩy cửa, làm cho sợi dây buộc kêu cót két, rồi
bước chậm rãi qua sân.
Tôi chưa bao giờ thấy ai lấm bùn bê bết như ông này. Những mảng bùn, mảng
còn ướt, mảng đã khô, trát khắp người từ đầu tới chân. Chỉ nhìn những cũng đủ biết
ông ta đã đi rất lâu trên những con đường lầy lội. Nghe tiếng chúng tôi, má Bácbơranh
chạy ra. Khi khách bước qua bậc cửa thì má cũng vừa tới, hai người gặp nhau. Khách
nói:
- Tôi đem tin từ Pari về đây!
Đó là những lời giản dị tai chúng tôi nghe đã quen. Nhưng mà giọng nói lần
này không giống như mọi bận, không giống như những khi người khách nói: “Bác giai
bình yên. Công việc làm ăn tốt”. Má Bácbơranh chập hai tay vào nhau, kêu:
- Ôi trời ơi! Chắc có tai họa gì xảy đến cho ông Giêrôm nhà tôi rồi!
- Vâng, quả có thế. Nhưng bà cũng không nên quá hoảng hốt! Ông nhà bị
thương, đúng đấy, nhưng ông ấy không chết. Có điều chắc chắn sẽ bị què. Hiện giờ
ông ấy còn nằm ở bệnh viện. Tôi nằm giường bên cạnh, nên nhân tôi về quê, ông ấy
nhờ tôi tạt qua đưa tin cho bà biết. Tôi không dừng lại đây lâu vì còn phải đi ba dặm
đường nữa, mà trời sắp tối rồi.
Má Bácbơranh muốn biết tường tận hơn, nên mời khách ở lại ăn cơm tối. Má
nói đường xấu lắm và người ta đồn ở trong rừng có chó sói, chi bằng để sáng mai hãy
đi.
Khách ngồi vào bên cạnh bếp lò, vừa ăn vừa kể cho chúng tôi nghe tai nạn xảy
ra như thế nào: ông Bácbơranh bị một giàn giáo đổ xuống đè suýt bẹp người. Người
chủ thầu viện lẽ ông ta không có nhiệm vụ gì phải đứng ở chỗ ấy, nên không trả cho
ông ta một khoản bồi thường nào cả. Ông khách nói:
- Thật không may cho ông Bácbơranh, tội nghiệp ông ấy! Thật không may! Có
những tên láu cá, nhân cơ hội tương tự đã vớ được một khoản thực lợi đồng niên(2).
Còn ông nhà thì chẳng được gì sất!
Ông khách vừa hơ đôi ống quần cứng cồm cộp bùn khô, vừa luôn mồm nhắc
đi nhắc lại mấy tiếng “thật không may” với một vẻ thương cảm chân thành. Sự xuýt
xoa của ông chứng tỏ ông sẵn lòng chịu tàn tật để vớ được một món thực lợi. Ông kết
thúc câu chuyện:
- Tuy thế, tôi cũng khuyên ông nhà cứ đệ đơn kiện lão chủ thầu.
- Kiện tụng thì tốn kém chết đi!
- Tốn đấy, nhưng được kiện thì cũng bõ chứ!
Má Bácbơranh muốn đi Pari nhưng chuyện đó đâu có phải dễ: đường sá xa xôi
tốn kém quá.
Sáng sớm hôm sau má con tôi xuống làng dưới tìm cha xứ để hỏi ý kiến. Cha
xứ chưa muốn để cho má đi, trước khi biết chắc đi như thế có giúp ích gì cho chồng
không. Cha viết thư cho ông giáo sĩ ở bệnh viện nơi ông Bácbơranh đương nằm điều
trị. Vài ngày sau, có thư trả lời nói rằng má Bácbơranh không cần đi, chỉ cần gửi một
số tiền lên Pari để cho chồng kiện người chủ thầu.
Ngày tháng trôi qua. Thỉnh thoảng lại có thư về, thư nào cũng thúc giục gửi
thêm tiền lên. Bức thư cuối cùng thúc bách hơn cả, nhắn rằng nếu hết tiền thì bán con
bò sữa đi mà gửi.
Những ai đã sống ở nông thôn cùng với bà con nông dân đều hiểu nỗi đau khổ
hãi hùng chứa trong mấy tiếng: bán con bò sữa. Đối với nhà sinh vật học, con bò là
một con vật thuộc loài nhai lại. Dưới con mắt của khách du ngoạn, nó là con vật làm
cho phong cảnh tăng thêm vẻ đẹp khi trên thảm cỏ nó ngẩng cái mõm đen nhánh đẫm
hơi sương của nó lên. Với trẻ em thành thị, đó là nguồn cung cấp cà phê sữa và phó
mát đánh kem. Nhưng đối với người nông dân, nó còn quí báu hơn nhiều. Dù cho
nghèo xác nghèo xơ, dù gia đình con cái có đông đến đâu, có một con bò sữa trong
chuồng cũng không sợ đói. Chỉ một cái thừng hay một sợi dây quấn trên sừng thôi
cũng đủ để cho một em bé chăn dắt nó ăn dọc các con đường phủ đầy cỏ, ở những
nơi không thuộc về ai. Và thế là chiều đến, cả nhà có bơ nấu xúp, có sữa để ăn với
khoai tây. Bố mẹ, con cái, lớn nhỏ đều sống nhờ vào con bò sữa.
Cũng nhờ có con bò sữa mà má con tôi sống đầy đủ đến nỗi hầu như không
cần ăn thịt. Không những nó là vú nuôi của chúng tôi, nó còn là bầu bạn, là chỗ chân
tình.
Thật vậy, đừng tưởng bò là một con vật ngu ngốc. Trái lại, nó rất thông minh,
nó có những đức tính mà biết cách rèn luyện thì còn phát triển nhiều. Chúng tôi vỗ về
nó, nói chuyện với nó và nó hiểu chúng tôi. Về phần nó, với đôi mắt to, tròn, hiền
dịu, nó biết cách làm cho chúng tôi hiểu nó muốn gì, nó cảm thấy thế nào. Nói tóm
lại, chúng tôi rất yêu thương nó và nó cũng yêu thương chúng tôi.
Ấy thế mà phải lìa bỏ nó đấy! Vì rằng chỉ có cách “bán con bò sữa đi” thì mới
làm cho ông Bácbơranh thỏa dạ.
Một bác lái tới nhà chúng tôi. Bác ta xem xét con Rútxét rất kỹ, sờ nắn nó mãi,
vừa sờ vừa lắc đầu ra vẻ không ưng ý. Bác ta nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần rằng con
bò không vừa ý bác ta chút nào. Bác chê nó là bò nhà nghèo, khó bán lại lắm. Không
có sữa, bơ lại kém chất. Chê nhún chán, rút cục bác cũng đồng ý mua, nhưng bảo
mua là vì lòng tốt, muốn giúp má Bácbơranh thôi, và cũng vì thấy má là người trung
hậu.
Tội nghiệp cho con Rútxét. Hình như nó hiểu cả nên nó nhất định không chịu
ra khỏi chuồng và kêu rống lên. Bác lái đưa chiếc roi da quấn ở cổ bác cho tôi và bảo:
- Này chú bé, luồn ra phía sau mà đuổi nó ra.
- Ấy chớ, cái đó không được.
Má Bácbơranh nói thế rồi cầm lấy chiếc dây dắt và dịu dàng dỗ nó: “Nào cô
gái, đi đây, đi đây nào!”. Thế là con Rútxét nghe theo không cưỡng lại nữa. Ra tới
đường, bác lái cột nó vào sau xe. Nó đành phải bước líu ríu theo con ngựa. Chúng tôi
trở vào nhà rồi, nhưng mãi một lúc lâu vẫn còn nghe thấy tiếng nó rống.
Thế là chẳng còn sữa, chẳng còn bơ nữa. Buổi sáng một mẩu bánh mì suông,
buổi chiều khoai tây chấm muối.
Bán con Rútxét được ít hôm thì tới ngày thứ ba ngả mặn sau tuần chay(3). Năm
trước, nhân dịp này má Bácbơranh đã thết tôi một bữa bánh kẹp và bánh rán ra trò.
Tôi ăn nhiều, rất nhiều, khiến má hết sức vui thích. Nhưng mà hồi đó còn con Rútxét
nên còn sữa để nhào bột và có bơ để rán. Bây giờ không còn con Rútxét thì cũng
chẳng có sữa, chẳng có bơ, chẳng có ngày thứ ba ngả mặn nữa rồi! Tôi buồn rầu nghĩ
bụng thế. Nhưng má Bácbơranh đã dành cho tôi một sự bất ngờ. Xưa nay má vốn
không quen vay mượn, nhưng lần này má cũng cố vay của bà hàng xóm này một chén
sữa, của bà kia một miếng bơ. Vì thế, đến trưa tôi về nhà thì thấy má đang trút bột vào
một nồi đất lớn.
- Ơ này, bột mì!
Tôi vừa nói thế, vừa lại gần má. Má mỉm cười trả lời:
- Phải rồi, đúng là bột mì ấy, Rêmi ạ! Bột mì trắng hảo hạng. Này con xem,
mùi thơm phức!
Tôi không có gan hỏi má lấy bột ra làm gì. Chính vì tôi nóng lòng muốn biết
quá nên tôi lại càng không dám hỏi. Vả lại tôi đã định giả vờ như không biết hôm nay
là ngày thứ ba ăn mặn để khỏi tủi lòng má. Má nhìn tôi, hỏi:
- Người ta dùng bột mì làm gì nào?
- Làm bánh mì.
- Còn làm gì nữa?
- Khuấy cháo.
- Rồi còn làm gì nữa?
- Chà! Con không biết.
- Có, con biết đấy. Nhưng con là một đứa trẻ ngoan, nên con không nói ra đấy
thôi. Con biết hôm nay là ngày thứ ba ăn mặn, tức là ngày bánh kẹp, bánh rán. Nhưng
con thấy nhà không có sữa, có bơ nên con không nỡ nhắc đến, có phải không con?
- Ôi, má ơi!
- Má đã đoán trước nên má xoay xở để cho ngày thứ ba ăn mặn của con không
đến nỗi xám ngắt. Này con nhìn vào trong cái thùng gỗ kia mà xem.
Tôi nhanh nhảu mở nắp thùng lên thì quả thấy nào bơ, nào sữa, nào trứng, có
cả ba quả táo nữa. Má nói:
- Đưa trứng đây cho má. Trong lúc má đập trứng, con gọt táo đi.
Tôi cắt táo ra từng khoanh. Má đập trứng vào bột và đánh lên, thỉnh thoảng lại
đổ vào một thìa sữa. Khi bột đã khuấy đều, má Bácbơranh vần cái nồi lên trên tro
nóng. Thế là chỉ còn đợi đến chiều thôi, vì đến buổi tối chúng tôi mới ăn bánh kẹp và
bánh rán.
Thú thật, cái ngày hôm đó, tôi thấy nó dài làm sao và đã đôi ba lần tôi chạy
đến nhấc chiếc khăn phủ trên nồi bột để dòm thử. Má bảo:
- Con làm thế lạnh bột mất, rồi nó không dậy men tốt đâu!
Nhưng bột dậy rất tốt. Trên mặt bột, có những bong bóng phồng lên, vỡ lỗ
chỗ. Từ cái nồi bột lên men ấy tỏa ra một mùi trứng và sữa ngon lành. Má bảo:
- Con bẻ cho má một mớ củi vụn. Phải đốt lửa cho đượm, đừng có khói.
Rồi má thắp nến lên:
- Con cho thêm củi vào lò đi.
Tôi làm ngay không đợi nói hai lần, và ngay sau đó, một ngọn lửa cao bốc
cháy trong lò, ánh sáng ấy chập chờn tỏa ra khắp bếp. Má Bácbơranh lấy cái chảo treo
ở tường đặt lên bếp lò.
- Đưa bơ đây cho má!
Má lấy mũi dao xén một cục bơ bằng quả hồ đào cho vào chảo. Bơ chảy ra,
reo xèo xèo. Ôi! Cái mùi thơm làm nhỏ dãi, cái mùi thơm vì đã vắng lâu ngày nên
càng kích thích miệng lưỡi ta! Ôi! Khúc nhạc vui vẻ của chảo bơ liu diu tí tách trên lò!
Tôi chăm chú theo dõi bản nhạc ấy, nhưng vẫn nghe như ở ngoài sân có tiếng
chân người. Ai đến ám chúng tôi giờ này nhỉ? Hẳn lại là một bà hàng xóm sang xin lửa
đây.
Tôi không thèm chú ý, vì má Bácbơranh vừa vục môi vào trong nồi đất, múc
đổ vào lòng chảo một mẻ bột trắng tinh. Quả không phải là lúc nghĩ vơ vẩn đến
chuyện khác!
Nhưng chính vào lúc bấy giờ thì có tiếng gậy lạch cạch trên bục cửa, rồi cánh
cửa thình lình mở toang. Không ngoảnh cổ ra, má Bácbơranh hỏi:
- Ai đấy?
Một người đàn ông bước vào. Dưới ánh lửa chiếu táp vào người ông ta, tôi thấy
ông mặc áo bờlu trắng, tay cầm cái gậy lớn. Ông nói, giọng cục cằn:
- Ở đây người ta tiệc tùng gì đấy à? Xin cứ tự nhiên.
Má Bácbơranh vội vàng đặt chảo xuống đất kêu lên:
- Chao, trời ơi! Ông Giêrôm đấy ư?
Rồi má cầm tay tôi, đẩy tôi ra trước mặt người đó. Ông ta vẫn đứng ở bục cửa.
Má nói:
- Ba con đấy!
--------------------1. Lăngdơ, phiên âm từ Landes: vùng đồng lầy, hoang vu ở miền Tây Nam nước
Pháp – Người dịch chú thích.
2. Tiền lời thu hàng năm do gửi một số vốn ở ngân hàng, hay mua phiếu quốc trái,
trong xã hội tư sản. Đây muốn nói đến khoản tiền lãi hàng năm do món tiền bồi
thường gửi ngân hàng đem lại. – N.D
3. Theo đạo Gia tô, trước ngày lễ Phục sinh, khoảng đầu tháng tư dương lịch, tín
đồ phải ăn thanh đạm, không có chất béo, tương tự như nười Phật giáo ăn
chay. – N.D
2
NGƯỜI BỐ NUÔI
Tôi tiến lại gần ông ta, định ôm ông ta, nhưng ông ta lấy đầu gậy cản tôi lại:
- Cái thằng này là thằng nào?
- Thằng Rêmi đấy!
- Má nó có nói với tôi là...
- Ờ...vâng, nhưng mà...không phải, bởi vì rằng...
- À, không phải, không phải!...
Ông ta giơ cao chiếc gậy, đi lại chỗ tôi. Tự nhiên tôi lùi lại.
Nào tôi đã làm gì sai trái? Tôi có tội tình gì? Tại sao lại đối xử với tôi như thế
khi tôi chạy đến định ôm hôn ông? Tôi chưa kịp suy nghĩ về những câu hỏi như vậy
đang dồn dập trong đầu óc rối beng của tôi thì đã nghe ông ta nói:
- Các người đang chuẩn bị ăn mặn ngày thứ ba đây. Thật là đúng lúc vì tớ đang
đói ngấu. Ăn tối có gì?
- Tôi đang làm bánh kẹp.
- Tôi biết. Nhưng mà má nó định cho một người mang mười dặm đường trên
đôi chân ăn bánh kẹp à?
- Nhà chẳng còn gì cả: tôi có biết ông về đâu?
- Sao? Không còn gì à? Không có gì ăn tối à?
Ông ta đưa mắt nhìn quanh nhà:
- Có bơ đây này.
Ông lại đưa mắt lên trần nhà nhìn vào chỗ xưa kia vẫn treo mỡ lợn. Nhưng đã
từ lâu các nóc treo trống trơ không có gì cả, chỉ có mấy túm hành và tỏi lủng lẳng ở xà
nhà. Ông ta lấy gậy chọc cho một túm hành rơi xuống và nói:
- Hành đây! Bốn năm củ hành, một miếng bơ, thế là có một nồi xúp ngon. Má
nó hãy bỏ bánh kẹp ra và cho hành vào chảo phi đi.
Bỏ bánh kẹp ở chảo ra! Má Bácbơranh không cãi lại. Chẳng những thế, bà còn
vội vã làm theo lời chồng trong lúc ông ta ngồi trên chiếc ghế dài ở cạnh lò sưởi.
Tôi không dám rời khỏi chỗ mà cái gậy của ông ta đã đẩy tôi lùi đến. Tôi đứng
tựa vào chiếc bàn, để ý ngắm con người ông. Ông ta tuổi độ năm mươi, vẻ mặt cục
mịch, dáng người nghiệt ngã. Thương tích đã làm cho đầu ông lệch về bên phải và cái
tật đó càng khiến cho người ta thấy chờn chợn khi nhìn thấy ông. Má tôi lại bắc chảo
lên bếp. Ông Bácbơranh nói:
- Thế má nó định nấu xúp với chút xíu bơ thế kia à.
Rồi tự tay ông cầm đĩa bơ chút sạch vào chảo.
Thế là đi đời bơ, và cố nhiên cũng đi đời bánh kẹp!
Giá như vào lúc khác thì chắc chắn cái tai họa ấy đã làm cho tôi xúc động lắm.
Nhưng khi đó tôi chẳng còn bụng dạ nào mà nghĩ đến bánh kẹp và bánh rán nữa. Tôi
chỉ còn băn khoăn về mỗi một việc: chính cái con người nghiệt ngã ấy lại là ba tôi.
“Ba tôi! Ba tôi!”. Đó là mấy tiếng mà tự nhiên tôi lắp đi lắp lại như cái máy.
Chưa bao giờ tôi hình dung rõ rệt như thế nào là một người cha. Tôi tưởng
tượng lờ mờ rằng người cha chẳng qua chỉ là một người mẹ có giọng nói ồ ồ mà thôi.
Đến nay, khi nhìn thấy người cha ở đâu trên trời rơi xuống cho tôi đó, tôi cảm
thấy đau đớn hãi hùng. Vừa rồi tôi muốn ôm hôn cha tôi, nhưng cha tôi đã lấy đầu
gậy đẩy tôi ra. Tại sao vậy? Khi tôi hôn má Bácbơranh chẳng bao giờ má đẩy tôi ra cả,
trái lại má còn bế xốc tôi lên, ôm chặt tôi vào lòng.
Ông ta bảo tôi:
- Đừng cứ sừng sững như trời trồng ấy, mau mà dọn bát đĩa ra bàn đi chứ!
Tôi vội vàng tuân lệnh. Xúp đã chín, má Bácbơranh múc ra đĩa. Thế là từ bên
lò sưởi, ông ta đứng dậy đi lại bàn ngồi xuống và bắt đầu ăn. Thỉnh thoảng ông chỉ
ngừng lại để nhìn tôi. Tôi không tài nào nuốt được, vì bối rối, lo ngại. Tôi cũng nhìn
ông ta nhưng chỉ đám nhìn trộm. Khi gặp đôi mắt ông ta thì tôi lại cúi mặt xuống. Đột
nhiên ông cầm thìa chỉ vào tôi:
- Thường ngày thằng này nó ăn có khỏe hơn bữa nay không?
- Ồ, nó ăn được lắm chứ!
- Mặc xác nó! Ít ăn, ít uống thì còn được!
Tất nhiên là tôi chẳng muốn nói gì và cả má Bácbơranh cũng không muốn bắt
chuyện. Má đi đi lại lại quanh bàn, chăm chú phục dịch ông chồng. Ông ta lại hỏi tôi:
- Mày không đói à?
- Không.
- Thế thì đi ngủ đi, và cố ngủ ngay nhé, không thì tao nổi giận lên đấy!
Má Bácbơranh đưa mắt nhìn tôi, ý muốn bảo tôi vâng lời đi, đừng có cãi lại.
Nhưng lời dặn dò đó cũng thừa vì tôi không hề có ý chống đối.
Như ở phần lớn nhà nông dân, nhà bếp của chúng tôi cũng dùng làm buồng
ngủ. Cái bàn, cái thùng gỗ, cái tủ đựng bát đĩa, nói chung những đồ đạc được dùng
cho việc dọn ăn đều kê cạnh lò sưởi. Ở phía bên kia là giường ngủ. Giường của tôi ở
xung quanh có chăng diềm vải đỏ.
Tôi vội vàng cởi áo lên nằm. Nhưng không sao ngủ được.
Người ta không ngủ theo mệnh lệnh. Người ta chỉ ngủ khi buồn ngủ và khi
trong lòng yên tĩnh. Vậy mà tôi lại không buồn ngủ và trong lòng tôi cũng không yên
tĩnh. Trái lại tôi rất băn khoăn, hơn nữa còn đau khổ.
Cái người ấy mà là cha mình ư? Là cha thì tại sao ông ta lại đối xử với mình tàn
nhẫn thế?
Úp mặt vào tường, tôi cố gắng xua đuổi những ý nghĩ ấy và mong ngủ thiếp đi
theo lệnh của ông ta. Nhưng không tài nào nhắm mắt được. Giấc ngủ không đến và
chưa bao giờ tôi lại thấy tỉnh táo như lần này.
Một lúc sau, không biết chừng bao nhiêu lâu, tôi nghe thấy có người lại gần
giường tôi. Nghe bước chân đó chậm chạp, nặng nề, kéo lê chân, tôi biết ngay không
phải là má Bácbơranh. Một hơi thở nóng hổi bay qua trên tóc tôi. Có tiếng thầm thì
hỏi:
- Mày ngủ chưa?
Tôi nhất định không trả lời vì mấy tiếng: “tao nổi giận lên” vẫn còn văng vẳng
bên tai tôi.
- Nó ngủ rồi đấy! - Má Bácbơranh nói - Hễ nằm xuống là ngủ ngay, nó quen
thế rồi. Ông cứ nói, không sợ nó nghe thấy đâu.
Đáng lẽ tôi phải nói tôi chưa ngủ, nhưng tôi không dám. Người ta đã ra lệnh
cho tôi ngủ, tôi không ngủ là có lỗi.
Má Bácbơranh hỏi:
- Việc kiện tụng của ông đến đâu rồi?
- Thua rồi! Quan tòa xử tôi bị nạn là lỗi tại tôi tự dưng đứng dưới giàn giáo,
chủ thầu không phải đền đồng nào cả.
Đến đấy, ông ta đấm bàn đánh thình một cái rồi lầu bầu chửi rủa, không nói
được một câu tử tế. Ngay sau đó, ông ta lại tiếp:
- Thua kiện, tiền mất, tật mang, nghèo đói, thế đấy! Thế mà còn chưa đủ đâu!
Bước chân về đến nhà lại còn thấy người ta cưu mang một đứa trẻ. Má nó hãy nói rõ
tôi nghe tại sao má nó không làm theo lời tôi dặn?
- Vì tôi không làm được!
- Không mang nó đi trại trẻ rơi nổi à?
- Một đứa bé nuôi bằng sữa mình và mình thương yêu thì sao đành lòng vứt bỏ
đi như thế được?
- Có phải con đẻ của má nó đâu!
- Ấy, tôi cũng muốn làm theo lời ông bảo nhưng chính lúc đó nó lại ốm.
- Ốm à?
- Phải, nó ốm, mang nó đến trại trẻ rơi như thế là không phải lúc, phải không
ông? Mang đến thì cũng bằng giết nó đi ấy.
- Thế khi nó đã khỏi ốm rồi thì sao?
- Nào nó có khỏi ngay cho đâu! Hết trận ốm này lại đến trận ốm khác: nó ho,
tội nghiệp thằng bé, nó ho nghe mà xót ruột. Ấy thằng Nicôla nhà ta mất đi cũng vì
thế. Tôi cảm thấy đưa thằng này ra tỉnh thì nó cũng đến chết như thằng bé ấy thôi.
- Thế còn sau đó?
- Ngày tháng qua đi. Tôi đã cố công lần nữa đến lúc đó thì tôi tưởng tốn ít nữa
chẳng sao.
- Hiện giờ nó bao nhiêu tuổi rồi?
- Lên tám.
- Thế thì năm nay lên tám, nó sẽ về cái chỗ mà đáng lẽ xưa kia nó phải về, và
như thế nó lại càng cảm thấy khó chịu hơn. Ấy làm như bà ngày trước chỉ tổ hại nó
thôi.
- Ôi, ông Giêrôm ơi, ông đừng làm thế!
- Đừng làm thế! Ai cấm đoán tôi? Má nó tưởng nhà ta giữ nó mãi được đấy à?
Một lúc im lặng, Từ nãy tôi xúc động quá, cứ thấy nghẹn tắc ở cổ, bây giờ mới
thở được. Giây lát sau má Bácbơranh nói tiếp:
- Chao ôi! Thành phố Pari đã làm cho tính tình ông thay đổi đi nhiều quá!
Trước kia chưa lên Pari ông không ăn nói như thế.
- Cũng có lẽ. Có điều này chắc chắn: Pari có làm cho tôi đổi tính thì nó cũng
làm cho tôi què quặt nữa. Bây giờ làm thế nào nuôi được miệng bà, miệng tôi? Hết
sạch cả tiền! Con bò sữa bán mất rồi. Mình đã chẳng có cái gì bỏ vào mồm, lại còn đi
nuôi báo cô một thằng bé không phải là con mình nữa hay sao?
- Nó là con tôi!
- Chẳng phải là con bà mà cũng không phải là con tôi. Nó không phải cái hạng
con nông dân. Trong lúc ăn tối tôi ngắm nó mãi: nó là một thằng bé ẻo lả, gầy còm,
tay chân lẻo khẻo.
- Nó xinh nhất vùng đấy!
Tôi có nói chuyện xấu đẹp đâu! Xinh mà làm quái gì! Chỉ cần khỏe thôi!
Người ta có bẻ cái xinh ra mà ăn đâu! Cứ nhìn đôi vai nó mà xem, có phải là con nhà
lao động không? Nó là con nhà thành thị, ở đây chúng ta không cần cái ngữ ấy.
- Tôi cam đoan với ông nó là một đứa trẻ ngoan, nó tinh khôn như một con
mèo, và lại tốt bụng nữa. Nó sẽ làm lụng cho mình.
- Trong lúc chờ đợi nó làm cho mình thì mình hãy làm cho nó đã! Mà tôi thì
tôi không làm được nữa.
- Thế đến khi bố mẹ nó đòi nó về thì ông nói sao?
- Bố mẹ nó à! Nó có bố mẹ không đã chứ? Nếu có thì từ tám năm nay, tất bố
mẹ nó đã đi tìm nó và gặp nó rồi! Ôi chao! Tôi thật là ngu xuẩn, cứ tin chắc là nó có
bố mẹ, một ngày kia bố mẹ nó sẽ đến xin nó và đền công bấy lâu mình nuôi nấng nó.
Chẳng qua mình là một thằng ngây, một thằng ngốc. Đừng tưởng rằng tã nó sang, có
viền ren, thì tất bố mẹ nó sẽ đi tìm nó... Có lẽ bố mẹ nó chết cả rồi cũng nên.
- Nếu bố mẹ nó chưa chết, và một ngày kia họ đến hỏi chúng ta thì thế nào?
Tôi thì tôi tin chắc là họ sẽ đến.
- Đàn bà thật là khó nói, đã muốn cái gì thì cứ giữ khư khư!
- Nhưng mà nếu họ đến thì thế nào cơ chứ?
- Thì mình bảo họ lại trại trẻ rơi mà hỏi. Thôi nói thế đủ rồi. Câu chuyện này
làm tôi bực mình lắm. Ngày mai tôi sẽ dẫn nó đến ông xã trưởng. Bây giờ tôi lại thăm
bác Phơrăngxoa một chút, chừng một tiếng tôi về.
Cánh cửa mở ra rồi đóng lại. Ông ta đi rồi. Tôi vùng dậy và gọi má Bácbơranh:
- Ôi! Má ơi!
Má chạy đến bên giường tôi.
- Má không để con đi trại trẻ rơi, phải không hả má?
- Không Rêmi của má ạ, không đâu!
Và má ôm chặt tôi vào lòng, hôn tôi âu yếm. Sự vuốt ve của má làm tôi hởi dạ,
nước mắt ngừng chảy. Má dịu ngọt hỏi:
- Thế con không ngủ à?
- Nào phải tại con!
- Má không mắng con đâu. Thế ông Giêrôm nói gì, con nghe hết cả chứ?
- Vâng, con nghe nói má không phải là mẹ đẻ của con, mà ông ấy cũng không
phải là cha đẻ của con.
Tôi nói câu ấy với hai giọng khác nhau: tôi đau buồn nhận thấy má không phải
là mẹ đẻ tôi, nhưng tôi lại thấy sung sướng, gần như tự hào vì ông ta không phải là cha
tôi. Hai tình cảm trái ngược nhau bộc lộ qua giọng nói. Nhưng má Bácbơranh hình
như không chú ý gì đến cái đó. Má nói:
- Đáng lẽ ra má phải nói thật với con từ trước kia. Nhưng con ăn ở với má, con
đẻ cũng không bằng, cho nên má không đành lòng bỗng dưng nói cho con biết má
không phải là mẹ đẻ của con! Con ơi! Con đã nghe thấy đấy, không ai biết mẹ đẻ của
con cả. Bà ấy còn sống hay đã chết rồi, nào ai hay? Vào một buổi sáng Pari, ông
Giêrôm đi làm, qua một phố rộng rãi có trồng cây, phố Bơrơtơi, thì bỗng nghe có
tiếng trẻ con khóc. Tiếng khóc hình như từ trong hốc cổng khu vườn vọng ra. Hôm đó
vào tháng hai, lúc trời tang tảng sáng. Ông bèn đi lại gần cửa và trông thấy một đứa trẻ
nhỏ nằm ở trên bục cửa. Ông nhìn ra chung quanh xem có ai không để gọi thì chợt
thấy một người đàn ông ở đằng sau một gốc cây to chạy ra rồi biến mất. Chắc hẳn là
người đó đã giấu đứa trẻ ở khung cửa và đứng rình xem có ai nhặt nó không. Thế là
ông Giêrôm đâm ra lúng túng vì đứa nhỏ la hét ầm lên. Hình như nó hiểu là có người
đến cứu nó, nên nó không muốn bỏ lỡ dịp này. Trong lúc ông Giêrôm còn chưa biết
xử trí ra sao thì nhiều người thợ khác cũng vừa đến và mọi người bàn là phải đem đến
trình ông cảnh sát trưởng. Thằng bé thì vẫn cứ la hét. Người ta tưởng nó rét. Nhưng
khi vào phòng giấy của ông cảnh sát trưởng, phòng nóng ấm thế mà nó vẫn cứ kêu,
thì người ta đoán là nó đói. Người ta chạy đi tìm một bà hàng xóm cho nó bú. Nó vồ
ngay lấy vú. Quả là nó đang đói ngấu. Rồi người ta đem nó đến trước lò sưởi cởi áo
nó ra. Nó là một đứa bé trai độ năm sáu tháng, nước da hồng, to béo, thật kháu khỉnh.
Cứ nhìn những tã đùm bọc nó cũng đủ biết nó là con nh...
KHÔNG GIA ĐÌNH
Huỳnh Lý dịch
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.SachMoi.net
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
PHẦN THỨ NHẤT
1. Ở làng
2. Người bố nuôi
3. Gánh xiếc của ông cụ Vitali
4. Nhà mẹ
5. Lên đường
6. Bước đầu trong nghề
7. Tôi tập đọc
8. Vượt ngàn băng nội
9. Người khổng lồ đi hài bảy dặm
10. Ra trước công lý
11. Trên thuyền
12. Người bạn đầu tiên của tôi
13. Đứa trẻ nhặt được
14. Tuyết và sói
15. Ngài Giôlicơ
16. Vào Pari
17. Ông bầu gánh trẻ con phố Luốcxin
18. Mỏ đá Giăngtili
19. Lidơ
20. Tôi làm vườn
21. Gia đình tan tác
PHẦN THỨ HAI
22. Tiến lên
23. Một thành phố Đen
24. Thợ đun xe
25. Lụt mỏ
26. Trong ngách ngược
27. Công cuộc cứu nạn
28. Một bài học nhạc
29. Con bò của hoàng tử
30. Má Bácbơranh
31. Gia đình cũ và gia đình mới
32. Lão Bácbơranh
33. Tìm kiếm
34. Gia đình Đơrítxcơn
35. Thờ cha kính mẹ
36. Capi hư nết
37. Tã đẹp nói dối
38. Những đêm Nôen
39. Anh Bốp
40. Thuyền Thiên Nga
41. Tã đẹp nói thật
42. Giữa gia đình
LỜI GIỚI THIỆU
Hécto Malô (Hector Malot), sinh năm 1830 ở miền tây Bắc nước Pháp, là
một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết, được bạn đọc người Pháp yêu mến. Những tiểu
thuyết của ông, như KHÔNG GIA ĐÌNH, TRONG GIA ĐÌNH, PÔNGPÔNG,
RÔMANH CANBƠRI v.v... đều lành mạnh và hấp dẫn.
Ông mất năm 1890.
Trong tiểu thuyết của Malô, KHÔNG GIA ĐÌNH nổi tiếng hơn cả. Nó đã
được giải thưởng của Viện Hàn lâm văn học Pháp. Nhiều nước trên thế giới đã dịch
lại và xuất bản nhiều lần(1). Từ một trăm năm nay nó đã trở thành người bạn thân
yêu của thiếu nhi Pháp và châu Âu. Không những thiếu nhi, mà cả những bậc cha
mẹ, anh chị, thầy giáo và tất cả những ai yêu mến trẻ em, chú ý đến trẻ em đều đọc
nó say sưa, vì qua mỗi một câu chuyện lý thú, nó giải đáp cho người ta nhiều câu
hỏi luôn mới mẻ về việc nuôi dạy thiếu nhi.
KHÔNG GIA ĐÌNH kể chuyện một em bé không cha mẹ, không họ hàng thân
thích, đi theo một đoàn xiếc chó, khỉ, rồi cầm đầu đoàn ấy đi lưu lạc khắp nước
Pháp, sau đó bị tù ở Anh, cuối cùng tìm thấy mẹ và em. Em bé Rê-mi ấy đã lớn lên
trong gian khổ. Em đã chung đụng với mọi hạng người, sống khắp mọi nơi, “nơi thì
lừa đảo, nơi thì xót thương”. Em đã lao động mà sống, lúc đầu dưới quyền điều
khiển của một ông già từng trải và đạo đức, cụ Vitali về sau thì tự lập và không
những lo cho mình mà còn bảo đảm việc biểu diễn và sinh sống cho cả một gánh hát
rong. Đã có khi em và cả đoàn lang thang mấy hôm liền không có chút gì trong
bụng. Đã có khi em suýt chết rét. Đã có khi em bị lụt ngầm chôn trong giếng mỏ
mười mấy ngày đêm. Đã có khi em mắc oan bị giải ra trước tòa án và bị bỏ tù. Và
cũng có khi em được nuôi nấng đàng hoàng, no ấm. Nhưng dù ở đâu, trong cảnh
ngộ nào, em vẫn noi theo nếp rèn dạy của ông già Vitali giữ phẩm chất làm người,
nghĩa là ngay thẳng, gan dạ, tự trọng, thương người, ham lao động, không ngửa
tay xin xỏ, không dối trá, gian giảo, nhớ ơn nghĩa, luôn luôn muốn làm người có
ích.
Bên cạnh Rêmi có chú bé nghệ sĩ Mátchia khôn ngoan, linh lợi, tháo vát, tận
tình với bạn, một tài hoa nghệ thuật nở sớm cộng với một tấm lòng vàng; con chó
Capi khôn như người và rất có nghĩa; con khỉ Giôlicơ liến láu và đáng thương...
Những con người và con vật ở đây được dựng lên linh hoạt sống động, gây nhiều
hứng thú cho bạn đọc nhỏ của chúng ta.
Qua câu chuyện phiêu lưu hết sức hấp dẫn của chú bé Rêmi, người ta thấy
quyển sách ca ngợi lao động, ca ngợi tinh thần tự lập tự tin của tuổi trẻ, phát huy ý
thức chịu đựng gian khổ và tập quán xoay sở tháo vát, đề cao nghệ thuật, khuyến
khích tình bạn chân chính. Nó phản ánh cảnh lao động và sinh hoạt bấp bênh, nguy
hiểm, đầy đe dọa của những người thợ mỏ và của nhân dân lao động thành phố
trong xã hội tư sản. Đồng thời nó thể hiện cái thực tế là tình thương người, lòng biết
ơn, tình hữu ái giai cấp ở về phía những người lao động. Quyển sách lại diễn tả
nhiều cảnh đẹp thiên nhiên, nhiều cảnh sinh hoạt hấp dẫn ở nông thôn và thành thị,
giúp bạn đọc thêm phần hứng thú trong khi theo dõi câu chuyện, lại có thể mở rộng
hiểu biết.
Nhưng KHÔNG GIA ĐÌNH dưới con mắt chúng ta không phải là một viên
ngọc không vết. Do một nhà văn tư sản viết - dù là nhà văn tiến bộ - cuốn sách vẫn
không khỏi mang những sai lầm của tư tưởng và quan niệm xã hội của ông ta. Tác
giả tôn sùng những người giàu sang, có danh vọng, lịch sự. Ông đã dành cho Rêmi
một bà mẹ đại tư sản với một gia tài kếch sù, để cho khi nhận ra mẹ, Rê- mi có sẵn
của cải đó mà đền ơn trả nghĩa. Làm như không có tiền muôn bạc triệu thì người ta
không có cách gì tỏ lòng biết ơn! Dưới ngòi bút của tác giả Rê-mi quí trọng người
lao động, những người có tấm lòng tốt, nhưng đối với những người có địa vị xã hội,
có cử chỉ lịch sự, nghĩa là có cái vỏ đẹp đẽ, cao sang, Rêmi mới thật trố mắt khâm
phục. Ước mơ của Rêmi - mà đấy là một mặt hạn chế của tác phẩm - là được hưởng
một cuộc sống vàng lụa như họ, được trở thành những con người sang trọng như
họ. Đó là điều mà chắc chắn là các bạn đọc thiếu nhi chúng ta ngày nay không tán
thành, càng không để cho bị tiêm nhiễm.
Người dịch tập truyện không mong muốn gì hơn là khi đọc sách, các bạn vừa
thấy hứng thú, vừa học tập được nhiều, được thưởng thức một tác phẩm văn học có
giá trị đồng thời cũng rút ra được những điều tốt nên theo, những điều hạn chế nên
tránh trong việc tu dưỡng, rèn luyện của mình, hoặc trong việc nuôi dạy con em sau
này.
HUỲNH LÝ
--------------------1. Ở ta, trước đây nhà Hồ Biểu Chánh đã phỏng theo “Không gia đình” mà viết
cuốn tiểu thuyết nhỏ “Cay đắng mùi đời”, được độc giả ta nửa thế kỉ hoan
nghêng. Khoảng vài mươi năm lại đây ở miền Nam có mấy bản dịch giản lược
được vài trăm trang. Ở miền Bắc, bản dịch này được tái bản ba lần với số lượng
lớn.
PHẦN THỨ I
1
Ở LÀNG
Tôi là một đứa trẻ người ta nhặt được.
Tuy vậy, cho đến năm lên tám, tôi vẫn tưởng tôi có mẹ cũng như mọi đứa trẻ
khác, vì mỗi khi tôi khóc thì luôn luôn có một người đàn bà dịu dàng ôm tôi vào lòng,
âu yếm ru, khiến cho nước mắt tôi ngừng chảy.
Mỗi khi tôi lên giường ngủ, cũng có một người đàn bà đến hôn tôi. Và khi gió
rét tháng chạp trát những bông hoa tuyết vào cửa kính trắng xóa, bà ấy vừa ấp ủ chân
tôi trong đôi bàn tay trìu mến của bà, vừa hát cho tôi nghe một bài hát mà giờ đây tôi
vẫn còn nhớ điệu và lõm bõm vài lời ca.
Khi tôi chăn con bò sữa ở ven đường đầy cỏ, hoặc ở những đám cây hoang, lá
dại mà gặp một trận mưa dông bất ngờ đổ xuống, thì bà chạy đến đón tôi, bắt tôi núp
trong chiếc váy len của bà và túm váy lên che đầu che vai cho tôi cẩn thận.
Mỗi lần có chuyện gây gổ với bạn bè thì bà dỗ tôi, bảo tôi kể cho bà nghe
những nỗi bực bội chất chứa trong lòng và hầu như lúc nào bà cũng tìm được những
lời thích hợp để an ủi tôi, hoặc tỏ ra đồng tình với tôi.
Qua những việc ấy, và bao nhiêu việc khác nữa, từ giọng nói, cách nhìn, cái
vuốt ve cho đến những lời trách mắng ôn tồn, tôi yên trí bà là mẹ tôi.
Tôi được biết bà không phải là mẹ đẻ, mà chỉ là mẹ nuôi, như thế này đây.
Làng tôi gọi là làng Savanông. Nói cho đúng thì đó là cái làng ở đó tôi lớn lên,
tôi sống thời thơ ấu, chứ tôi làm gì có quê hương, có nơi chôn rau cắt rốn, cũng như
tôi đã không có cha có mẹ gì cả. Làng Savanông là một trong những làng nghèo nàn
nhất ở miền Trung nước Pháp.
Không nghèo vì dân làng chây lười, mà chính vì nó ở vào một vùng đất đai
cằn cỗi. Đất mặt rất mỏng, muốn mùa màng tốt, phải có phân, vôi, mà những thứ này
trong vùng quá hiếm. Vì thế, người ta thấy ít những cánh đồng trồng trọt mà nhan
nhản những đám cỏ hôi, cây dại. Hết những đám ấy thì là địa hạt của những lăngdơ(1)
.
Trên các lăngdơ cao ấy, gió lạnh thổi rát làm táp những lùm cây thưa thớt cành
nhánh vặn vẹo quay cuồng.
Muốn thấy cây cối xanh tốt thì phải rời bỏ cao nguyên, xuống các thung lũng
cạnh sông, ở đấy có những cây dẻ cao to và những cây sồi vạm vỡ.
Cái nhà tôi sống những năm đầu của tuổi thơ ấu dựng trong một thung lũng
như thế, trên bò con suối nước chảy xiết đổ vào một phụ lưu của sông Loa.
Cho đến năm lên tám, tôi chưa hề thấy đàn ông trong nhà, tuy má tôi không
phải là góa bụa. Chồng bà vốn là thợ đá đi làm ăn ở Pari như phần đông những người
thợ khác trong vùng. Từ ngày tôi bắt đầu hiểu biết sự việc chung quanh mình thì tôi
chưa thấy ông ta về làng lần nào. Thỉnh thoảng có bạn bè về quê, ông ta mới nhắn tin
về:
“Này, bác Bácbơranh, bác giai vẫn được mạnh khỏe đấy! Bác ấy nhờ tôi tin cho
bác biết là công việc làm ăn khá lắm và bác ấy gửi cho bác số tiền này đây. Bác đếm đi
chứ!”.
Chỉ có thế thôi. Chừng ấy tin tức, má Bácbơranh cũng cho là đủ rồi: ông chồng
mạnh khỏe; ông làm ra tiền, kiếm ăn được, còn gì nữa! Đừng tưởng ông Bácbơranh ở
Pari lâu thế là vì có điều bất hòa với vợ. Không hề có chuyện như thế. Ồng ta ở lại
Pari là do công việc làm ăn bắt buộc, thế thôi. Lúc già, ông sẽ trở về ở với vợ. Với số
tiền dành dụm được, đến ngày tuổi già sức yếu, vợ chồng không lo lâm vào cảnh cơ
hàn.
Một chiều tháng mười một, có một người lạ mặt dừng lại trước cổng vườn nhà.
Tôi đang bẻ củi chà là ở bục cửa. Người ấy không mở cổng mà chỉ nghểnh đầu nhòm
vào, nhìn tôi mà hỏi có phải nhà bà Bácbơranh ở đây không.
Tôi mời ông ta vào. Ông ta đẩy cửa, làm cho sợi dây buộc kêu cót két, rồi
bước chậm rãi qua sân.
Tôi chưa bao giờ thấy ai lấm bùn bê bết như ông này. Những mảng bùn, mảng
còn ướt, mảng đã khô, trát khắp người từ đầu tới chân. Chỉ nhìn những cũng đủ biết
ông ta đã đi rất lâu trên những con đường lầy lội. Nghe tiếng chúng tôi, má Bácbơranh
chạy ra. Khi khách bước qua bậc cửa thì má cũng vừa tới, hai người gặp nhau. Khách
nói:
- Tôi đem tin từ Pari về đây!
Đó là những lời giản dị tai chúng tôi nghe đã quen. Nhưng mà giọng nói lần
này không giống như mọi bận, không giống như những khi người khách nói: “Bác giai
bình yên. Công việc làm ăn tốt”. Má Bácbơranh chập hai tay vào nhau, kêu:
- Ôi trời ơi! Chắc có tai họa gì xảy đến cho ông Giêrôm nhà tôi rồi!
- Vâng, quả có thế. Nhưng bà cũng không nên quá hoảng hốt! Ông nhà bị
thương, đúng đấy, nhưng ông ấy không chết. Có điều chắc chắn sẽ bị què. Hiện giờ
ông ấy còn nằm ở bệnh viện. Tôi nằm giường bên cạnh, nên nhân tôi về quê, ông ấy
nhờ tôi tạt qua đưa tin cho bà biết. Tôi không dừng lại đây lâu vì còn phải đi ba dặm
đường nữa, mà trời sắp tối rồi.
Má Bácbơranh muốn biết tường tận hơn, nên mời khách ở lại ăn cơm tối. Má
nói đường xấu lắm và người ta đồn ở trong rừng có chó sói, chi bằng để sáng mai hãy
đi.
Khách ngồi vào bên cạnh bếp lò, vừa ăn vừa kể cho chúng tôi nghe tai nạn xảy
ra như thế nào: ông Bácbơranh bị một giàn giáo đổ xuống đè suýt bẹp người. Người
chủ thầu viện lẽ ông ta không có nhiệm vụ gì phải đứng ở chỗ ấy, nên không trả cho
ông ta một khoản bồi thường nào cả. Ông khách nói:
- Thật không may cho ông Bácbơranh, tội nghiệp ông ấy! Thật không may! Có
những tên láu cá, nhân cơ hội tương tự đã vớ được một khoản thực lợi đồng niên(2).
Còn ông nhà thì chẳng được gì sất!
Ông khách vừa hơ đôi ống quần cứng cồm cộp bùn khô, vừa luôn mồm nhắc
đi nhắc lại mấy tiếng “thật không may” với một vẻ thương cảm chân thành. Sự xuýt
xoa của ông chứng tỏ ông sẵn lòng chịu tàn tật để vớ được một món thực lợi. Ông kết
thúc câu chuyện:
- Tuy thế, tôi cũng khuyên ông nhà cứ đệ đơn kiện lão chủ thầu.
- Kiện tụng thì tốn kém chết đi!
- Tốn đấy, nhưng được kiện thì cũng bõ chứ!
Má Bácbơranh muốn đi Pari nhưng chuyện đó đâu có phải dễ: đường sá xa xôi
tốn kém quá.
Sáng sớm hôm sau má con tôi xuống làng dưới tìm cha xứ để hỏi ý kiến. Cha
xứ chưa muốn để cho má đi, trước khi biết chắc đi như thế có giúp ích gì cho chồng
không. Cha viết thư cho ông giáo sĩ ở bệnh viện nơi ông Bácbơranh đương nằm điều
trị. Vài ngày sau, có thư trả lời nói rằng má Bácbơranh không cần đi, chỉ cần gửi một
số tiền lên Pari để cho chồng kiện người chủ thầu.
Ngày tháng trôi qua. Thỉnh thoảng lại có thư về, thư nào cũng thúc giục gửi
thêm tiền lên. Bức thư cuối cùng thúc bách hơn cả, nhắn rằng nếu hết tiền thì bán con
bò sữa đi mà gửi.
Những ai đã sống ở nông thôn cùng với bà con nông dân đều hiểu nỗi đau khổ
hãi hùng chứa trong mấy tiếng: bán con bò sữa. Đối với nhà sinh vật học, con bò là
một con vật thuộc loài nhai lại. Dưới con mắt của khách du ngoạn, nó là con vật làm
cho phong cảnh tăng thêm vẻ đẹp khi trên thảm cỏ nó ngẩng cái mõm đen nhánh đẫm
hơi sương của nó lên. Với trẻ em thành thị, đó là nguồn cung cấp cà phê sữa và phó
mát đánh kem. Nhưng đối với người nông dân, nó còn quí báu hơn nhiều. Dù cho
nghèo xác nghèo xơ, dù gia đình con cái có đông đến đâu, có một con bò sữa trong
chuồng cũng không sợ đói. Chỉ một cái thừng hay một sợi dây quấn trên sừng thôi
cũng đủ để cho một em bé chăn dắt nó ăn dọc các con đường phủ đầy cỏ, ở những
nơi không thuộc về ai. Và thế là chiều đến, cả nhà có bơ nấu xúp, có sữa để ăn với
khoai tây. Bố mẹ, con cái, lớn nhỏ đều sống nhờ vào con bò sữa.
Cũng nhờ có con bò sữa mà má con tôi sống đầy đủ đến nỗi hầu như không
cần ăn thịt. Không những nó là vú nuôi của chúng tôi, nó còn là bầu bạn, là chỗ chân
tình.
Thật vậy, đừng tưởng bò là một con vật ngu ngốc. Trái lại, nó rất thông minh,
nó có những đức tính mà biết cách rèn luyện thì còn phát triển nhiều. Chúng tôi vỗ về
nó, nói chuyện với nó và nó hiểu chúng tôi. Về phần nó, với đôi mắt to, tròn, hiền
dịu, nó biết cách làm cho chúng tôi hiểu nó muốn gì, nó cảm thấy thế nào. Nói tóm
lại, chúng tôi rất yêu thương nó và nó cũng yêu thương chúng tôi.
Ấy thế mà phải lìa bỏ nó đấy! Vì rằng chỉ có cách “bán con bò sữa đi” thì mới
làm cho ông Bácbơranh thỏa dạ.
Một bác lái tới nhà chúng tôi. Bác ta xem xét con Rútxét rất kỹ, sờ nắn nó mãi,
vừa sờ vừa lắc đầu ra vẻ không ưng ý. Bác ta nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần rằng con
bò không vừa ý bác ta chút nào. Bác chê nó là bò nhà nghèo, khó bán lại lắm. Không
có sữa, bơ lại kém chất. Chê nhún chán, rút cục bác cũng đồng ý mua, nhưng bảo
mua là vì lòng tốt, muốn giúp má Bácbơranh thôi, và cũng vì thấy má là người trung
hậu.
Tội nghiệp cho con Rútxét. Hình như nó hiểu cả nên nó nhất định không chịu
ra khỏi chuồng và kêu rống lên. Bác lái đưa chiếc roi da quấn ở cổ bác cho tôi và bảo:
- Này chú bé, luồn ra phía sau mà đuổi nó ra.
- Ấy chớ, cái đó không được.
Má Bácbơranh nói thế rồi cầm lấy chiếc dây dắt và dịu dàng dỗ nó: “Nào cô
gái, đi đây, đi đây nào!”. Thế là con Rútxét nghe theo không cưỡng lại nữa. Ra tới
đường, bác lái cột nó vào sau xe. Nó đành phải bước líu ríu theo con ngựa. Chúng tôi
trở vào nhà rồi, nhưng mãi một lúc lâu vẫn còn nghe thấy tiếng nó rống.
Thế là chẳng còn sữa, chẳng còn bơ nữa. Buổi sáng một mẩu bánh mì suông,
buổi chiều khoai tây chấm muối.
Bán con Rútxét được ít hôm thì tới ngày thứ ba ngả mặn sau tuần chay(3). Năm
trước, nhân dịp này má Bácbơranh đã thết tôi một bữa bánh kẹp và bánh rán ra trò.
Tôi ăn nhiều, rất nhiều, khiến má hết sức vui thích. Nhưng mà hồi đó còn con Rútxét
nên còn sữa để nhào bột và có bơ để rán. Bây giờ không còn con Rútxét thì cũng
chẳng có sữa, chẳng có bơ, chẳng có ngày thứ ba ngả mặn nữa rồi! Tôi buồn rầu nghĩ
bụng thế. Nhưng má Bácbơranh đã dành cho tôi một sự bất ngờ. Xưa nay má vốn
không quen vay mượn, nhưng lần này má cũng cố vay của bà hàng xóm này một chén
sữa, của bà kia một miếng bơ. Vì thế, đến trưa tôi về nhà thì thấy má đang trút bột vào
một nồi đất lớn.
- Ơ này, bột mì!
Tôi vừa nói thế, vừa lại gần má. Má mỉm cười trả lời:
- Phải rồi, đúng là bột mì ấy, Rêmi ạ! Bột mì trắng hảo hạng. Này con xem,
mùi thơm phức!
Tôi không có gan hỏi má lấy bột ra làm gì. Chính vì tôi nóng lòng muốn biết
quá nên tôi lại càng không dám hỏi. Vả lại tôi đã định giả vờ như không biết hôm nay
là ngày thứ ba ăn mặn để khỏi tủi lòng má. Má nhìn tôi, hỏi:
- Người ta dùng bột mì làm gì nào?
- Làm bánh mì.
- Còn làm gì nữa?
- Khuấy cháo.
- Rồi còn làm gì nữa?
- Chà! Con không biết.
- Có, con biết đấy. Nhưng con là một đứa trẻ ngoan, nên con không nói ra đấy
thôi. Con biết hôm nay là ngày thứ ba ăn mặn, tức là ngày bánh kẹp, bánh rán. Nhưng
con thấy nhà không có sữa, có bơ nên con không nỡ nhắc đến, có phải không con?
- Ôi, má ơi!
- Má đã đoán trước nên má xoay xở để cho ngày thứ ba ăn mặn của con không
đến nỗi xám ngắt. Này con nhìn vào trong cái thùng gỗ kia mà xem.
Tôi nhanh nhảu mở nắp thùng lên thì quả thấy nào bơ, nào sữa, nào trứng, có
cả ba quả táo nữa. Má nói:
- Đưa trứng đây cho má. Trong lúc má đập trứng, con gọt táo đi.
Tôi cắt táo ra từng khoanh. Má đập trứng vào bột và đánh lên, thỉnh thoảng lại
đổ vào một thìa sữa. Khi bột đã khuấy đều, má Bácbơranh vần cái nồi lên trên tro
nóng. Thế là chỉ còn đợi đến chiều thôi, vì đến buổi tối chúng tôi mới ăn bánh kẹp và
bánh rán.
Thú thật, cái ngày hôm đó, tôi thấy nó dài làm sao và đã đôi ba lần tôi chạy
đến nhấc chiếc khăn phủ trên nồi bột để dòm thử. Má bảo:
- Con làm thế lạnh bột mất, rồi nó không dậy men tốt đâu!
Nhưng bột dậy rất tốt. Trên mặt bột, có những bong bóng phồng lên, vỡ lỗ
chỗ. Từ cái nồi bột lên men ấy tỏa ra một mùi trứng và sữa ngon lành. Má bảo:
- Con bẻ cho má một mớ củi vụn. Phải đốt lửa cho đượm, đừng có khói.
Rồi má thắp nến lên:
- Con cho thêm củi vào lò đi.
Tôi làm ngay không đợi nói hai lần, và ngay sau đó, một ngọn lửa cao bốc
cháy trong lò, ánh sáng ấy chập chờn tỏa ra khắp bếp. Má Bácbơranh lấy cái chảo treo
ở tường đặt lên bếp lò.
- Đưa bơ đây cho má!
Má lấy mũi dao xén một cục bơ bằng quả hồ đào cho vào chảo. Bơ chảy ra,
reo xèo xèo. Ôi! Cái mùi thơm làm nhỏ dãi, cái mùi thơm vì đã vắng lâu ngày nên
càng kích thích miệng lưỡi ta! Ôi! Khúc nhạc vui vẻ của chảo bơ liu diu tí tách trên lò!
Tôi chăm chú theo dõi bản nhạc ấy, nhưng vẫn nghe như ở ngoài sân có tiếng
chân người. Ai đến ám chúng tôi giờ này nhỉ? Hẳn lại là một bà hàng xóm sang xin lửa
đây.
Tôi không thèm chú ý, vì má Bácbơranh vừa vục môi vào trong nồi đất, múc
đổ vào lòng chảo một mẻ bột trắng tinh. Quả không phải là lúc nghĩ vơ vẩn đến
chuyện khác!
Nhưng chính vào lúc bấy giờ thì có tiếng gậy lạch cạch trên bục cửa, rồi cánh
cửa thình lình mở toang. Không ngoảnh cổ ra, má Bácbơranh hỏi:
- Ai đấy?
Một người đàn ông bước vào. Dưới ánh lửa chiếu táp vào người ông ta, tôi thấy
ông mặc áo bờlu trắng, tay cầm cái gậy lớn. Ông nói, giọng cục cằn:
- Ở đây người ta tiệc tùng gì đấy à? Xin cứ tự nhiên.
Má Bácbơranh vội vàng đặt chảo xuống đất kêu lên:
- Chao, trời ơi! Ông Giêrôm đấy ư?
Rồi má cầm tay tôi, đẩy tôi ra trước mặt người đó. Ông ta vẫn đứng ở bục cửa.
Má nói:
- Ba con đấy!
--------------------1. Lăngdơ, phiên âm từ Landes: vùng đồng lầy, hoang vu ở miền Tây Nam nước
Pháp – Người dịch chú thích.
2. Tiền lời thu hàng năm do gửi một số vốn ở ngân hàng, hay mua phiếu quốc trái,
trong xã hội tư sản. Đây muốn nói đến khoản tiền lãi hàng năm do món tiền bồi
thường gửi ngân hàng đem lại. – N.D
3. Theo đạo Gia tô, trước ngày lễ Phục sinh, khoảng đầu tháng tư dương lịch, tín
đồ phải ăn thanh đạm, không có chất béo, tương tự như nười Phật giáo ăn
chay. – N.D
2
NGƯỜI BỐ NUÔI
Tôi tiến lại gần ông ta, định ôm ông ta, nhưng ông ta lấy đầu gậy cản tôi lại:
- Cái thằng này là thằng nào?
- Thằng Rêmi đấy!
- Má nó có nói với tôi là...
- Ờ...vâng, nhưng mà...không phải, bởi vì rằng...
- À, không phải, không phải!...
Ông ta giơ cao chiếc gậy, đi lại chỗ tôi. Tự nhiên tôi lùi lại.
Nào tôi đã làm gì sai trái? Tôi có tội tình gì? Tại sao lại đối xử với tôi như thế
khi tôi chạy đến định ôm hôn ông? Tôi chưa kịp suy nghĩ về những câu hỏi như vậy
đang dồn dập trong đầu óc rối beng của tôi thì đã nghe ông ta nói:
- Các người đang chuẩn bị ăn mặn ngày thứ ba đây. Thật là đúng lúc vì tớ đang
đói ngấu. Ăn tối có gì?
- Tôi đang làm bánh kẹp.
- Tôi biết. Nhưng mà má nó định cho một người mang mười dặm đường trên
đôi chân ăn bánh kẹp à?
- Nhà chẳng còn gì cả: tôi có biết ông về đâu?
- Sao? Không còn gì à? Không có gì ăn tối à?
Ông ta đưa mắt nhìn quanh nhà:
- Có bơ đây này.
Ông lại đưa mắt lên trần nhà nhìn vào chỗ xưa kia vẫn treo mỡ lợn. Nhưng đã
từ lâu các nóc treo trống trơ không có gì cả, chỉ có mấy túm hành và tỏi lủng lẳng ở xà
nhà. Ông ta lấy gậy chọc cho một túm hành rơi xuống và nói:
- Hành đây! Bốn năm củ hành, một miếng bơ, thế là có một nồi xúp ngon. Má
nó hãy bỏ bánh kẹp ra và cho hành vào chảo phi đi.
Bỏ bánh kẹp ở chảo ra! Má Bácbơranh không cãi lại. Chẳng những thế, bà còn
vội vã làm theo lời chồng trong lúc ông ta ngồi trên chiếc ghế dài ở cạnh lò sưởi.
Tôi không dám rời khỏi chỗ mà cái gậy của ông ta đã đẩy tôi lùi đến. Tôi đứng
tựa vào chiếc bàn, để ý ngắm con người ông. Ông ta tuổi độ năm mươi, vẻ mặt cục
mịch, dáng người nghiệt ngã. Thương tích đã làm cho đầu ông lệch về bên phải và cái
tật đó càng khiến cho người ta thấy chờn chợn khi nhìn thấy ông. Má tôi lại bắc chảo
lên bếp. Ông Bácbơranh nói:
- Thế má nó định nấu xúp với chút xíu bơ thế kia à.
Rồi tự tay ông cầm đĩa bơ chút sạch vào chảo.
Thế là đi đời bơ, và cố nhiên cũng đi đời bánh kẹp!
Giá như vào lúc khác thì chắc chắn cái tai họa ấy đã làm cho tôi xúc động lắm.
Nhưng khi đó tôi chẳng còn bụng dạ nào mà nghĩ đến bánh kẹp và bánh rán nữa. Tôi
chỉ còn băn khoăn về mỗi một việc: chính cái con người nghiệt ngã ấy lại là ba tôi.
“Ba tôi! Ba tôi!”. Đó là mấy tiếng mà tự nhiên tôi lắp đi lắp lại như cái máy.
Chưa bao giờ tôi hình dung rõ rệt như thế nào là một người cha. Tôi tưởng
tượng lờ mờ rằng người cha chẳng qua chỉ là một người mẹ có giọng nói ồ ồ mà thôi.
Đến nay, khi nhìn thấy người cha ở đâu trên trời rơi xuống cho tôi đó, tôi cảm
thấy đau đớn hãi hùng. Vừa rồi tôi muốn ôm hôn cha tôi, nhưng cha tôi đã lấy đầu
gậy đẩy tôi ra. Tại sao vậy? Khi tôi hôn má Bácbơranh chẳng bao giờ má đẩy tôi ra cả,
trái lại má còn bế xốc tôi lên, ôm chặt tôi vào lòng.
Ông ta bảo tôi:
- Đừng cứ sừng sững như trời trồng ấy, mau mà dọn bát đĩa ra bàn đi chứ!
Tôi vội vàng tuân lệnh. Xúp đã chín, má Bácbơranh múc ra đĩa. Thế là từ bên
lò sưởi, ông ta đứng dậy đi lại bàn ngồi xuống và bắt đầu ăn. Thỉnh thoảng ông chỉ
ngừng lại để nhìn tôi. Tôi không tài nào nuốt được, vì bối rối, lo ngại. Tôi cũng nhìn
ông ta nhưng chỉ đám nhìn trộm. Khi gặp đôi mắt ông ta thì tôi lại cúi mặt xuống. Đột
nhiên ông cầm thìa chỉ vào tôi:
- Thường ngày thằng này nó ăn có khỏe hơn bữa nay không?
- Ồ, nó ăn được lắm chứ!
- Mặc xác nó! Ít ăn, ít uống thì còn được!
Tất nhiên là tôi chẳng muốn nói gì và cả má Bácbơranh cũng không muốn bắt
chuyện. Má đi đi lại lại quanh bàn, chăm chú phục dịch ông chồng. Ông ta lại hỏi tôi:
- Mày không đói à?
- Không.
- Thế thì đi ngủ đi, và cố ngủ ngay nhé, không thì tao nổi giận lên đấy!
Má Bácbơranh đưa mắt nhìn tôi, ý muốn bảo tôi vâng lời đi, đừng có cãi lại.
Nhưng lời dặn dò đó cũng thừa vì tôi không hề có ý chống đối.
Như ở phần lớn nhà nông dân, nhà bếp của chúng tôi cũng dùng làm buồng
ngủ. Cái bàn, cái thùng gỗ, cái tủ đựng bát đĩa, nói chung những đồ đạc được dùng
cho việc dọn ăn đều kê cạnh lò sưởi. Ở phía bên kia là giường ngủ. Giường của tôi ở
xung quanh có chăng diềm vải đỏ.
Tôi vội vàng cởi áo lên nằm. Nhưng không sao ngủ được.
Người ta không ngủ theo mệnh lệnh. Người ta chỉ ngủ khi buồn ngủ và khi
trong lòng yên tĩnh. Vậy mà tôi lại không buồn ngủ và trong lòng tôi cũng không yên
tĩnh. Trái lại tôi rất băn khoăn, hơn nữa còn đau khổ.
Cái người ấy mà là cha mình ư? Là cha thì tại sao ông ta lại đối xử với mình tàn
nhẫn thế?
Úp mặt vào tường, tôi cố gắng xua đuổi những ý nghĩ ấy và mong ngủ thiếp đi
theo lệnh của ông ta. Nhưng không tài nào nhắm mắt được. Giấc ngủ không đến và
chưa bao giờ tôi lại thấy tỉnh táo như lần này.
Một lúc sau, không biết chừng bao nhiêu lâu, tôi nghe thấy có người lại gần
giường tôi. Nghe bước chân đó chậm chạp, nặng nề, kéo lê chân, tôi biết ngay không
phải là má Bácbơranh. Một hơi thở nóng hổi bay qua trên tóc tôi. Có tiếng thầm thì
hỏi:
- Mày ngủ chưa?
Tôi nhất định không trả lời vì mấy tiếng: “tao nổi giận lên” vẫn còn văng vẳng
bên tai tôi.
- Nó ngủ rồi đấy! - Má Bácbơranh nói - Hễ nằm xuống là ngủ ngay, nó quen
thế rồi. Ông cứ nói, không sợ nó nghe thấy đâu.
Đáng lẽ tôi phải nói tôi chưa ngủ, nhưng tôi không dám. Người ta đã ra lệnh
cho tôi ngủ, tôi không ngủ là có lỗi.
Má Bácbơranh hỏi:
- Việc kiện tụng của ông đến đâu rồi?
- Thua rồi! Quan tòa xử tôi bị nạn là lỗi tại tôi tự dưng đứng dưới giàn giáo,
chủ thầu không phải đền đồng nào cả.
Đến đấy, ông ta đấm bàn đánh thình một cái rồi lầu bầu chửi rủa, không nói
được một câu tử tế. Ngay sau đó, ông ta lại tiếp:
- Thua kiện, tiền mất, tật mang, nghèo đói, thế đấy! Thế mà còn chưa đủ đâu!
Bước chân về đến nhà lại còn thấy người ta cưu mang một đứa trẻ. Má nó hãy nói rõ
tôi nghe tại sao má nó không làm theo lời tôi dặn?
- Vì tôi không làm được!
- Không mang nó đi trại trẻ rơi nổi à?
- Một đứa bé nuôi bằng sữa mình và mình thương yêu thì sao đành lòng vứt bỏ
đi như thế được?
- Có phải con đẻ của má nó đâu!
- Ấy, tôi cũng muốn làm theo lời ông bảo nhưng chính lúc đó nó lại ốm.
- Ốm à?
- Phải, nó ốm, mang nó đến trại trẻ rơi như thế là không phải lúc, phải không
ông? Mang đến thì cũng bằng giết nó đi ấy.
- Thế khi nó đã khỏi ốm rồi thì sao?
- Nào nó có khỏi ngay cho đâu! Hết trận ốm này lại đến trận ốm khác: nó ho,
tội nghiệp thằng bé, nó ho nghe mà xót ruột. Ấy thằng Nicôla nhà ta mất đi cũng vì
thế. Tôi cảm thấy đưa thằng này ra tỉnh thì nó cũng đến chết như thằng bé ấy thôi.
- Thế còn sau đó?
- Ngày tháng qua đi. Tôi đã cố công lần nữa đến lúc đó thì tôi tưởng tốn ít nữa
chẳng sao.
- Hiện giờ nó bao nhiêu tuổi rồi?
- Lên tám.
- Thế thì năm nay lên tám, nó sẽ về cái chỗ mà đáng lẽ xưa kia nó phải về, và
như thế nó lại càng cảm thấy khó chịu hơn. Ấy làm như bà ngày trước chỉ tổ hại nó
thôi.
- Ôi, ông Giêrôm ơi, ông đừng làm thế!
- Đừng làm thế! Ai cấm đoán tôi? Má nó tưởng nhà ta giữ nó mãi được đấy à?
Một lúc im lặng, Từ nãy tôi xúc động quá, cứ thấy nghẹn tắc ở cổ, bây giờ mới
thở được. Giây lát sau má Bácbơranh nói tiếp:
- Chao ôi! Thành phố Pari đã làm cho tính tình ông thay đổi đi nhiều quá!
Trước kia chưa lên Pari ông không ăn nói như thế.
- Cũng có lẽ. Có điều này chắc chắn: Pari có làm cho tôi đổi tính thì nó cũng
làm cho tôi què quặt nữa. Bây giờ làm thế nào nuôi được miệng bà, miệng tôi? Hết
sạch cả tiền! Con bò sữa bán mất rồi. Mình đã chẳng có cái gì bỏ vào mồm, lại còn đi
nuôi báo cô một thằng bé không phải là con mình nữa hay sao?
- Nó là con tôi!
- Chẳng phải là con bà mà cũng không phải là con tôi. Nó không phải cái hạng
con nông dân. Trong lúc ăn tối tôi ngắm nó mãi: nó là một thằng bé ẻo lả, gầy còm,
tay chân lẻo khẻo.
- Nó xinh nhất vùng đấy!
Tôi có nói chuyện xấu đẹp đâu! Xinh mà làm quái gì! Chỉ cần khỏe thôi!
Người ta có bẻ cái xinh ra mà ăn đâu! Cứ nhìn đôi vai nó mà xem, có phải là con nhà
lao động không? Nó là con nhà thành thị, ở đây chúng ta không cần cái ngữ ấy.
- Tôi cam đoan với ông nó là một đứa trẻ ngoan, nó tinh khôn như một con
mèo, và lại tốt bụng nữa. Nó sẽ làm lụng cho mình.
- Trong lúc chờ đợi nó làm cho mình thì mình hãy làm cho nó đã! Mà tôi thì
tôi không làm được nữa.
- Thế đến khi bố mẹ nó đòi nó về thì ông nói sao?
- Bố mẹ nó à! Nó có bố mẹ không đã chứ? Nếu có thì từ tám năm nay, tất bố
mẹ nó đã đi tìm nó và gặp nó rồi! Ôi chao! Tôi thật là ngu xuẩn, cứ tin chắc là nó có
bố mẹ, một ngày kia bố mẹ nó sẽ đến xin nó và đền công bấy lâu mình nuôi nấng nó.
Chẳng qua mình là một thằng ngây, một thằng ngốc. Đừng tưởng rằng tã nó sang, có
viền ren, thì tất bố mẹ nó sẽ đi tìm nó... Có lẽ bố mẹ nó chết cả rồi cũng nên.
- Nếu bố mẹ nó chưa chết, và một ngày kia họ đến hỏi chúng ta thì thế nào?
Tôi thì tôi tin chắc là họ sẽ đến.
- Đàn bà thật là khó nói, đã muốn cái gì thì cứ giữ khư khư!
- Nhưng mà nếu họ đến thì thế nào cơ chứ?
- Thì mình bảo họ lại trại trẻ rơi mà hỏi. Thôi nói thế đủ rồi. Câu chuyện này
làm tôi bực mình lắm. Ngày mai tôi sẽ dẫn nó đến ông xã trưởng. Bây giờ tôi lại thăm
bác Phơrăngxoa một chút, chừng một tiếng tôi về.
Cánh cửa mở ra rồi đóng lại. Ông ta đi rồi. Tôi vùng dậy và gọi má Bácbơranh:
- Ôi! Má ơi!
Má chạy đến bên giường tôi.
- Má không để con đi trại trẻ rơi, phải không hả má?
- Không Rêmi của má ạ, không đâu!
Và má ôm chặt tôi vào lòng, hôn tôi âu yếm. Sự vuốt ve của má làm tôi hởi dạ,
nước mắt ngừng chảy. Má dịu ngọt hỏi:
- Thế con không ngủ à?
- Nào phải tại con!
- Má không mắng con đâu. Thế ông Giêrôm nói gì, con nghe hết cả chứ?
- Vâng, con nghe nói má không phải là mẹ đẻ của con, mà ông ấy cũng không
phải là cha đẻ của con.
Tôi nói câu ấy với hai giọng khác nhau: tôi đau buồn nhận thấy má không phải
là mẹ đẻ tôi, nhưng tôi lại thấy sung sướng, gần như tự hào vì ông ta không phải là cha
tôi. Hai tình cảm trái ngược nhau bộc lộ qua giọng nói. Nhưng má Bácbơranh hình
như không chú ý gì đến cái đó. Má nói:
- Đáng lẽ ra má phải nói thật với con từ trước kia. Nhưng con ăn ở với má, con
đẻ cũng không bằng, cho nên má không đành lòng bỗng dưng nói cho con biết má
không phải là mẹ đẻ của con! Con ơi! Con đã nghe thấy đấy, không ai biết mẹ đẻ của
con cả. Bà ấy còn sống hay đã chết rồi, nào ai hay? Vào một buổi sáng Pari, ông
Giêrôm đi làm, qua một phố rộng rãi có trồng cây, phố Bơrơtơi, thì bỗng nghe có
tiếng trẻ con khóc. Tiếng khóc hình như từ trong hốc cổng khu vườn vọng ra. Hôm đó
vào tháng hai, lúc trời tang tảng sáng. Ông bèn đi lại gần cửa và trông thấy một đứa trẻ
nhỏ nằm ở trên bục cửa. Ông nhìn ra chung quanh xem có ai không để gọi thì chợt
thấy một người đàn ông ở đằng sau một gốc cây to chạy ra rồi biến mất. Chắc hẳn là
người đó đã giấu đứa trẻ ở khung cửa và đứng rình xem có ai nhặt nó không. Thế là
ông Giêrôm đâm ra lúng túng vì đứa nhỏ la hét ầm lên. Hình như nó hiểu là có người
đến cứu nó, nên nó không muốn bỏ lỡ dịp này. Trong lúc ông Giêrôm còn chưa biết
xử trí ra sao thì nhiều người thợ khác cũng vừa đến và mọi người bàn là phải đem đến
trình ông cảnh sát trưởng. Thằng bé thì vẫn cứ la hét. Người ta tưởng nó rét. Nhưng
khi vào phòng giấy của ông cảnh sát trưởng, phòng nóng ấm thế mà nó vẫn cứ kêu,
thì người ta đoán là nó đói. Người ta chạy đi tìm một bà hàng xóm cho nó bú. Nó vồ
ngay lấy vú. Quả là nó đang đói ngấu. Rồi người ta đem nó đến trước lò sưởi cởi áo
nó ra. Nó là một đứa bé trai độ năm sáu tháng, nước da hồng, to béo, thật kháu khỉnh.
Cứ nhìn những tã đùm bọc nó cũng đủ biết nó là con nh...
 





