Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Người Mẹ Cầm Súng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:21' 03-12-2024
Dung lượng: 492.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ninh Phượng
Ngày gửi: 23h:21' 03-12-2024
Dung lượng: 492.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Người Mẹ Cầm Súng
Nguyễn Thi
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Tóm tắt tiểu sử Nhà văn Nguyễn Thi
Nhà văn Nguyễn Thi
Ạng còn có bút danh khác: Nguyễn Ngọc Tấn. Tên thật Nguyễn Hoàng Ca. Sinh ngày 15-5-1928,
hy sinh ngày 9-5-1968 tại đường Minh Phụng (nay là đường Nguyễn Thi - thành phố Hồ Chí
Minh) trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân. Quê gốc xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, Nam Hà
nhưng từ tuổi thiếu niên đã phải phiêu bạt vào Sài Gòn kiếm sống. Kháng chiến chống Pháp
bùng nổ, đầu quân làm công tác tuyên huấn và quản lý văn công ở quân khu miền Đông. Tập
kết ra Bắc là đội trưởng đội văn công sư đoàn 330, sau chuyển về tham gia ban biên tập đầu
tiên của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Từ 1962 trở lại chiến trường miền Nam, phụ trách tờ Văn
nghệ quân giải phóng cho đến khi hy sinh.
Là người viết văn xuôi, đồng thời Nguyễn Thi còn là người làm thơ, vẽ tranh, trình bày
báo, soạn nhạc. Ạng được Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (1965) với tập truyện Người mẹ
cầm súng. Hội viên hội nhà văn Việt Nam lớp đầu tiên.
Đã xuất bản: Trăng sáng (truyện ngắn, 1960), Đôi bạn (truyện ngắn, 1962), Người mẹ
cầm súng (truyện ký, 1965), Truyện và ký (1969), Năm tháng
*
* *
Truyện ký - Người Mẹ Cầm Súng
I. Căm thù và nghị lực
Tại xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có một người đàn bà đã sáu con tên là
Nguyễn Thị út. Dáng người nhỏ gọn, chị có khuôn mặt tròn và đôi mắt to, sáng. Cô bác lớn tuổi
quen gọi chị là con út Trầu, vì chị hay ăn trầu. Lại có người đặt danh chị là "Bà Hồng" vì chị
đánh giặc rất giỏi. Xóm giềng theo tục địa phương, ghép luôn tên chị với tên chồng, cứ kêu là út
Tịch. Mới đây bà con lại bàn tán một chuyện mới xảy ra về chị.
Một đêm tối trời tháng giáp Tết vừa qua, dân làng đáy ở ngoài cồn Bần Chát bỗng nghe
tiếng đàn bà kêu cứu. Vào mùa nước rong, sông chảy xiết, sóng to, có lượn lớn bằng con trâu,
dân nghèo đi làm ăn bị chìm ghe, đồ đạc trôi láng sông. Người ta chạy ghe máy ra giữa dòng,
vớt lên được một người đàn bà chỉ có đôi mắt to là còn tỉnh táo. Trên vai chị, một đứa bé tuổi
còn bú, cứng đờ, thở thoi thóp. Cùng với chị còn có ba đứa nhỏ gái run rẩy, da tím ngắt.
Đó là chị út Trầu. Hỏi ra mới biết hôm đó nghe tin giặc bố ngoài bờ sông, chị mướn xuồng
chở ít dưa sang Cầu Lộ bán, tiện dịp thăm dò tình hình giặc ngoài đó ra sao. Giặc chặn đường
ban ngày, chị phải đi đêm. Ra tới giữa sông, sóng lưỡi búa đã bốc nước làm chìm xuồng chị.
Sông Hậu Giang mênh mông, bề ngang bốn ki-lô-mét, chèo thẳng tay cũng mất ba tiếng. Mấy
mẹ con ngụp lặn giữa trời nước tối đen. Chị út vai vác đứa con mới đẻ, lội đứng, miệng hò hét
điều khiển ba đứa con gái, đứa nhỏ nhất mới lên tám tuổi, bám theo mép xuồng còn chìm lờ
đờ, thả trôi. Xuồng muốn chìm luôn xuống đáy sông, chị cố nâng lên. Mọi việc đều phải tỉnh
táo, chính xác. Nếu không khéo, đứa nhỏ trên vai sẽ chết. Quá tay một chút, cái xuồng cũng có
thể chìm luôn. Cứ như vậy, hai tiếng đồng hồ, sóng lớn, sóng cả đã thua chị.
Lên bờ, thoa bụng con, chị thử sức con bằng cách thọc lét[1] cho nó cười.
Mấy mẹ trong xóm nói:
- Đàn bà như tao thì sình lên rồi[2]. Nó vậy mà mẹ con còn y.
Mấy mẹ Khơ-me nói:
- Con đó chuyện gì nó cũng làm như đụng giặc vậy.
Bà Sáu Hò kêu lên:
- Nó uống toa thuốc gì mà gan trời vậy chớ!
- Có uống thuốc gì đâu. Hồi nhỏ cực quá nên bây giờ gan thôi. Mười hai tuổi từng đánh vợ
Hàm Giỏi mà.
Cô bác hay nhập chuyện đời xưa vào chuyện đời nay của chị như vậy.
Ngày đó, út mặc quần bố tời[3]. Rận ôi là rận! Lấy chai lăn, nó kêu như muối rang. út ở
giữ con cho vợ Hàm Giỏi, vừa phải leo cau, vừa leo dừa. Hai bên hông út sần sượng, nổi cục.
Leo cau tối ngày, đói, đến lúc đút cơm cho con nó ăn, út rất thèm. Thịt nạc nó kho nước dừa
béo vàng. Những miếng thịt lưng cá trê nó lòe ra trắng như bông. út ăn đại một miếng, ngọt
quá, út làm luôn cả chén, rồi chén nữa. Chiều thấy con đói, vợi Hàm Giỏi kêu út lại chửi: - Bộ
ông nội bay hồi đó chết đói thụt lưỡi hả?
Rồi mụ đánh út, quyết cho lòi thịt, lòi cá ra. Nhưng thịt cá vào bụng út rồi, ra sao được?
Mụ quất út một roi, làm út nằm giãy như sâu bị bắn. Lúc ngồi dậy, sẵn tay, út liệng luôn cái
chén vào mặt mụ. út không hiểu sao lúc đó mình dám làm như vậy. Vợ Hàm Giỏi cao, mập.
Ngay thằng chồng đứng cạnh mụ cũng chỉ như "lóc nói[4] mà ôm cột dừa". Uy thế của mụ
cũng ghê gớm như cái thây mụ. Mỗi lần ngồi ghe đi góp lúa[5], mụ ngả người ra sau, chỏi chân
ra trước, hai bên ghe chạm hai con khỉ bằng cây ngồi chầu.
Cái chén đập lại của út làm mụ Hàm Giỏi tím mặt. Mụ nắm tóc út, mớ tóc non có chút tị.
út với con dao cau lia vào tay mụ. Mụ vốn sợ dao, buông ngay. út phóng ra ngoài.
Bắt đầu ở đợ, út là một con bé tám tuổi, cởi truồng, ốm nhách. Đến lúc đánh lại địa chủ, út
mới mười hai tuổi, vẫn ốm nhách, nhưng lại thêm có một mối thù trong người.
Trốn nhà này đi, út lại phải đi ở đợ. Một nhúm tuổi, biết làm đâu, ăn đâu bây giờ. Con gái
hội đồng Thanh mướn út để leo dừa, leo cau và đổ đờm ho lao. Cho đến ngày cách mạng, rồi
kháng chiến. Một buổi Tây vào bố[6], các anh đàng mình rút, bỏ quên cái máy chữ. út mến các
anh nên rất thương cái máy. Em lấy dây buộc, lôi nó lên ngọn dừa, giấu kỹ. Chiều, các anh về,
cách mạng còn cái máy, nhưng đồ đạc và hộp vàng của con gái mụ địa chủ bị Tây lấy sạch. Chờ
các anh đi, nó kêu út lại chửi:
- Bây giấu đồ cho người ta còn đồ nhà bây bỏ. Quân bây ăn xong rồi quẹt mỏ như gà.
Nó xấn xổ tới. Từ chiều, thấy các anh đi, biết là thế nào cũng sẽ bị đòn, út đã thủ sẵn nắm
ớt bột. Con kia lớn gấp ba út. Nó vừa quơ cây lên thì nắm ớt bột đã đập vào mặt nó. Lần trước,
út không hiểu sao mình dám đánh vợ Hàm Giỏi, lần này, út đã hiểu rằng phải đánh nó để nó
không đánh được mình. Năm ấy, út mười bốn tuổi. Có uống thuốc gì đâu! Bị đòn nhiều quá mà
cứ phải ngậm ngậm ở trong lòng nên nó nảy ra cái gan như vậy.
Nhân dịp chìm ghe, nhớ chuyện cũ, ông Sáu Hò, thông tin xã, đặt tặng út mấy câu thơ:
Vợ Hàm Giỏi thây to, mặt mốc,
Vợ hội đồng Thanh vai cóc, mình lươn
Đập cho bể mặt bể sườn,
Bản mặt chườn trờn, hết đánh út chưa!
út ơi, út hỡi, bây giờ Chìm ghe, sóng cả, con thơ, giữa dòng.
Sông sâu phải chịu thua cùng...
II. Cách mạng đã đem lại cuộc sống và hạnh phúc
Một buổi sáng, các anh bộ đội thấy một em bé gái ốm tong teo, mặc quần cụt, áo cánh vải
xe lửa vá chằng, vết roi đòn còn hằn trên cổ, đến năn nỉ xin đi theo bộ đội. Các anh hỏi:
- Tại sao em xin đi!
Em nói:
- Ở đợ cực quá mà.
- Đi đánh Tây cũng cực vậy!
- Đánh Tây sướng bằng tiên chớ cực gì.
Các anh đều cười, em nói tiếp:
- Nó đánh mình, mình đánh lại nó mới sướng chớ. Em ở đợ, chủ đánh em, em phải chạy.
Em đưa cổ cho các anh coi. Các anh rất thương em nhưng hoàn cảnh lúc đó đem em theo
sao được.
Mấy ngày sau, má, chị Hai, chị Ba của út đều thôi ở đợ cho hội đồng Thanh. Một đồng bạc nợ
của nhà nó đã có các anh bộ đội trả giúp. út, cô bé hụt đi bộ đội lần đầu, theo mẹ về lập chòi,
làm mướn.
út lại leo cau, leo dừa, đồng xu một cây. Chiều về, út đem tiền cho má và báo tình hình
giặc đã nhìn thấy trong lúc leo dừa cho chú Chín - một cán bộ bộ đội.
Ba năm sau, cách mạng mở chiến dịch Cầu Kè. út đem cả tuổi mười bảy của mình lao vào
chiến dịch. út chạy thư mặt trận, phất khăn ra hiệu cho chú Chín Luông chỉ huy bộ đội đánh
trận Rạch Cách, chọi đất báo tin cho các anh biết để đánh bọn bót Bến Cát, út giết Tây bằng
khăn và bằng những cục đất của quê mình.
Một buổi sáng, út có dè đâu, chú Chín dắt một anh bộ đội mặt mũi hiền khô đến nhà nói
với má:
- Con út nó đã lớn. Tôi lựa được thằng nầy tướng tá coi cũng được, chị gả cho nó đi.
út chạy một hơi ra bờ sông, ngồi.
Anh bộ đội đó tên là Tịch, người Khơ-me. Sau đó cả tiểu đội anh Tịch đến đóng nhà út, út
rủ bạn gái tới nhảy cò, nhảy u, đánh banh, vật lộn cho anh Tịch chê, vì đàn bà con gái mà chơi
những trò đó thì quá lắm! Nhưng anh Tịch vẫn không chê.
Trong trận đánh bót Chuông Nô, thấy út tay không, anh Tịch hỏi:
- Hồi nào tới giờ cô có biết chọi lựu đạn không?
út nói không. Anh cho út một trái, rồi làm điệu bộ dạy út chọi, rất giỏi. út nghĩ: anh này
đánh giặc ngon đây!
Bót Chuông Nô bị diệt, anh Tịch vác ra một vác súng. út mừng hoa mắt, đón lấy từng cây
xếp xuống xuồng. út hỏi:
- Trước anh có ở đợ không?
- Sao không! Mới bỏ bò theo chú Chín đi bộ đội đây.
Pháo giặc bắn như giã gạo. Chiến dịch còn dài. Anh Tịch lại đi. út chở súng về. Miểng pháo
rơi quanh người lụp bụp.
Bộ đội ta hạ đồn Bắc-sa-ma, bao bót Bến Cát, đánh tàu. Tàu giặc bắn như vãi cát. Trận
này, út cùng chị Chương, cô bạn ở đợ ngày trước, bò ra dưới làn đạn giặc, lấy cây súng nồi của
anh em ta rút còn để sót lại. Cây súng tốt quá, anh Tịch và các anh bộ đội đã từng nhảy vào đồn,
đổ máu ra mới lấy được nó. Hai chị em è ạch lôi cây súng dưới sình.[7]
Chiều hôm ấy, nó được trao trả tận tay bộ đội.
Nửa chừng chiến dịch, bỗng có tin anh Tịch hy sinh. Chưa phải là vợ, cũng chưa biết yêu,
nhưng út khóc anh Tịch, thù thằng Tây lắm. út đi trinh sát, thấy tàu nó vô sông Cầu Kè, út chạy
băng băng về báo. Nó bắn moọc-chê đuổi theo. Mỗi lần nghe éo éo trên đầu, út chỉ hụp xuống
một chút, lại chạy. Thương anh Tịch quá, út không biết sợ chết là gì. Bộ đội được tin ra dàn kịp.
Trận ấy, tàu sắt giặc bị thương tháo chạy. Tây chết ục ục dưới sông. Một chiếc tàu cây[8] bị
súng "ống trúm"[9] của ta thổi thủng một lỗ bằng cái nia. út la:
- Trám đất sét, kéo nó về để dành độc lập chạy chơi!
Tưởng nói chơi, chẳng dè các anh làm thật. Chiếc tàu được kéo về, gỡ hết máy, chỉ còn cái
bộng. Đứng dưới tàu, út nghĩ hoài không biết mình đã trả thù được cho anh Tịch hay chưa!
Chiến dịch hết. Đột nhiên, anh Tịch trở về. Thì ra, ở đời, con người ta trùng tên là chuyện
thường. út trở thành cô dâu. Ngày cưới, vui hơn Tết. út ra điều kiện với chồng: hễ theo giặc là
thôi nhau luôn, còn đánh lộn chết bỏ cũng không thôi nhau! Anh Tịch gật. Bộ đội kéo đến đầy
một chùa. Má của út lên ngồi ghế danh dự. út mặc áo mới. Chú Chín, người chỉ huy cao nhất
quận Cầu Kè, ra xin thưa với má mấy lời...
Chị Hai của út nói:
- Phải tao biết đằng mình nổi dậy, tao nhín để bây giờ hãy lấy chồng.
Má khóc:
- Tao có ngờ đâu đời nó bây giờ lại được vậy...
út lên nói cảm tưởng:
- Tôi vừa được đi đánh giặc, lại vừa được chồng...
Sau đó trẻ con hát nghêu ngao lời các anh bộ đội dạy:
Ai đi chiến dịch Cầu Kè,
Về giồng Tam Ngãi, giang ghe xóm chùa,
Hỏi thăm cô út ngây thơ,
Ngày xưa cực khổ, bây giờ thì sao?...
III. Trong bước khó khăn
Cưới xong, anh Tịch đi chiến đấu. út ở nhà trồng dưa, lúc nào có công tác thì chú Chín tới
kêu đi. Hai năm sau, út mười chín tuổi. Sông bao lớn út cũng không sợ. út còn ao ước có một
cây dừa nào cao tới trời để leo lên ngọn theo dõi địch. út đi bán bánh tận nhà giam Cầu Kè, trao
kế hoạch của chú Chín cho cơ sở cứu một đồng chí huyện ủy viên bị bắt. Đồng chí đó thoát,
nhưng sau đó ít lâu, út được tin buồn: chú Chín hy sinh.
út khóc, kêu anh Tịch cùng đi trả thù. Lúc đó, huyện nhà đang gặp khó khăn. Giặc đóng bót
tràn lan. Sông Hậu Giang ngày nào cũng có xác người chết. Đêm đêm, Tây đem anh em mình ra
bắn ở cầu sắt. Người làm việc trong xã chỉ còn lơ thơ. ạng Chín Đông, chủ tịch xã, phải lánh
trong chùa. Hàng ngày, út đi bán mì nấu và nước mía ở chợ Cầu Kè, út đã bỏ súng sáu vào
thúng mì, mang vào giữa chợ, giao cho anh em giết thằng quận Hùm, trả thù cho chú Chín. Việc
bại lộ, thù chú Chín chưa trả, lại bị giặc rượt bắt ráo riết. Cuộc sống hình như bị co hẹp lại,
nhưng cái quyền đánh Tây thì vẫn còn nguyên vẹn. út tìm được một tấm hình Bác Hồ in trong
tấm bằng khen, cắt ra, giấu kỹ. Bác Hồ ở xa, út chưa gặp Bác nhưng có Bác thì cách mạng nhất
định sẽ thành công.
Bị giặc lùng bắt, út bồng đứa con mới đẻ lưu lạc lên Sa Đéc. ở đó, chị lại móc được với cơ
sở nội tuyến, đi tìm anh em mình vô phá cầu, lấy bót Cai Châu. Thấy chị lạ, anh em trên đó
không tin, chị đưa tấm hình Bác Hồ ra. Đồng chí chỉ huy nhìn út từ đầu đến chân. út nghèo thật,
quần phèn, đầu không nón. Đồng chí đó cầm tấm hình Bác Hồ lâu lắm, rồi hỏi:
- Chị nói thiệt chớ?
út gật, đôi mắt sáng long lanh. Cầu Cai Châu bị đốt, đồn giặc bị san bằng, út lại bồng con
trở về Tam Ngãi.
Tây thua to ở miền Bắc, Nam Bộ ùn ùn trỗi dậy. Du kích Tam Ngãi bung ra, giải phóng xã
nhà.
Đình chiến. Các anh bộ đội, đội nón lưới có gắn sao, kéo về đầy nhà út. Vợ chồng út tiễn
anh em đi tập kết, ra tận ngã ba Chà Bang. Có bao nhiêu tiền, chị may đồ tặng anh em hết.
út chưa lường hết được những khó khăn của người ở lại, nhưng chị nghĩ: Trước mình đã
dám đánh nó thì bây giờ chẳng có gì đáng sợ nó.
Một buổi sáng, út mang khoai đi chợ bán. Thằng ấn, một thằng phản bội dắt lính tới bắt
anh Tịch. Được tin, chị bỏ khoai, bồng con, cũng chưa vội đi thăm chồng mà tìm ngay thằng ấn,
chửi vào mặt nó:
- Mày ăn của tao còn dính kẽ răng mà đã vội quẹt mỏ dắt lính bắt chồng tao!
Bà con kéo tới. Thằng ấn cao lớn, mặt tái, đứng chết trân giữa lộ. Đôi mắt út dữ quá.
Chị lại bồng con vào dinh quận. Qua mả chú Chín, chị vái:
- Chú Chín, anh em mình đi tập kết vắng, nhưng còn chú, chú phù hộ cho vợ chồng con.
Tới trước dinh quận, chị la:
- Thằng ấn khai chồng tôi làm công an xung phong giết quận Hùm. Nhưng giết quận Hùm
hỏi có gì là sai mà mấy ông bắt?
Bà con kéo tới thật đông. Thằng quận mới đến nhậm chức, phải ra. út lại la:
- Quận Hùm là quân giết người, cả hai dãy phố chợ đều biết. Bây giờ nó còn sống nhăn ở
Sài Gòn. Sao mấy ông không bắt nó mà đi bắt chồng tôi?
Thằng quận nói như ngậm sỏi:
- Gần đây vợ chồng mày có nối với Cộng sản không?
- Vợ chồng tôi nối với cục đất, với cái gánh trên vai, Cộng sản làm sao ai biết đâu mà nối.
Chiều hôm đó, nó phải thả anh Tịch. út ngồi ngoài hè, bồng con, nhìn chồng ăn cơm, nghĩ:
Chưa hết khó đâu! Những cái gì sẽ xảy ra với vợ chồng út trong thời gian tới? út sẽ phải làm gì?
Chưa biết. út đã trải qua nhiều cực khổ. Bây giờ cực hơn nữa chị cũng không sợ. Hồi nào tới giờ
út có bao giờ được sướng? Nhưng bọn giặc mong út cúi đầu khuất phục như đời ở đợ ngày xưa
thì "xin lỗi", không được đâu! út nói với chồng:
- Còn cái lai[10] quần cũng đánh!
IV. Cách mạng ở trong lòng mình
Đang cho con bú. út bỗng nghe thấy tiếng gì như tiếng người ngáy trên nóc nhà. Trời đất
tối đen. Anh Tịch đi vắng. Đặt con xuống, chị cầm lấy cái đòn gánh. Đến gần cái giàn gác góc
nhà, tiếng ngáy rõ hơn. út chọc lên. Một con người cựa mình, rồi nhảy xuống.
- Anh Hai!
Anh Hai ra hiệu cho út im lặng. Đó là anh Hai Tấn, một cán bộ cách mạng, giặc lùng bắt cả
năm nay. út vui mừng, vừa la:
- Anh còn sống thiệt hả, anh Hai?
- Tôi còn đây.
Anh cho út biết anh đã theo anh Tịch về đây ở mấy bữa nay, nhưng còn bí mật, chưa dám
ra mắt út, út hỏi:
- Đằng mình vẫn còn phải không anh?
- Còn chớ đi đâu mà mất?
- Thiệt hả anh?
út muốn reo lên. Anh Hai phải ngăn lại. út giận anh Tịch lắm. Sáng, anh Tịch đi đặt câu về,
chị nói, muốn khóc:
- Tôi đánh lại địa chủ, bị nó lột trần truồng, chạy về gặp anh, giờ anh coi tôi thiếu hiểu hơn
anh hả?
Anh Tịch phải năn nỉ mãi. Cũng bởi út hay nói lô la thẳng ruột ngựa, nên anh ấy sợ. út biết
vậy.
Anh Tịch dừng lại buồng thật kín. Ngày ngày út đi chợ, nấu cơm bưng tới tận chỗ cho anh
Hai ăn. Bọn lính tới nhà rà rê, út mua rượu, gà xách sang nhà bên cạnh, dụ nó sang bên đó. Giặc
bố liên miên. Ruộng đất cách mạng cho, nó cướp lại hết. Vào nhà ai, chúng muốn đào đâu, cạy
đâu cũng phải chịu. Đêm đêm, chúng tự do bao xóm, bắt người, tra tấn. Chúng thảy[11] vào
nhà út tấm bảng sơn "Nhà tôi không chứa Việt cộng", bắt mua treo trong nhà. Anh Hai vẫn ở
đó. Đêm đêm, anh cùng anh Tịch đi công tác. út ở nhà nằm võng, đưa con, nghe ngóng, chờ cửa
với một nỗi mừng vô hạn, vì cách mạng của mình vẫn tiếp tục, hai vợ chồng út vẫn được làm
việc. Cái công việc mà nếu phải ngưng lại một lúc nào đó thì cả hai vợ chồng sẽ cảm thấy lẻ loi,
trơ trọi, buồn khổ biết chừng nào.
ít lâu sau, anh Hai đổi chỗ ở. Lâu lắm út không được tin gì về anh. Một buổi chiều, đang
lục cơm nguội cho con, út bỗng thấy bọn lính lôi anh Hai đi ngang. út sững sờ, cái muỗng trong
tay rơi xuống đất. Anh Hai bị nó trói chéo cánh, ngực bầm đen. Anh không nhìn út, nhưng lại
mỉm cười như chào. Nước mắt út trào ra. Anh Tịch đi vắng. Mình phải làm gì đây? Chị suy nghĩ
mà chết đứng trong ruột.
Tới đầu xóm, bọn lính kéo vào một nhà dân, nhậu. Chúng cười giỡn ầm ĩ. Ngoài đường chỉ
có anh Hai Tấn bị trói ngồi đó và một đám lính gác dở say. Bỏ con nằm nhà, út mò đến. Gần tới
nơi, út bỗng nghe thấy tiếng giặc hô hoán và bắn ầm ĩ. Anh Hai chạy được rồi! út mừng, trống
ngực đập tưng tưng. Giặc bắt cả xóm ra đốt đuốc, nổi trống mõ, bao giáp vòng, vạch từng kẽ lá
đi tìm. út nghĩ anh Hai chạy ra chỗ đó chứ không đâu cả. Chỗ đó, trước đây, út biết rồi.
Chạy một hơi lên xóm Đậu, vòng xuống Rạch Bờ, út mượn xuồng đâm sang ngang. Chị vừa
bơi vừa vái "ông Bổn" cho chị cứu được anh Hai, chị sẽ ăn chay mười ngày. Đằng kia, bọn lính
vẫn ra sức tìm kiếm, bắn đùng đùng.
Cặp xuồng vào bờ, út mò mẫm vạch tìm từ bụi cây này tới bụi khác. Trời tối đen. ạ rô, cóc
kèn cào trên mặt. út ghé sát mặt xuống đất vừa trườn vừa gọi:
- Anh Hai! Anh Hai! Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Không thấy tiếng trả lời. út trườn vào trong:
- Vợ thằng Tịch đây! Anh Hai! Anh ở đâu?
Tiếng gọi nhẹ như hơi thở, nhưng lại mang theo một sức sống tha thiết, mãnh liệt dâng lên
trên bờ sông lạnh lẽo, khuya khoắt. Súng giặc nổ càng gần, út lại gọi, giọng nghẹn lại:
- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:
- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...
Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một mảnh vải. út lột khăn đưa
cho anh choàng. Thương anh quá, út đứng chết trân.
út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ. Nhiều việc đang chờ anh dưới
đó. Lúc tạm biệt anh dặn út một câu:
- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.
Cũng là câu anh dặn cả bà con Tam Ngãi. Hửng sáng về đến vàm, út vẫn còn nghiệm câu
nói đó. Câu nói như có phép làm cho anh Hai đã đi xa mà vẫn thấy như gần.
V. Đã lớn khôn hơn
út sanh đứa con thứ hai. Như mọi người đàn bà Tam Ngãi khác, chị nuôi con, thương
chồng, làm rẫy mướn, hàng ngày phải xấn xả chống lại những cái gì đe dọa, chết chóc do giặc
phủ lên xóm mình nhà mình. Trong tiếng ru con, trong những lúc nhìn ra sông, người đàn bà
nghèo nào cũng đều có ý mong mỏi, chờ đợi, không nói với ai, nhưng lại như nói với tất cả, là
thời thế này nhất định phải thay đổi, phải khác đi. Rồi tự nhiên, người ta bắt nhớ đến hồi chín
năm. Lòng người lại sôi lên, có một sự khuấy động nào đó mà những người đàn bà thùy mị
nhất, ít nói nhất cũng không thể ngồi yên được.
út treo thang thuốc ở đầu giường, nói với chồng:
- Bữa nay chúng nó bắt anh đi làm khu trù mật, anh cứ vận vào thang thuốc này mà làm
tới cho tôi.
Thằng đại diện tới. út nhai cơm phun cùng nhà. Hai đứa nhỏ bị mẹ ngắt, khóc om sòm.
Anh Tịch vin vào cảnh vợ bệnh, con thơ, không đi. Cả xóm đều làm theo út, không ai đi.
Thằng đại diện bắt cả xóm phải hầm[12] gạch, chở đi khu. Hầm xong, út nói với nó:
- Cầu xóm mới bắc, chưa có mang cá. Ba cái gạch nầy chở đi khu thì hai cái mang cá nầy
để cho ai? Sẵn gạch đây ta trám vào, cầu bắc xong, ông có việc quan ông đi một hơi từ Bà Mi về
Cây Sanh cho nó khỏe, khỏi xuống xe.
Thằng đại diện ra ngắm nghía một hồi, rồi gật. Đàn ông khỏi phải chở gạch đi khu, bà con
trong xóm được lợi cây cầu.
Từng chút một, út giữ chặt lòng mình với cách mạng như vậy. Năm đó, 1959, Tam Ngãi
nghèo lắm, đất đai chui dần vào tay những bọn như Hàm Giỏi. Giặc rêu rao chúng đã bắt được
người này, giết được người kia. Tam Ngãi đói. Khoai tháng bảy cũng không đủ ăn. Nhà không
còn hột gạo. út bồng con theo chồng xuống Kế Sách làm mắm.
Một hôm anh Tám Táo, người mới vượt ngục ra, công tác ở Kế Sách đến nhà út chơi, than:
- Mình binh vận được sáu thùng đạn, nó đã mang ra ngoài rào bót rồi mà không sao vô lấy
được.
út vừa cho con ăn, vừa nói:
- Tôi lấy cho!
Chị mượn lưỡi hái, bơi xuồng đến bót, kêu:
- Ông xếp ơi, cho tôi cắt cỏ nghe!
Cắt cỏ thì sạch bót, nó cho ngay. út men theo rào. Mấy thằng lính ghẹo: "On Sro-lanh
boòng-tê? "[13] rồi cười rộ lên. út trả lời: "Tê"[14] nhưng mắt út vẫn không rời hàng rào.
Vào tới đây, út mới thấy gay go. Lấy đạn ra, bị lộ, nó cũng bắn. Gặp bọn lính phản vận, mình vô
lấy, nó cũng bắn. Nhưng phải lấy. Đằng mình sắp nổi dậy. Một thùng đạn lấy được lúc này là cả
tỉnh được nhờ. Ngồi cắt cỏ từ sáng tới trưa, chịu cho bọn lính chọc ghẹo, út mới tìm ra dấu vết.
Lần lượt, cả sáu thùng đạn được út ôm lẫn với cỏ, xếp xuống xuồng, chở về.
Từ giã Kế Sách, út cùng chồng trở về Tam Ngãi với một xuồng lỉnh kỉnh gạo, mắm, đồ làm
cá và tất cả những gì thu vén được của một người đàn bà tần tảo. Thêm vào đó, một đứa con
mới ra đời. Nhưng trên hết vẫn là chút việc cách mạng mà út vừa làm được trong lúc đi làm ăn
xa. Giờ đây, trên đường về, sự sung sướng đó càng trở nên náo nức hơn vì út được tin quê nhà
đã bắt đầu đồng khởi.
Về tới nhà, anh Tịch nhào đi du kích. út lại đi trinh sát, lại leo lên ngọn dừa, giống như hồi
xưa. Chỉ khác là bây giờ nhìn được xa hơn, chắc hơn. Trận Bạch Chiếc, út ra dấu cho các anh
diệt cái ghe thằng cảnh sát, giết năm thằng, lấy súng. Rồi trận Vườn Dơi. (Đó là cái vườn đầy
dơi quạ của nhà tổng Lâm). Sáng hôm ấy, út đi chợ, bỗng thấy giặc từ ba mặt đổ vô, đếm được
ba trăm thằng. út chạy vô nhà dân, mượn xe đạp phóng về. Chỉ kịp vứt cái xe ở cửa chùa, út chỉ
hướng giặc sẽ đi và đề nghị anh em mình đón đánh. Trận đó, mình đánh từ sáng tới chiều. Mỗi
lần cái cù ngoéo của thằng chỉ huy giặc huơ lên, út lại thấy bọn lính bò lên như vịt xiêm. Đến lúc
bị mình bắn chết, nó cũng giãy lên như vịt xiêm bị cắt cổ vậy. Mấy lúc út nhảy lên, mấy lần các
anh nắm giò lôi lại. Có một anh bị thương buông cây trung liên, út chạy lên, chụp lấy súng.
Đánh xong, út quay trở lại thăm dò. Tất cả có chín chục thằng vừa chết vừa bị thương
nằm ngoài đồng. Lần đầu tiên, út thấy giặc chết nhiều như vậy. Đáng kiếp những ngày nó muốn
bắn ai thì bắn, bỏ tù ai thì bỏ. út nhận xét rằng đằng mình đã nổi dậy tựa như hồi đánh Tây,
nhưng bây giờ mình khôn hơn, bản thân út cũng đã trở thành người mẹ ba con rồi còn gì!
VI. "Nghe đây! Loa báo đầu giồng: đàn bà đoạt bót, tay không
mới tài!"
Đó là hai câu thơ ông Sáu Hò đặt cho tổ gọi loa của ấp để mở đầu một bản tin. Nguyên do
như thế này:
ạng Chín Đà, cán bộ Mặt trận, nói với út:
- Thím có lời lẽ, đi phụ với bà con đấu tranh.
Mười lần đi, mười lần út bị đánh. Một lần, thằng quận hỏi:
- Con nào đầu đảng?
Thằng lính đằng sau trả lời thằng quận bằng cách thúc mũi súng vào lưng út. Lần khác,
thằng quận hỏi:
- Chồng mày đâu?
út trả lời:
- Đi lính trên Sa Đéc.
- Sao không đi theo chồng làm vợ lính chân giày chân dép?
- Vợ cũng không bằng mẹ. Mẹ của lính cũng bị quan bắt ngồi phơi nắng ngoài kia.
út chỉ cho thằng lính Độ thấy bà mẹ nó đang ngồi ngoài sân.
Thằng quận đánh út một trận bằng roi mây. Lúc đó, chị đang có thai đứa con thứ tư. Về, út
nói với ông Chín Đà:
- Tôi bị đòn từ tám tuổi. Tôi không sợ đòn. Nếu không nhớ đường lối, chắc tôi đánh nó rồi.
ạng Chín chuyển sang giao cho út thăm dò bót Tám Thế. Bót Tám Thế đóng ở giữa giáp
ranh hai xã Tam Ngãi, An Phú Tân, khống chế cả hai bên, hỗ trợ cho bọn địa chủ Cầu Kè lấy
thuế, thu tô.
Chiều chiều út rủ Phượng, Œn, hai cô gái đẹp nhất xóm ra rà rê trong đám dưa cạnh bót.
Cũng tính thả giỡn sóng[15] với nó, nếu được thì giật súng.
Bọn lính thằng nào cũng giống thằng nào, thấy gái là kéo ra. út về báo với ông Chín:
- Đám nầy "háo chua" lắm, bót nầy lấy được.
út về nói với chồng:
- Tôi nhứt định lấy cái bót này, nhưng lỡ phải đem thân ra cho nó giỡn hớt, giày vò, anh
chịu không?
Anh Tịch nói:
- Em làm sao được cứ làm.
Anh chân tình như vậy. út thấy thương chồng vô cùng. Mình hy sinh thân mình được rồi,
nhưng anh ấy là chồng... Làm sao xẻ được nỗi đau lòng ấy của anh để út xin gánh chịu một
mình. út nhớ đến chú Chín Luông, thầm cám ơn chú đã kiếm cho mình một người chồng thật
tốt.
Đêm ấy, út hỏi chồng lần nữa. Anh nhìn út, cười. Nụ cười hiền hậu và ánh mắt đầy tình
thương như mỗi lần anh trở về sau một trận đánh. út yên tâm đi công tác. Chiều nào chị cũng
rủ Phượng, Œn ra đám dưa, bỏ giùm hột. Cô Phượng, gốc người Khơ-me, trắng trẻo, cô gái
không mở
miệng thì thôi, mở miệng là cười. Cô Œn có duyên ngầm, nói chuyện rất khéo. Cả hai cô đều
gan, không biết sợ là gì. út phụ trách Tám Thế, lớn tuổi, xếp bót. Hai cô gái phụ trách hai thằng
lính. Chiều về, ba người lại báo cáo với ông Chín. ạng Chín gom ý lại, ngồi suy tính, rồi hướng
dẫn ngày mai nên nói gì.
Cả mười hai thằng giặc đều hám hơi út và hai cô gái. Dưa bỏ hột xong, hết cớ để ra, ba
người xoay ra cắt cỏ quanh đám dưa. Cắt xong, mang xuống sông để bỏ, nhà có bò đâu mà cho
ăn. Lúc cả ba người sắp ngả theo mình thì dưa lên cao. Chủ đám dưa không cho ba người vào,
họ nói dưa gặp hơi đàn bà, thúi gốc. út nói với Tám Thế:
- Chừng nào tiện, mấy anh bắn ba phát súng báo hiệu kêu mấy em vô bót chơi nghe.
Tám Thế làm thật. Ngày nào cũng đuổi vợ đi chợ. Ba người vào được bót.
Công việc đang chạy, đùng một cái, má cô Phượng không cho đi. Bà không thích út đến rủ
con bà đi làm những điều "kỳ cục". út đến năn nỉ:
- Nhà tôi bốn đời thù giặc, thím không tin tôi sao?
út phải chạy đi viện cả ông Chín Đà tới nói.
Cuộc tấn công lại tiếp tục.
Nhưng Tám Thế vẫn không chịu giao bót cho ta. út nghĩ: "Tao đã nói lấy bót là lấy, đâu có
chịu thua mày!" út cùng với hai cô về bàn với ông Chín, tổ chức một bữa nhậu ở một nhà cạnh
bót.
Tám Thế có tật nhậu vô nửa ly là Long Xuyên y nói ra Châu Đốc. Tiệc nửa chừng, út nói:
- Anh Tám à, người ta nói làm lớn láu ăn, đúng à. Sao anh không kêu anh em ra nhậu?
Y kêu hết bọn lính ra, chỉ chừa một thằng gác kho súng ở chuồng cu. Ba anh du kích cải
trang đi ngang. út giả đò kêu vô luôn. Bọn lính bắt đầu say. Đã đến lúc phải đánh rồi mà ruột út
rối như tơ, không biết làm sao kêu được thằng gác chuồng cu xuống. Để cho Phượng, Œn kềm
chúng, út lẻn lại bót, kêu:
- Anh gác à, lấy thêm rượu cho ông sếp.
Nó không chịu xuống. út lại nói:
- Anh không xuống thì chỉ chỗ tôi lấy cho.
- Chị không lấy được.
- Sao không? Bót này, trên Tám Thế, dưới tôi, chớ còn ai nữa.
út nghĩ: "Tao có hy sinh thì bốn con tao nhân dân nuôi chớ không lo gì!" Thằng gác bị
chọc giận, xuống. út giả lả, vừa cười vừa tuột cây súng trên vai nó:
- Anh đưa tôi gác cho, vô lấy rượu đi...
Thằng lính giữ lại. út giả đò lôi ra, rồi bất thần giằng mạnh một cái, cây súng gọn trong
tay.
- Đầu hàng thì sống! Giơ tay lên.
Thằng lính ngơ ngác, mặt tái xám:
- Thiệt sao chị út?
- Không giơ tay tao bắn!
Thằng lính giơ vội tay lên như bị phỏng. út bắt nó đứng ra một góc rào để cho nó không
rượt được mình rồi thót lên chuồng cu, ra hiệu cho anh em mình phục bên ngoài vô lấy bót.
Bọn lính tay không, nhậu ở đằng kia, ta chỉ việc bao lại, chong súng vào bụng trói dắt về. Bót
Tám Thế bị diệt gọn không nổ một phát súng. Dọc đường về, ba tên lính nhìn ba "người yêu"
của mình, mặt mũi như chó ăn vụng bột.
Tám Thế có hai đời vợ. Vợ lớn của y đã bỏ đi lấy lão từ đốt đèn cầy cho bàn thờ "chúa" ở bót
nhà thờ Bà Mi. Vợ sau này mới lấy, y để sống chung trong bót. Mụ này đã mấy lần ghen đến tắc
cổ với út. Đánh xong, út kêu cả hai vợ chồng lại nói:
- Tôi vì dân giết giặc đã xong, nhiệm vụ tôi làm tròn, giờ chồng chị tôi trả chị.
Vợ Tám Thế đỏ mặt, líu ríu:
- Dạ, em biết rồi...
út nói vậy để cho mụ yên tâm thôi chớ mụ hiểu sao nổi câu "vì dân giết giặc".
VII. Có ai đánh giặc mà chờ sanh xong mới đánh?
Con Bé, con gái lớn của út, đã tám tuổi. Nó ốm nhách, mà nhanh, cha mẹ đi công tác, ba
em ở nhà nó bao[16] hết. Nó chạy đầu này ru đứa nhỏ ngủ, chạy đầu kia lôi đứa lớn đi tắm.
Nhà hết gạo, nó dắt em sang ăn cơm bên hàng xóm. Những việc gì nó không làm nổi: sửa lại
mái nhà dột, hoặc bện lại cặp dây võng, người mẹ về làm cho nó. Mỗi buổi mẹ về, nó lại biết
thêm vài việc.
út có một đàn con như vậy. Bây giờ chị lại đang có thai.
Mỗi lần cầm lấy súng, lòng út lại chộn rộn như người làm không hết việc. Bót Tám Thế
vừa bị diệt, giặc lại quay sang đóng bót mới ở ấp Ba. Mặt mũi chúng chườn ườn ra đó, không
đánh chúng không yên. Chính vì vậy nên út về nhà một lát, lại muốn đi. Ru con được vài câu, chị
lại trao nó cho con Bé. Chiều hôm trước, nhân dân cho út hay bọn lính bót ấp Ba mới lãnh
lương, tám thằng đi chơi chợ Cầu Kè, chiều nay nó sẽ về. út báo cáo với ông Chín. ạng Chín lựa
mấy anh du kích thiệt ngon, cùng út ra đón đánh. Sau khi đạp xe đi rảo nắm tình hình, út quay
về dặn anh em:
- Đánh xong bọn này khoan rút. Chờ bọn hiến binh xuống tiếp viện, đánh nữa. Nó còn năm
thằng để tiếp viện thôi.
Nổ súng, út cũng ngồi đó, mặc dù tay không. Thấy tám thằng giặc còn bắn hoài, út nóng
lắm. Chợt anh bắn trung liên tự tạo bị thương tay. út vụt lên chụp súng. Súng đụng hàm sanh
làm út muốn đứt lưỡi. út hô lớn:
- Hỏa lực xiên hông đâu, tạt lên!
út bắn một phát, một thằng chết nhảy dựng, út lại la:
- Nó "lâm thôn"[17] rồi! Đánh tới, anh em ơi!
Tất cả đều la rần rần. Bọn giặc đâm hoảng. Chúng tạt xuống mé vườn. Anh em nằm đó lại
nã vào hông chúng, gục thêm ba thằng nữa. Còn một thằng toan chọi lựu đạn. út nhảy lên thọc
cây trung liên tự do vào ngực nó. Nó giơ tay. Thực ra cây súng của út bị kẹt từ nãy rồi.
Thu súng xong, út vừa giở trầu ra ăn, thì anh em nghe lầm lệnh ai, rút mất. Một lát, năm
thằng hiến binh xuống lấy xác. út tay không, ngồi trong bụi, dòm ra, tức muốn nổ...
Nguyễn Thi
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Tóm tắt tiểu sử Nhà văn Nguyễn Thi
Nhà văn Nguyễn Thi
Ạng còn có bút danh khác: Nguyễn Ngọc Tấn. Tên thật Nguyễn Hoàng Ca. Sinh ngày 15-5-1928,
hy sinh ngày 9-5-1968 tại đường Minh Phụng (nay là đường Nguyễn Thi - thành phố Hồ Chí
Minh) trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân. Quê gốc xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, Nam Hà
nhưng từ tuổi thiếu niên đã phải phiêu bạt vào Sài Gòn kiếm sống. Kháng chiến chống Pháp
bùng nổ, đầu quân làm công tác tuyên huấn và quản lý văn công ở quân khu miền Đông. Tập
kết ra Bắc là đội trưởng đội văn công sư đoàn 330, sau chuyển về tham gia ban biên tập đầu
tiên của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Từ 1962 trở lại chiến trường miền Nam, phụ trách tờ Văn
nghệ quân giải phóng cho đến khi hy sinh.
Là người viết văn xuôi, đồng thời Nguyễn Thi còn là người làm thơ, vẽ tranh, trình bày
báo, soạn nhạc. Ạng được Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (1965) với tập truyện Người mẹ
cầm súng. Hội viên hội nhà văn Việt Nam lớp đầu tiên.
Đã xuất bản: Trăng sáng (truyện ngắn, 1960), Đôi bạn (truyện ngắn, 1962), Người mẹ
cầm súng (truyện ký, 1965), Truyện và ký (1969), Năm tháng
*
* *
Truyện ký - Người Mẹ Cầm Súng
I. Căm thù và nghị lực
Tại xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có một người đàn bà đã sáu con tên là
Nguyễn Thị út. Dáng người nhỏ gọn, chị có khuôn mặt tròn và đôi mắt to, sáng. Cô bác lớn tuổi
quen gọi chị là con út Trầu, vì chị hay ăn trầu. Lại có người đặt danh chị là "Bà Hồng" vì chị
đánh giặc rất giỏi. Xóm giềng theo tục địa phương, ghép luôn tên chị với tên chồng, cứ kêu là út
Tịch. Mới đây bà con lại bàn tán một chuyện mới xảy ra về chị.
Một đêm tối trời tháng giáp Tết vừa qua, dân làng đáy ở ngoài cồn Bần Chát bỗng nghe
tiếng đàn bà kêu cứu. Vào mùa nước rong, sông chảy xiết, sóng to, có lượn lớn bằng con trâu,
dân nghèo đi làm ăn bị chìm ghe, đồ đạc trôi láng sông. Người ta chạy ghe máy ra giữa dòng,
vớt lên được một người đàn bà chỉ có đôi mắt to là còn tỉnh táo. Trên vai chị, một đứa bé tuổi
còn bú, cứng đờ, thở thoi thóp. Cùng với chị còn có ba đứa nhỏ gái run rẩy, da tím ngắt.
Đó là chị út Trầu. Hỏi ra mới biết hôm đó nghe tin giặc bố ngoài bờ sông, chị mướn xuồng
chở ít dưa sang Cầu Lộ bán, tiện dịp thăm dò tình hình giặc ngoài đó ra sao. Giặc chặn đường
ban ngày, chị phải đi đêm. Ra tới giữa sông, sóng lưỡi búa đã bốc nước làm chìm xuồng chị.
Sông Hậu Giang mênh mông, bề ngang bốn ki-lô-mét, chèo thẳng tay cũng mất ba tiếng. Mấy
mẹ con ngụp lặn giữa trời nước tối đen. Chị út vai vác đứa con mới đẻ, lội đứng, miệng hò hét
điều khiển ba đứa con gái, đứa nhỏ nhất mới lên tám tuổi, bám theo mép xuồng còn chìm lờ
đờ, thả trôi. Xuồng muốn chìm luôn xuống đáy sông, chị cố nâng lên. Mọi việc đều phải tỉnh
táo, chính xác. Nếu không khéo, đứa nhỏ trên vai sẽ chết. Quá tay một chút, cái xuồng cũng có
thể chìm luôn. Cứ như vậy, hai tiếng đồng hồ, sóng lớn, sóng cả đã thua chị.
Lên bờ, thoa bụng con, chị thử sức con bằng cách thọc lét[1] cho nó cười.
Mấy mẹ trong xóm nói:
- Đàn bà như tao thì sình lên rồi[2]. Nó vậy mà mẹ con còn y.
Mấy mẹ Khơ-me nói:
- Con đó chuyện gì nó cũng làm như đụng giặc vậy.
Bà Sáu Hò kêu lên:
- Nó uống toa thuốc gì mà gan trời vậy chớ!
- Có uống thuốc gì đâu. Hồi nhỏ cực quá nên bây giờ gan thôi. Mười hai tuổi từng đánh vợ
Hàm Giỏi mà.
Cô bác hay nhập chuyện đời xưa vào chuyện đời nay của chị như vậy.
Ngày đó, út mặc quần bố tời[3]. Rận ôi là rận! Lấy chai lăn, nó kêu như muối rang. út ở
giữ con cho vợ Hàm Giỏi, vừa phải leo cau, vừa leo dừa. Hai bên hông út sần sượng, nổi cục.
Leo cau tối ngày, đói, đến lúc đút cơm cho con nó ăn, út rất thèm. Thịt nạc nó kho nước dừa
béo vàng. Những miếng thịt lưng cá trê nó lòe ra trắng như bông. út ăn đại một miếng, ngọt
quá, út làm luôn cả chén, rồi chén nữa. Chiều thấy con đói, vợi Hàm Giỏi kêu út lại chửi: - Bộ
ông nội bay hồi đó chết đói thụt lưỡi hả?
Rồi mụ đánh út, quyết cho lòi thịt, lòi cá ra. Nhưng thịt cá vào bụng út rồi, ra sao được?
Mụ quất út một roi, làm út nằm giãy như sâu bị bắn. Lúc ngồi dậy, sẵn tay, út liệng luôn cái
chén vào mặt mụ. út không hiểu sao lúc đó mình dám làm như vậy. Vợ Hàm Giỏi cao, mập.
Ngay thằng chồng đứng cạnh mụ cũng chỉ như "lóc nói[4] mà ôm cột dừa". Uy thế của mụ
cũng ghê gớm như cái thây mụ. Mỗi lần ngồi ghe đi góp lúa[5], mụ ngả người ra sau, chỏi chân
ra trước, hai bên ghe chạm hai con khỉ bằng cây ngồi chầu.
Cái chén đập lại của út làm mụ Hàm Giỏi tím mặt. Mụ nắm tóc út, mớ tóc non có chút tị.
út với con dao cau lia vào tay mụ. Mụ vốn sợ dao, buông ngay. út phóng ra ngoài.
Bắt đầu ở đợ, út là một con bé tám tuổi, cởi truồng, ốm nhách. Đến lúc đánh lại địa chủ, út
mới mười hai tuổi, vẫn ốm nhách, nhưng lại thêm có một mối thù trong người.
Trốn nhà này đi, út lại phải đi ở đợ. Một nhúm tuổi, biết làm đâu, ăn đâu bây giờ. Con gái
hội đồng Thanh mướn út để leo dừa, leo cau và đổ đờm ho lao. Cho đến ngày cách mạng, rồi
kháng chiến. Một buổi Tây vào bố[6], các anh đàng mình rút, bỏ quên cái máy chữ. út mến các
anh nên rất thương cái máy. Em lấy dây buộc, lôi nó lên ngọn dừa, giấu kỹ. Chiều, các anh về,
cách mạng còn cái máy, nhưng đồ đạc và hộp vàng của con gái mụ địa chủ bị Tây lấy sạch. Chờ
các anh đi, nó kêu út lại chửi:
- Bây giấu đồ cho người ta còn đồ nhà bây bỏ. Quân bây ăn xong rồi quẹt mỏ như gà.
Nó xấn xổ tới. Từ chiều, thấy các anh đi, biết là thế nào cũng sẽ bị đòn, út đã thủ sẵn nắm
ớt bột. Con kia lớn gấp ba út. Nó vừa quơ cây lên thì nắm ớt bột đã đập vào mặt nó. Lần trước,
út không hiểu sao mình dám đánh vợ Hàm Giỏi, lần này, út đã hiểu rằng phải đánh nó để nó
không đánh được mình. Năm ấy, út mười bốn tuổi. Có uống thuốc gì đâu! Bị đòn nhiều quá mà
cứ phải ngậm ngậm ở trong lòng nên nó nảy ra cái gan như vậy.
Nhân dịp chìm ghe, nhớ chuyện cũ, ông Sáu Hò, thông tin xã, đặt tặng út mấy câu thơ:
Vợ Hàm Giỏi thây to, mặt mốc,
Vợ hội đồng Thanh vai cóc, mình lươn
Đập cho bể mặt bể sườn,
Bản mặt chườn trờn, hết đánh út chưa!
út ơi, út hỡi, bây giờ Chìm ghe, sóng cả, con thơ, giữa dòng.
Sông sâu phải chịu thua cùng...
II. Cách mạng đã đem lại cuộc sống và hạnh phúc
Một buổi sáng, các anh bộ đội thấy một em bé gái ốm tong teo, mặc quần cụt, áo cánh vải
xe lửa vá chằng, vết roi đòn còn hằn trên cổ, đến năn nỉ xin đi theo bộ đội. Các anh hỏi:
- Tại sao em xin đi!
Em nói:
- Ở đợ cực quá mà.
- Đi đánh Tây cũng cực vậy!
- Đánh Tây sướng bằng tiên chớ cực gì.
Các anh đều cười, em nói tiếp:
- Nó đánh mình, mình đánh lại nó mới sướng chớ. Em ở đợ, chủ đánh em, em phải chạy.
Em đưa cổ cho các anh coi. Các anh rất thương em nhưng hoàn cảnh lúc đó đem em theo
sao được.
Mấy ngày sau, má, chị Hai, chị Ba của út đều thôi ở đợ cho hội đồng Thanh. Một đồng bạc nợ
của nhà nó đã có các anh bộ đội trả giúp. út, cô bé hụt đi bộ đội lần đầu, theo mẹ về lập chòi,
làm mướn.
út lại leo cau, leo dừa, đồng xu một cây. Chiều về, út đem tiền cho má và báo tình hình
giặc đã nhìn thấy trong lúc leo dừa cho chú Chín - một cán bộ bộ đội.
Ba năm sau, cách mạng mở chiến dịch Cầu Kè. út đem cả tuổi mười bảy của mình lao vào
chiến dịch. út chạy thư mặt trận, phất khăn ra hiệu cho chú Chín Luông chỉ huy bộ đội đánh
trận Rạch Cách, chọi đất báo tin cho các anh biết để đánh bọn bót Bến Cát, út giết Tây bằng
khăn và bằng những cục đất của quê mình.
Một buổi sáng, út có dè đâu, chú Chín dắt một anh bộ đội mặt mũi hiền khô đến nhà nói
với má:
- Con út nó đã lớn. Tôi lựa được thằng nầy tướng tá coi cũng được, chị gả cho nó đi.
út chạy một hơi ra bờ sông, ngồi.
Anh bộ đội đó tên là Tịch, người Khơ-me. Sau đó cả tiểu đội anh Tịch đến đóng nhà út, út
rủ bạn gái tới nhảy cò, nhảy u, đánh banh, vật lộn cho anh Tịch chê, vì đàn bà con gái mà chơi
những trò đó thì quá lắm! Nhưng anh Tịch vẫn không chê.
Trong trận đánh bót Chuông Nô, thấy út tay không, anh Tịch hỏi:
- Hồi nào tới giờ cô có biết chọi lựu đạn không?
út nói không. Anh cho út một trái, rồi làm điệu bộ dạy út chọi, rất giỏi. út nghĩ: anh này
đánh giặc ngon đây!
Bót Chuông Nô bị diệt, anh Tịch vác ra một vác súng. út mừng hoa mắt, đón lấy từng cây
xếp xuống xuồng. út hỏi:
- Trước anh có ở đợ không?
- Sao không! Mới bỏ bò theo chú Chín đi bộ đội đây.
Pháo giặc bắn như giã gạo. Chiến dịch còn dài. Anh Tịch lại đi. út chở súng về. Miểng pháo
rơi quanh người lụp bụp.
Bộ đội ta hạ đồn Bắc-sa-ma, bao bót Bến Cát, đánh tàu. Tàu giặc bắn như vãi cát. Trận
này, út cùng chị Chương, cô bạn ở đợ ngày trước, bò ra dưới làn đạn giặc, lấy cây súng nồi của
anh em ta rút còn để sót lại. Cây súng tốt quá, anh Tịch và các anh bộ đội đã từng nhảy vào đồn,
đổ máu ra mới lấy được nó. Hai chị em è ạch lôi cây súng dưới sình.[7]
Chiều hôm ấy, nó được trao trả tận tay bộ đội.
Nửa chừng chiến dịch, bỗng có tin anh Tịch hy sinh. Chưa phải là vợ, cũng chưa biết yêu,
nhưng út khóc anh Tịch, thù thằng Tây lắm. út đi trinh sát, thấy tàu nó vô sông Cầu Kè, út chạy
băng băng về báo. Nó bắn moọc-chê đuổi theo. Mỗi lần nghe éo éo trên đầu, út chỉ hụp xuống
một chút, lại chạy. Thương anh Tịch quá, út không biết sợ chết là gì. Bộ đội được tin ra dàn kịp.
Trận ấy, tàu sắt giặc bị thương tháo chạy. Tây chết ục ục dưới sông. Một chiếc tàu cây[8] bị
súng "ống trúm"[9] của ta thổi thủng một lỗ bằng cái nia. út la:
- Trám đất sét, kéo nó về để dành độc lập chạy chơi!
Tưởng nói chơi, chẳng dè các anh làm thật. Chiếc tàu được kéo về, gỡ hết máy, chỉ còn cái
bộng. Đứng dưới tàu, út nghĩ hoài không biết mình đã trả thù được cho anh Tịch hay chưa!
Chiến dịch hết. Đột nhiên, anh Tịch trở về. Thì ra, ở đời, con người ta trùng tên là chuyện
thường. út trở thành cô dâu. Ngày cưới, vui hơn Tết. út ra điều kiện với chồng: hễ theo giặc là
thôi nhau luôn, còn đánh lộn chết bỏ cũng không thôi nhau! Anh Tịch gật. Bộ đội kéo đến đầy
một chùa. Má của út lên ngồi ghế danh dự. út mặc áo mới. Chú Chín, người chỉ huy cao nhất
quận Cầu Kè, ra xin thưa với má mấy lời...
Chị Hai của út nói:
- Phải tao biết đằng mình nổi dậy, tao nhín để bây giờ hãy lấy chồng.
Má khóc:
- Tao có ngờ đâu đời nó bây giờ lại được vậy...
út lên nói cảm tưởng:
- Tôi vừa được đi đánh giặc, lại vừa được chồng...
Sau đó trẻ con hát nghêu ngao lời các anh bộ đội dạy:
Ai đi chiến dịch Cầu Kè,
Về giồng Tam Ngãi, giang ghe xóm chùa,
Hỏi thăm cô út ngây thơ,
Ngày xưa cực khổ, bây giờ thì sao?...
III. Trong bước khó khăn
Cưới xong, anh Tịch đi chiến đấu. út ở nhà trồng dưa, lúc nào có công tác thì chú Chín tới
kêu đi. Hai năm sau, út mười chín tuổi. Sông bao lớn út cũng không sợ. út còn ao ước có một
cây dừa nào cao tới trời để leo lên ngọn theo dõi địch. út đi bán bánh tận nhà giam Cầu Kè, trao
kế hoạch của chú Chín cho cơ sở cứu một đồng chí huyện ủy viên bị bắt. Đồng chí đó thoát,
nhưng sau đó ít lâu, út được tin buồn: chú Chín hy sinh.
út khóc, kêu anh Tịch cùng đi trả thù. Lúc đó, huyện nhà đang gặp khó khăn. Giặc đóng bót
tràn lan. Sông Hậu Giang ngày nào cũng có xác người chết. Đêm đêm, Tây đem anh em mình ra
bắn ở cầu sắt. Người làm việc trong xã chỉ còn lơ thơ. ạng Chín Đông, chủ tịch xã, phải lánh
trong chùa. Hàng ngày, út đi bán mì nấu và nước mía ở chợ Cầu Kè, út đã bỏ súng sáu vào
thúng mì, mang vào giữa chợ, giao cho anh em giết thằng quận Hùm, trả thù cho chú Chín. Việc
bại lộ, thù chú Chín chưa trả, lại bị giặc rượt bắt ráo riết. Cuộc sống hình như bị co hẹp lại,
nhưng cái quyền đánh Tây thì vẫn còn nguyên vẹn. út tìm được một tấm hình Bác Hồ in trong
tấm bằng khen, cắt ra, giấu kỹ. Bác Hồ ở xa, út chưa gặp Bác nhưng có Bác thì cách mạng nhất
định sẽ thành công.
Bị giặc lùng bắt, út bồng đứa con mới đẻ lưu lạc lên Sa Đéc. ở đó, chị lại móc được với cơ
sở nội tuyến, đi tìm anh em mình vô phá cầu, lấy bót Cai Châu. Thấy chị lạ, anh em trên đó
không tin, chị đưa tấm hình Bác Hồ ra. Đồng chí chỉ huy nhìn út từ đầu đến chân. út nghèo thật,
quần phèn, đầu không nón. Đồng chí đó cầm tấm hình Bác Hồ lâu lắm, rồi hỏi:
- Chị nói thiệt chớ?
út gật, đôi mắt sáng long lanh. Cầu Cai Châu bị đốt, đồn giặc bị san bằng, út lại bồng con
trở về Tam Ngãi.
Tây thua to ở miền Bắc, Nam Bộ ùn ùn trỗi dậy. Du kích Tam Ngãi bung ra, giải phóng xã
nhà.
Đình chiến. Các anh bộ đội, đội nón lưới có gắn sao, kéo về đầy nhà út. Vợ chồng út tiễn
anh em đi tập kết, ra tận ngã ba Chà Bang. Có bao nhiêu tiền, chị may đồ tặng anh em hết.
út chưa lường hết được những khó khăn của người ở lại, nhưng chị nghĩ: Trước mình đã
dám đánh nó thì bây giờ chẳng có gì đáng sợ nó.
Một buổi sáng, út mang khoai đi chợ bán. Thằng ấn, một thằng phản bội dắt lính tới bắt
anh Tịch. Được tin, chị bỏ khoai, bồng con, cũng chưa vội đi thăm chồng mà tìm ngay thằng ấn,
chửi vào mặt nó:
- Mày ăn của tao còn dính kẽ răng mà đã vội quẹt mỏ dắt lính bắt chồng tao!
Bà con kéo tới. Thằng ấn cao lớn, mặt tái, đứng chết trân giữa lộ. Đôi mắt út dữ quá.
Chị lại bồng con vào dinh quận. Qua mả chú Chín, chị vái:
- Chú Chín, anh em mình đi tập kết vắng, nhưng còn chú, chú phù hộ cho vợ chồng con.
Tới trước dinh quận, chị la:
- Thằng ấn khai chồng tôi làm công an xung phong giết quận Hùm. Nhưng giết quận Hùm
hỏi có gì là sai mà mấy ông bắt?
Bà con kéo tới thật đông. Thằng quận mới đến nhậm chức, phải ra. út lại la:
- Quận Hùm là quân giết người, cả hai dãy phố chợ đều biết. Bây giờ nó còn sống nhăn ở
Sài Gòn. Sao mấy ông không bắt nó mà đi bắt chồng tôi?
Thằng quận nói như ngậm sỏi:
- Gần đây vợ chồng mày có nối với Cộng sản không?
- Vợ chồng tôi nối với cục đất, với cái gánh trên vai, Cộng sản làm sao ai biết đâu mà nối.
Chiều hôm đó, nó phải thả anh Tịch. út ngồi ngoài hè, bồng con, nhìn chồng ăn cơm, nghĩ:
Chưa hết khó đâu! Những cái gì sẽ xảy ra với vợ chồng út trong thời gian tới? út sẽ phải làm gì?
Chưa biết. út đã trải qua nhiều cực khổ. Bây giờ cực hơn nữa chị cũng không sợ. Hồi nào tới giờ
út có bao giờ được sướng? Nhưng bọn giặc mong út cúi đầu khuất phục như đời ở đợ ngày xưa
thì "xin lỗi", không được đâu! út nói với chồng:
- Còn cái lai[10] quần cũng đánh!
IV. Cách mạng ở trong lòng mình
Đang cho con bú. út bỗng nghe thấy tiếng gì như tiếng người ngáy trên nóc nhà. Trời đất
tối đen. Anh Tịch đi vắng. Đặt con xuống, chị cầm lấy cái đòn gánh. Đến gần cái giàn gác góc
nhà, tiếng ngáy rõ hơn. út chọc lên. Một con người cựa mình, rồi nhảy xuống.
- Anh Hai!
Anh Hai ra hiệu cho út im lặng. Đó là anh Hai Tấn, một cán bộ cách mạng, giặc lùng bắt cả
năm nay. út vui mừng, vừa la:
- Anh còn sống thiệt hả, anh Hai?
- Tôi còn đây.
Anh cho út biết anh đã theo anh Tịch về đây ở mấy bữa nay, nhưng còn bí mật, chưa dám
ra mắt út, út hỏi:
- Đằng mình vẫn còn phải không anh?
- Còn chớ đi đâu mà mất?
- Thiệt hả anh?
út muốn reo lên. Anh Hai phải ngăn lại. út giận anh Tịch lắm. Sáng, anh Tịch đi đặt câu về,
chị nói, muốn khóc:
- Tôi đánh lại địa chủ, bị nó lột trần truồng, chạy về gặp anh, giờ anh coi tôi thiếu hiểu hơn
anh hả?
Anh Tịch phải năn nỉ mãi. Cũng bởi út hay nói lô la thẳng ruột ngựa, nên anh ấy sợ. út biết
vậy.
Anh Tịch dừng lại buồng thật kín. Ngày ngày út đi chợ, nấu cơm bưng tới tận chỗ cho anh
Hai ăn. Bọn lính tới nhà rà rê, út mua rượu, gà xách sang nhà bên cạnh, dụ nó sang bên đó. Giặc
bố liên miên. Ruộng đất cách mạng cho, nó cướp lại hết. Vào nhà ai, chúng muốn đào đâu, cạy
đâu cũng phải chịu. Đêm đêm, chúng tự do bao xóm, bắt người, tra tấn. Chúng thảy[11] vào
nhà út tấm bảng sơn "Nhà tôi không chứa Việt cộng", bắt mua treo trong nhà. Anh Hai vẫn ở
đó. Đêm đêm, anh cùng anh Tịch đi công tác. út ở nhà nằm võng, đưa con, nghe ngóng, chờ cửa
với một nỗi mừng vô hạn, vì cách mạng của mình vẫn tiếp tục, hai vợ chồng út vẫn được làm
việc. Cái công việc mà nếu phải ngưng lại một lúc nào đó thì cả hai vợ chồng sẽ cảm thấy lẻ loi,
trơ trọi, buồn khổ biết chừng nào.
ít lâu sau, anh Hai đổi chỗ ở. Lâu lắm út không được tin gì về anh. Một buổi chiều, đang
lục cơm nguội cho con, út bỗng thấy bọn lính lôi anh Hai đi ngang. út sững sờ, cái muỗng trong
tay rơi xuống đất. Anh Hai bị nó trói chéo cánh, ngực bầm đen. Anh không nhìn út, nhưng lại
mỉm cười như chào. Nước mắt út trào ra. Anh Tịch đi vắng. Mình phải làm gì đây? Chị suy nghĩ
mà chết đứng trong ruột.
Tới đầu xóm, bọn lính kéo vào một nhà dân, nhậu. Chúng cười giỡn ầm ĩ. Ngoài đường chỉ
có anh Hai Tấn bị trói ngồi đó và một đám lính gác dở say. Bỏ con nằm nhà, út mò đến. Gần tới
nơi, út bỗng nghe thấy tiếng giặc hô hoán và bắn ầm ĩ. Anh Hai chạy được rồi! út mừng, trống
ngực đập tưng tưng. Giặc bắt cả xóm ra đốt đuốc, nổi trống mõ, bao giáp vòng, vạch từng kẽ lá
đi tìm. út nghĩ anh Hai chạy ra chỗ đó chứ không đâu cả. Chỗ đó, trước đây, út biết rồi.
Chạy một hơi lên xóm Đậu, vòng xuống Rạch Bờ, út mượn xuồng đâm sang ngang. Chị vừa
bơi vừa vái "ông Bổn" cho chị cứu được anh Hai, chị sẽ ăn chay mười ngày. Đằng kia, bọn lính
vẫn ra sức tìm kiếm, bắn đùng đùng.
Cặp xuồng vào bờ, út mò mẫm vạch tìm từ bụi cây này tới bụi khác. Trời tối đen. ạ rô, cóc
kèn cào trên mặt. út ghé sát mặt xuống đất vừa trườn vừa gọi:
- Anh Hai! Anh Hai! Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Không thấy tiếng trả lời. út trườn vào trong:
- Vợ thằng Tịch đây! Anh Hai! Anh ở đâu?
Tiếng gọi nhẹ như hơi thở, nhưng lại mang theo một sức sống tha thiết, mãnh liệt dâng lên
trên bờ sông lạnh lẽo, khuya khoắt. Súng giặc nổ càng gần, út lại gọi, giọng nghẹn lại:
- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:
- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...
Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một mảnh vải. út lột khăn đưa
cho anh choàng. Thương anh quá, út đứng chết trân.
út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ. Nhiều việc đang chờ anh dưới
đó. Lúc tạm biệt anh dặn út một câu:
- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.
Cũng là câu anh dặn cả bà con Tam Ngãi. Hửng sáng về đến vàm, út vẫn còn nghiệm câu
nói đó. Câu nói như có phép làm cho anh Hai đã đi xa mà vẫn thấy như gần.
V. Đã lớn khôn hơn
út sanh đứa con thứ hai. Như mọi người đàn bà Tam Ngãi khác, chị nuôi con, thương
chồng, làm rẫy mướn, hàng ngày phải xấn xả chống lại những cái gì đe dọa, chết chóc do giặc
phủ lên xóm mình nhà mình. Trong tiếng ru con, trong những lúc nhìn ra sông, người đàn bà
nghèo nào cũng đều có ý mong mỏi, chờ đợi, không nói với ai, nhưng lại như nói với tất cả, là
thời thế này nhất định phải thay đổi, phải khác đi. Rồi tự nhiên, người ta bắt nhớ đến hồi chín
năm. Lòng người lại sôi lên, có một sự khuấy động nào đó mà những người đàn bà thùy mị
nhất, ít nói nhất cũng không thể ngồi yên được.
út treo thang thuốc ở đầu giường, nói với chồng:
- Bữa nay chúng nó bắt anh đi làm khu trù mật, anh cứ vận vào thang thuốc này mà làm
tới cho tôi.
Thằng đại diện tới. út nhai cơm phun cùng nhà. Hai đứa nhỏ bị mẹ ngắt, khóc om sòm.
Anh Tịch vin vào cảnh vợ bệnh, con thơ, không đi. Cả xóm đều làm theo út, không ai đi.
Thằng đại diện bắt cả xóm phải hầm[12] gạch, chở đi khu. Hầm xong, út nói với nó:
- Cầu xóm mới bắc, chưa có mang cá. Ba cái gạch nầy chở đi khu thì hai cái mang cá nầy
để cho ai? Sẵn gạch đây ta trám vào, cầu bắc xong, ông có việc quan ông đi một hơi từ Bà Mi về
Cây Sanh cho nó khỏe, khỏi xuống xe.
Thằng đại diện ra ngắm nghía một hồi, rồi gật. Đàn ông khỏi phải chở gạch đi khu, bà con
trong xóm được lợi cây cầu.
Từng chút một, út giữ chặt lòng mình với cách mạng như vậy. Năm đó, 1959, Tam Ngãi
nghèo lắm, đất đai chui dần vào tay những bọn như Hàm Giỏi. Giặc rêu rao chúng đã bắt được
người này, giết được người kia. Tam Ngãi đói. Khoai tháng bảy cũng không đủ ăn. Nhà không
còn hột gạo. út bồng con theo chồng xuống Kế Sách làm mắm.
Một hôm anh Tám Táo, người mới vượt ngục ra, công tác ở Kế Sách đến nhà út chơi, than:
- Mình binh vận được sáu thùng đạn, nó đã mang ra ngoài rào bót rồi mà không sao vô lấy
được.
út vừa cho con ăn, vừa nói:
- Tôi lấy cho!
Chị mượn lưỡi hái, bơi xuồng đến bót, kêu:
- Ông xếp ơi, cho tôi cắt cỏ nghe!
Cắt cỏ thì sạch bót, nó cho ngay. út men theo rào. Mấy thằng lính ghẹo: "On Sro-lanh
boòng-tê? "[13] rồi cười rộ lên. út trả lời: "Tê"[14] nhưng mắt út vẫn không rời hàng rào.
Vào tới đây, út mới thấy gay go. Lấy đạn ra, bị lộ, nó cũng bắn. Gặp bọn lính phản vận, mình vô
lấy, nó cũng bắn. Nhưng phải lấy. Đằng mình sắp nổi dậy. Một thùng đạn lấy được lúc này là cả
tỉnh được nhờ. Ngồi cắt cỏ từ sáng tới trưa, chịu cho bọn lính chọc ghẹo, út mới tìm ra dấu vết.
Lần lượt, cả sáu thùng đạn được út ôm lẫn với cỏ, xếp xuống xuồng, chở về.
Từ giã Kế Sách, út cùng chồng trở về Tam Ngãi với một xuồng lỉnh kỉnh gạo, mắm, đồ làm
cá và tất cả những gì thu vén được của một người đàn bà tần tảo. Thêm vào đó, một đứa con
mới ra đời. Nhưng trên hết vẫn là chút việc cách mạng mà út vừa làm được trong lúc đi làm ăn
xa. Giờ đây, trên đường về, sự sung sướng đó càng trở nên náo nức hơn vì út được tin quê nhà
đã bắt đầu đồng khởi.
Về tới nhà, anh Tịch nhào đi du kích. út lại đi trinh sát, lại leo lên ngọn dừa, giống như hồi
xưa. Chỉ khác là bây giờ nhìn được xa hơn, chắc hơn. Trận Bạch Chiếc, út ra dấu cho các anh
diệt cái ghe thằng cảnh sát, giết năm thằng, lấy súng. Rồi trận Vườn Dơi. (Đó là cái vườn đầy
dơi quạ của nhà tổng Lâm). Sáng hôm ấy, út đi chợ, bỗng thấy giặc từ ba mặt đổ vô, đếm được
ba trăm thằng. út chạy vô nhà dân, mượn xe đạp phóng về. Chỉ kịp vứt cái xe ở cửa chùa, út chỉ
hướng giặc sẽ đi và đề nghị anh em mình đón đánh. Trận đó, mình đánh từ sáng tới chiều. Mỗi
lần cái cù ngoéo của thằng chỉ huy giặc huơ lên, út lại thấy bọn lính bò lên như vịt xiêm. Đến lúc
bị mình bắn chết, nó cũng giãy lên như vịt xiêm bị cắt cổ vậy. Mấy lúc út nhảy lên, mấy lần các
anh nắm giò lôi lại. Có một anh bị thương buông cây trung liên, út chạy lên, chụp lấy súng.
Đánh xong, út quay trở lại thăm dò. Tất cả có chín chục thằng vừa chết vừa bị thương
nằm ngoài đồng. Lần đầu tiên, út thấy giặc chết nhiều như vậy. Đáng kiếp những ngày nó muốn
bắn ai thì bắn, bỏ tù ai thì bỏ. út nhận xét rằng đằng mình đã nổi dậy tựa như hồi đánh Tây,
nhưng bây giờ mình khôn hơn, bản thân út cũng đã trở thành người mẹ ba con rồi còn gì!
VI. "Nghe đây! Loa báo đầu giồng: đàn bà đoạt bót, tay không
mới tài!"
Đó là hai câu thơ ông Sáu Hò đặt cho tổ gọi loa của ấp để mở đầu một bản tin. Nguyên do
như thế này:
ạng Chín Đà, cán bộ Mặt trận, nói với út:
- Thím có lời lẽ, đi phụ với bà con đấu tranh.
Mười lần đi, mười lần út bị đánh. Một lần, thằng quận hỏi:
- Con nào đầu đảng?
Thằng lính đằng sau trả lời thằng quận bằng cách thúc mũi súng vào lưng út. Lần khác,
thằng quận hỏi:
- Chồng mày đâu?
út trả lời:
- Đi lính trên Sa Đéc.
- Sao không đi theo chồng làm vợ lính chân giày chân dép?
- Vợ cũng không bằng mẹ. Mẹ của lính cũng bị quan bắt ngồi phơi nắng ngoài kia.
út chỉ cho thằng lính Độ thấy bà mẹ nó đang ngồi ngoài sân.
Thằng quận đánh út một trận bằng roi mây. Lúc đó, chị đang có thai đứa con thứ tư. Về, út
nói với ông Chín Đà:
- Tôi bị đòn từ tám tuổi. Tôi không sợ đòn. Nếu không nhớ đường lối, chắc tôi đánh nó rồi.
ạng Chín chuyển sang giao cho út thăm dò bót Tám Thế. Bót Tám Thế đóng ở giữa giáp
ranh hai xã Tam Ngãi, An Phú Tân, khống chế cả hai bên, hỗ trợ cho bọn địa chủ Cầu Kè lấy
thuế, thu tô.
Chiều chiều út rủ Phượng, Œn, hai cô gái đẹp nhất xóm ra rà rê trong đám dưa cạnh bót.
Cũng tính thả giỡn sóng[15] với nó, nếu được thì giật súng.
Bọn lính thằng nào cũng giống thằng nào, thấy gái là kéo ra. út về báo với ông Chín:
- Đám nầy "háo chua" lắm, bót nầy lấy được.
út về nói với chồng:
- Tôi nhứt định lấy cái bót này, nhưng lỡ phải đem thân ra cho nó giỡn hớt, giày vò, anh
chịu không?
Anh Tịch nói:
- Em làm sao được cứ làm.
Anh chân tình như vậy. út thấy thương chồng vô cùng. Mình hy sinh thân mình được rồi,
nhưng anh ấy là chồng... Làm sao xẻ được nỗi đau lòng ấy của anh để út xin gánh chịu một
mình. út nhớ đến chú Chín Luông, thầm cám ơn chú đã kiếm cho mình một người chồng thật
tốt.
Đêm ấy, út hỏi chồng lần nữa. Anh nhìn út, cười. Nụ cười hiền hậu và ánh mắt đầy tình
thương như mỗi lần anh trở về sau một trận đánh. út yên tâm đi công tác. Chiều nào chị cũng
rủ Phượng, Œn ra đám dưa, bỏ giùm hột. Cô Phượng, gốc người Khơ-me, trắng trẻo, cô gái
không mở
miệng thì thôi, mở miệng là cười. Cô Œn có duyên ngầm, nói chuyện rất khéo. Cả hai cô đều
gan, không biết sợ là gì. út phụ trách Tám Thế, lớn tuổi, xếp bót. Hai cô gái phụ trách hai thằng
lính. Chiều về, ba người lại báo cáo với ông Chín. ạng Chín gom ý lại, ngồi suy tính, rồi hướng
dẫn ngày mai nên nói gì.
Cả mười hai thằng giặc đều hám hơi út và hai cô gái. Dưa bỏ hột xong, hết cớ để ra, ba
người xoay ra cắt cỏ quanh đám dưa. Cắt xong, mang xuống sông để bỏ, nhà có bò đâu mà cho
ăn. Lúc cả ba người sắp ngả theo mình thì dưa lên cao. Chủ đám dưa không cho ba người vào,
họ nói dưa gặp hơi đàn bà, thúi gốc. út nói với Tám Thế:
- Chừng nào tiện, mấy anh bắn ba phát súng báo hiệu kêu mấy em vô bót chơi nghe.
Tám Thế làm thật. Ngày nào cũng đuổi vợ đi chợ. Ba người vào được bót.
Công việc đang chạy, đùng một cái, má cô Phượng không cho đi. Bà không thích út đến rủ
con bà đi làm những điều "kỳ cục". út đến năn nỉ:
- Nhà tôi bốn đời thù giặc, thím không tin tôi sao?
út phải chạy đi viện cả ông Chín Đà tới nói.
Cuộc tấn công lại tiếp tục.
Nhưng Tám Thế vẫn không chịu giao bót cho ta. út nghĩ: "Tao đã nói lấy bót là lấy, đâu có
chịu thua mày!" út cùng với hai cô về bàn với ông Chín, tổ chức một bữa nhậu ở một nhà cạnh
bót.
Tám Thế có tật nhậu vô nửa ly là Long Xuyên y nói ra Châu Đốc. Tiệc nửa chừng, út nói:
- Anh Tám à, người ta nói làm lớn láu ăn, đúng à. Sao anh không kêu anh em ra nhậu?
Y kêu hết bọn lính ra, chỉ chừa một thằng gác kho súng ở chuồng cu. Ba anh du kích cải
trang đi ngang. út giả đò kêu vô luôn. Bọn lính bắt đầu say. Đã đến lúc phải đánh rồi mà ruột út
rối như tơ, không biết làm sao kêu được thằng gác chuồng cu xuống. Để cho Phượng, Œn kềm
chúng, út lẻn lại bót, kêu:
- Anh gác à, lấy thêm rượu cho ông sếp.
Nó không chịu xuống. út lại nói:
- Anh không xuống thì chỉ chỗ tôi lấy cho.
- Chị không lấy được.
- Sao không? Bót này, trên Tám Thế, dưới tôi, chớ còn ai nữa.
út nghĩ: "Tao có hy sinh thì bốn con tao nhân dân nuôi chớ không lo gì!" Thằng gác bị
chọc giận, xuống. út giả lả, vừa cười vừa tuột cây súng trên vai nó:
- Anh đưa tôi gác cho, vô lấy rượu đi...
Thằng lính giữ lại. út giả đò lôi ra, rồi bất thần giằng mạnh một cái, cây súng gọn trong
tay.
- Đầu hàng thì sống! Giơ tay lên.
Thằng lính ngơ ngác, mặt tái xám:
- Thiệt sao chị út?
- Không giơ tay tao bắn!
Thằng lính giơ vội tay lên như bị phỏng. út bắt nó đứng ra một góc rào để cho nó không
rượt được mình rồi thót lên chuồng cu, ra hiệu cho anh em mình phục bên ngoài vô lấy bót.
Bọn lính tay không, nhậu ở đằng kia, ta chỉ việc bao lại, chong súng vào bụng trói dắt về. Bót
Tám Thế bị diệt gọn không nổ một phát súng. Dọc đường về, ba tên lính nhìn ba "người yêu"
của mình, mặt mũi như chó ăn vụng bột.
Tám Thế có hai đời vợ. Vợ lớn của y đã bỏ đi lấy lão từ đốt đèn cầy cho bàn thờ "chúa" ở bót
nhà thờ Bà Mi. Vợ sau này mới lấy, y để sống chung trong bót. Mụ này đã mấy lần ghen đến tắc
cổ với út. Đánh xong, út kêu cả hai vợ chồng lại nói:
- Tôi vì dân giết giặc đã xong, nhiệm vụ tôi làm tròn, giờ chồng chị tôi trả chị.
Vợ Tám Thế đỏ mặt, líu ríu:
- Dạ, em biết rồi...
út nói vậy để cho mụ yên tâm thôi chớ mụ hiểu sao nổi câu "vì dân giết giặc".
VII. Có ai đánh giặc mà chờ sanh xong mới đánh?
Con Bé, con gái lớn của út, đã tám tuổi. Nó ốm nhách, mà nhanh, cha mẹ đi công tác, ba
em ở nhà nó bao[16] hết. Nó chạy đầu này ru đứa nhỏ ngủ, chạy đầu kia lôi đứa lớn đi tắm.
Nhà hết gạo, nó dắt em sang ăn cơm bên hàng xóm. Những việc gì nó không làm nổi: sửa lại
mái nhà dột, hoặc bện lại cặp dây võng, người mẹ về làm cho nó. Mỗi buổi mẹ về, nó lại biết
thêm vài việc.
út có một đàn con như vậy. Bây giờ chị lại đang có thai.
Mỗi lần cầm lấy súng, lòng út lại chộn rộn như người làm không hết việc. Bót Tám Thế
vừa bị diệt, giặc lại quay sang đóng bót mới ở ấp Ba. Mặt mũi chúng chườn ườn ra đó, không
đánh chúng không yên. Chính vì vậy nên út về nhà một lát, lại muốn đi. Ru con được vài câu, chị
lại trao nó cho con Bé. Chiều hôm trước, nhân dân cho út hay bọn lính bót ấp Ba mới lãnh
lương, tám thằng đi chơi chợ Cầu Kè, chiều nay nó sẽ về. út báo cáo với ông Chín. ạng Chín lựa
mấy anh du kích thiệt ngon, cùng út ra đón đánh. Sau khi đạp xe đi rảo nắm tình hình, út quay
về dặn anh em:
- Đánh xong bọn này khoan rút. Chờ bọn hiến binh xuống tiếp viện, đánh nữa. Nó còn năm
thằng để tiếp viện thôi.
Nổ súng, út cũng ngồi đó, mặc dù tay không. Thấy tám thằng giặc còn bắn hoài, út nóng
lắm. Chợt anh bắn trung liên tự tạo bị thương tay. út vụt lên chụp súng. Súng đụng hàm sanh
làm út muốn đứt lưỡi. út hô lớn:
- Hỏa lực xiên hông đâu, tạt lên!
út bắn một phát, một thằng chết nhảy dựng, út lại la:
- Nó "lâm thôn"[17] rồi! Đánh tới, anh em ơi!
Tất cả đều la rần rần. Bọn giặc đâm hoảng. Chúng tạt xuống mé vườn. Anh em nằm đó lại
nã vào hông chúng, gục thêm ba thằng nữa. Còn một thằng toan chọi lựu đạn. út nhảy lên thọc
cây trung liên tự do vào ngực nó. Nó giơ tay. Thực ra cây súng của út bị kẹt từ nãy rồi.
Thu súng xong, út vừa giở trầu ra ăn, thì anh em nghe lầm lệnh ai, rút mất. Một lát, năm
thằng hiến binh xuống lấy xác. út tay không, ngồi trong bụi, dòm ra, tức muốn nổ...
 





